Bản dịch
MIL 7.6.3 — CÂU HỎI VỀ TÍNH CHẤT CỦA LOÀI SẾU CÁI
3. Peṇāhikaṅgapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài sếu cái nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài sếu cái không nuôi dưỡng các chim con vì sự ghen ghét với chồng của mình (sếu đực). Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên ghen ghét các phiền não đã sanh lên ở tâm của mình, nên bỏ chúng vào cái hốc của sự thu thúc đúng đắn bằng sự thiết lập niệm, nên tu tập niệm đặt ở thân tại cánh cửa của ý (ý môn). Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài sếu cái nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài sếu cái sau khi đi lại vào ban ngày ở khu vực kiếm ăn trong rừng, buổi chiều đi đến với bầy chim nhằm sự bảo vệ cho bản thân. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên lui tới nơi thanh vắng mỗi một mình nhằm sự giải thoát hoàn toàn khỏi các sự trói buộc, khi không còn thích thú nơi ấy thì nên trở về hội chúng nhằm hộ trì nỗi sợ hãi vì sự chê trách, và nên sống với sự bảo vệ của hội chúng. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài sếu cái nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được Phạm Thiên Sahampati nói đến trong sự hiện diện của đức Thế Tôn:
‘Nên lui tới các chỗ trú ngụ xa vắng.
Nên thực hành việc thoát khỏi các sự trói buộc.
Nếu không đạt được sự thích thú tại nơi ấy,
thì nên sống ở hội chúng, bản thân được bảo vệ, có niệm.’”
Câu hỏi về tính chất của loài sếu cái là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. ‘‘Bhante nāgasena, ‘peṇāhikāya dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṃ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, peṇāhikā sakapatimhi usūyāya chāpake na posayati, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sakamane † kilese uppanne usūyāyitabbaṃ, satipaṭṭhānena sammāsaṃvarasusire pakkhipitvā manodvāre kāyagatāsati bhāvetabbā. Idaṃ, mahārāja, peṇāhikāya paṭhamaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ.
3. “Venerable Nāgasena, you say that ‘two qualities of a female quail should be adopted.’ What are those two qualities that should be adopted?” “Just as, great king, a female quail, out of jealousy towards her own mate, does not nurture her young, so too, great king, a yogi devoted to spiritual practice should feel aversion towards the defilements that arise in his own mind. Having placed them into the aperture of right restraint by means of the foundations of mindfulness, mindfulness directed to the body should be developed at the mind-door. This, great king, is the first quality of a female quail that should be adopted.
3. “Bạch đại đức Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Nên tiếp thu hai đặc điểm của chim peṇāhikā.’ Hai đặc điểm nào cần được tiếp thu?” “Tâu đại vương, giống như chim peṇāhikā mái, do lòng ganh tỵ với con trống của mình, đã không nuôi nấng các con non, cũng giống như thế ấy, tâu đại vương, vị hành giả tu tập thiền định, khi phiền não sanh khởi trong tâm của mình, cần phải có lòng ganh tỵ (với phiền não ấy), sau khi đã đặt nó vào trong cái hang là sự phòng hộ chân chánh bằng niệm xứ, cần phải tu tập niệm thân nơi ý môn. Tâu đại vương, đây là đặc điểm thứ nhất của chim peṇāhikā cần được tiếp thu.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, peṇāhikā pavane divasaṃ gocaraṃ caritvā sāyaṃ pakkhigaṇaṃ upeti attano guttiyā, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena ekakena pavivekaṃ sevitabbaṃ saṃyojanaparimuttiyā, tatra ratiṃ alabhamānena upavādabhayaparirakkhaṇāya saṅghaṃ osaritvā saṅgharakkhitena vasitabbaṃ. Idaṃ, mahārāja, peṇāhikāya dutiyaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, brahmunā sahampatinā bhagavato santike –
Furthermore, great king, just as a female quail, having wandered the forest for food during the day, approaches the flock of birds in the evening for her own protection, so too, great king, should a yogi devoted to spiritual practice resort to solitude for the sake of liberation from the fetters. But if he does not find delight in that, then for the sake of protection from the fear of blame, he should go to the Saṅgha and dwell under the Saṅgha's protection. This, great king, is the second quality of the female quail to be adopted. This was also spoken, great king, by Brahmā Sahampati in the presence of the Blessed One:
“Lại nữa, tâu đại vương, giống như chim peṇāhikā, sau khi đi tìm mồi trong rừng suốt cả ngày, vào buổi chiều nó tìm đến đàn chim để được bảo vệ, cũng giống như thế ấy, tâu đại vương, vị hành giả tu tập thiền định cần phải một mình thực hành đời sống viễn ly để giải thoát khỏi các kiết sử. Nếu không tìm thấy sự hoan hỷ ở nơi ấy, để bảo vệ khỏi sự nguy hiểm của lời khiển trách, vị ấy nên đi đến Tăng chúng và sống dưới sự bảo vệ của Tăng chúng. Tâu đại vương, đây là đặc điểm thứ hai của chim peṇāhikā cần được tiếp thu. Tâu đại vương, điều này đã được Phạm thiên Sahampati nói đến trước sự hiện diện của đức Thế Tôn –”
‘‘‘Sevetha pantāni senāsanāni, careyya saṃyojanavippamokkhā;
Sace ratiṃ nādhigaccheyya tattha, saṅghe vase rakkhitatto satīmā’’’ti.
‘One should resort to secluded lodging places, and practice for release from the fetters; if one finds no delight there, one should dwell in the Saṅgha, self-protected and mindful.’
“‘Nên lui về các trú xứ xa vắng, nên thực hành để giải thoát khỏi các kiết sử; nếu không tìm thấy sự hoan hỷ ở nơi ấy, nên sống trong Tăng chúng, có chánh niệm, tự mình được bảo vệ.’”
Peṇāhikaṅgapañho tatiyo.
Here ends the Third Question on the Qualities of the Quail.
Câu hỏi về các đặc điểm của chim peṇāhikā thứ ba.