Bản dịch
MIL 7.6.2 — CÂU HỎI VỀ TÍNH CHẤT CỦA LOÀI NGỖNG ĐỎ
2. Cakkavākaṅgapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ba tính chất của loài ngỗng đỏ nên được hành trì,’ ba tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài ngỗng đỏ cho đến lúc chấm dứt mạng sống không lìa bỏ bạn tình. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập cho đến lúc chấm dứt mạng sống không nên lìa bỏ sự tác ý đúng đường lối. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài ngỗng đỏ có vật thực là rong rêu ở nước, và đạt được sự vừa lòng với điều ấy. Và nhờ vào sự vừa lòng ấy nó không suy giảm về sức lực và sắc đẹp. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thể hiện sự hài lòng với lợi lộc có được. Tâu đại vương, được hài lòng với lợi lộc có được, vị hành giả thiết tha tu tập không suy giảm về giới, không suy giảm về định, không suy giảm về tuệ, không suy giảm về giải thoát, không suy giảm sự nhận thức về giải thoát, không suy giảm tất cả các thiện pháp. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài ngỗng đỏ không hãm hại các sinh mạng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập có gậy đã được bỏ xuống, có dao đã được bỏ xuống, có liêm sỉ, đã đạt được lòng trắc ẩn, có lòng thương tưởng đến sự lợi ích của tất cả các chủng loại có sinh mạng. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Bổn Sanh Cakkavāka:
‘Người nào không giết hại, không bảo giết hại, không thống trị, không bảo thống trị, do sự không hãm hại đối với tất cả chúng sanh, người ấy không có oán thù với bất cứ ai.’”
Câu hỏi về tính chất của loài ngỗng đỏ là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. ‘‘Bhante nāgasena, ‘cakkavākassa tīṇi aṅgāni gahetabbānī’ti yaṃ vadesi, katamāni tāni tīṇi aṅgāni gahetabbānīti’’? ‘‘Yathā, mahārāja, cakkavāko yāva jīvitapariyādānā dutiyikaṃ na vijahati, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena yāva jīvitapariyādānā yoniso manasikāro na vijahitabbo. Idaṃ, mahārāja, cakkavākassa paṭhamaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ.
“Venerable Nāgasena, you said, ‘three qualities of the ruddy goose should be adopted.’ What are those three qualities that should be adopted?” “Just as, great king, the ruddy goose does not abandon its mate until the end of its life, so too, great king, a yogi engaged in the practice should not abandon wise attention until the end of his life. This, great king, is the first quality of the ruddy goose that should be adopted.”
2. “Bạch ngài Nāgasena, điều ngài nói rằng: ‘Cần phải thực hành theo ba đặc điểm của chim cakkavāka,’ ba đặc điểm cần được thực hành theo ấy là gì?” “Tâu Đại vương, ví như con chim cakkavāka cho đến khi mạng sống kết thúc vẫn không từ bỏ bạn đời. Tâu Đại vương, cũng tương tự y như thế, vị hành giả tu tập cho đến khi mạng sống kết thúc không nên từ bỏ sự tác ý như lý. Tâu Đại vương, đây là đặc điểm thứ nhất của chim cakkavāka cần được thực hành theo.
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, cakkavāko sevālapaṇakabhakkho, tena ca santuṭṭhiṃ āpajjati, tāya ca santuṭṭhiyā balena ca vaṇṇena ca na parihāyati, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena yathālābhasantoso karaṇīyo, yathālābhasantuṭṭho kho, mahārāja, yogī yogāvacaro na parihāyati sīlena, na parihāyati samādhinā, na parihāyati paññāya, na parihāyati vimuttiyā, na parihāyati vimuttiñāṇadassanena, na parihāyati sabbehi kusalehi dhammehi. Idaṃ, mahārāja, cakkavākassa dutiyaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ.
Furthermore, great king, the ruddy goose feeds on aquatic plants and moss, and finds contentment in that. Through this contentment, it does not decline in strength or complexion. In the same way, great king, a yogi devoted to spiritual practice should cultivate contentment with whatever he receives. Being content with what he receives, great king, the yogi devoted to spiritual practice does not decline in morality, does not decline in concentration, does not decline in wisdom, does not decline in liberation, does not decline in the knowledge and vision of liberation, and does not decline in any wholesome qualities. This, great king, is the second quality of the ruddy goose that should be adopted.
“Lại nữa, tâu Đại vương, con chim cakkavāka ăn rêu và rong, và nó đạt được sự biết đủ với các thứ ấy, và do sự biết đủ ấy nó không bị suy giảm về sức mạnh và sắc đẹp. Tâu Đại vương, cũng tương tự y như thế, vị hành giả tu tập cần phải có sự biết đủ với những gì nhận được. Tâu Đại vương, vị hành giả tu tập biết đủ với những gì nhận được thì không bị suy giảm về giới, không bị suy giảm về định, không bị suy giảm về tuệ, không bị suy giảm về giải thoát, không bị suy giảm về giải thoát tri kiến, không bị suy giảm về tất cả các thiện pháp. Tâu Đại vương, đây là đặc điểm thứ nhì của chim cakkavāka cần được thực hành theo.
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, cakkavāko pāṇe na viheṭhayati, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena nihitadaṇḍena nihitasatthena lajjinā dayāpannena sabbapāṇabhūtahitānukampinā bhavitabbaṃ. Idaṃ, mahārāja, cakkavākassa tatiyaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ. Bhāsatampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena cakkavākajātake –
Furthermore, great king, the ruddy goose does not harm living beings. In the same way, great king, a yogi devoted to spiritual practice should have laid down the rod, laid down the weapon, be conscientious, compassionate, and sympathetic to the welfare of all living beings. This, great king, is the third quality of the ruddy goose to be adopted. This, great king, was also spoken by the Blessed One, the god beyond gods, in the Cakkavāka Jātaka:
“Lại nữa, tâu đại vương, giống như chim cakkavāka không làm hại các chúng sanh, cũng giống như thế ấy, tâu đại vương, vị hành giả tu tập thiền định cần phải là người đã đặt xuống cây gậy, đã đặt xuống khí giới, có lòng tàm, có lòng bi mẫn, có lòng thương tưởng đến sự lợi ích của tất cả chúng sanh hữu tình. Tâu đại vương, đây là đặc điểm thứ ba của chim cakkavāka cần được tiếp thu. Tâu đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn, bậc Thiên Nhân Sư, nói đến ở trong Bổn Sanh Cakkavāka –”
‘‘‘Yo na hanti na ghāteti, na jināti na jāpaye;
Mettaṃso † sabbabhūtesu, veraṃ tassa na kenacī’’’ti.
‘He who neither kills nor causes to kill, neither conquers nor causes to conquer, possessing loving-kindness towards all beings, has enmity with none.’
“‘Vị nào không giết, không bảo giết, không chinh phục, không bảo chinh phục; vị ấy có lòng từ đối với tất cả chúng sanh, vị ấy không có oan trái với bất cứ một ai.’”
Cakkavākaṅgapañho dutiyo.
Here ends the Second Question on the Qualities of the Ruddy Goose.
Câu hỏi về các đặc điểm của chim cakkavāka thứ nhì.