Bản dịch
MIL 7.2.5 — CÂU HỎI VỀ TÍNH CHẤT CỦA LOÀI BEO ĐỰC
5. Dīpikaṅgapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài beo đực nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài beo đực ẩn núp nương vào lùm cỏ um tùm hoặc khu rừng um tùm hoặc đồi núi um tùm rồi chộp lấy các con thú rừng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên tới lui nơi vắng vẻ là cánh rừng rậm, gốc cây, sườn núi, thung lũng, hang núi, bãi tha ma, khu rừng thưa, đồng trống, đống rơm, nơi ít âm thanh, ít tiếng ồn, có bầu không gian vắng vẻ, tách biệt với dân chúng, thích hợp cho việc thiền tịnh. Tâu đại vương, bởi vì trong khi tới lui nơi vằng vẻ, vị hành giả thiết tha tu tập chẳng bao lâu sau đạt được bản thể năng lực về sáu Thắng Trí. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài beo đực nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được các vị trưởng lão kết tập Giáo Pháp nói đến:
‘Cũng giống như con beo đực ẩn núp rồi chộp lấy các con thú rừng. Y như thế ấy người con trai này của đức Phật, vị có sự tu tập đã được gắn bó, vị hành minh sát, đi vào khu rừng rồi nắm lấy quả vị tối thượng.’
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài beo đực sau khi giết chết bất cứ con thú nào, nếu con thú rơi bị rơi xuống ở sườn bên trái thì nó không ăn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập không nên thọ dụng vật thực đã được tạo ra do việc cho tre, hoặc do việc cho lá, hoặc do việc cho bông hoa, hoặc do việc cho trái cây, hoặc do việc nhường chỗ tắm, hoặc do việc cho đất sét, hoặc do việc cho bột tắm, hoặc do việc cho tăm xỉa răng, hoặc do việc cho nước súc miệng, hoặc do việc nịnh hót, hoặc do việc tâng bốc, hoặc do việc chiều chuộng, hoặc do việc chuyển tin bằng đôi chân, hoặc do công việc thầy thuốc, hoặc do công việc đầy tớ, hoặc do việc đi theo sự sai bảo, hoặc do thức ăn đổi thức ăn, hoặc do phát sanh bởi quà cáp, hoặc nhờ vào khoa địa lý, hoặc nhờ vào khoa chiêm tinh, hoặc nhờ vào khoa bói tướng, hoặc bởi bất cứ sự nuôi mạng sai trái nào khác đã bị đức Phật quở trách, tợ như con beo đực không ăn con thú rơi bị rơi xuống ở sườn bên trái. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài beo đực nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Mật ong và cháo được phát sanh do việc lan truyền của sự biểu hiện bằng lời nói, nếu ăn vào thì tôi có thể bị chê trách về sự nuôi mạng của tôi.
Thậm chí, nếu nội tạng của tôi rơi ra lòng thòng ở bên ngoài, dầu cho đang từ bỏ mạng sống, tôi vẫn không làm đổ vỡ sự nuôi mạng (chân chánh).’”
Câu hỏi về tính chất của loài beo đực là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. ‘‘Bhante nāgasena, ‘dīpikassa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṃ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, dīpiko araññe tiṇagahanaṃ vā vanagahanaṃ vā pabbatagahanaṃ vā nissāya nilīyitvā mige gaṇhāti, evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena vivekaṃ sevitabbaṃ araññaṃ rukkhamūlaṃ pabbataṃ kandaraṃ giriguhaṃ susānaṃ vanapatthaṃ abbhokāsaṃ palālapuñjaṃ appasaddaṃ appanigghosaṃ vijanavātaṃ manussarāhaseyyakaṃ paṭisallānasāruppaṃ; vivekaṃ sevamāno hi, mahārāja, yogī yogāvacaro nacirasseva chaḷabhiññāsu ca vasibhāvaṃ pāpuṇāti. Idaṃ, mahārāja, dīpikassa paṭhamaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, therehi dhammasaṅgāhakehi –
5. “Venerable Nāgasena, you say that ‘two characteristics of a leopard should be adopted.’ What are these two characteristics that should be adopted?” “Just as, great king, a leopard, relying on a thicket of grass, a thicket of woods, or a mountain thicket, lies in wait and catches beasts; so too, great king, a yogi, a practitioner of yoga, should resort to a secluded lodging: a forest, the root of a tree, a mountain, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a jungle thicket, an open space, a heap of straw—a place with little sound and noise, secluded from people, suitable for withdrawal. For by resorting to seclusion, great king, a yogi, a practitioner of yoga, will before long attain mastery over the six higher knowledges. This, great king, is the first characteristic of a leopard that should be adopted. This has been said, great king, by the elders, the compilers of the Dhamma:
5. – Bạch Đại đức Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Nên thực hành theo hai đặc điểm của con báo đực,’ vậy hai đặc điểm nào là hai đặc điểm nên được thực hành theo? – Tâu Đại vương, cũng giống như con báo đực ở trong rừng, nương vào bụi cỏ rậm, lùm cây rậm, hay núi non hiểm trở để ẩn mình rồi bắt mồi. Tâu Đại vương, tương tự y như thế, vị hành giả tu tập thiền định nên tìm đến nơi độc cư: trong rừng, dưới gốc cây, trên núi, trong thung lũng, trong hang núi, nơi nghĩa địa, trong rừng sâu, ngoài trời, nơi đống rơm; là nơi ít tiếng động, ít ồn ào, vắng gió người, thích hợp cho việc riêng tư của con người, thích hợp cho sự ẩn dật. Tâu Đại vương, vị hành giả tu tập thiền định, khi sống ở nơi độc cư, chẳng bao lâu sẽ đạt đến sự thuần thục trong sáu loại thắng trí. Tâu Đại vương, đây là đặc điểm thứ nhất của con báo đực nên được thực hành theo. Tâu Đại vương, điều này cũng đã được các vị trưởng lão kết tập Pháp nói rằng:
‘‘‘Yathāpi dīpiko nāma, nilīyitvā gaṇhate † mige;
Tathevāyaṃ buddhaputto, yuttayogo vipassako;
Araññaṃ pavisitvāna, gaṇhāti phalamuttama’nti.
“‘Just as a leopard, lying in wait, catches beasts; so too this son of the Buddha, devoted to the practice, an insight meditator, having entered the forest, obtains the supreme fruit.’”
‘Cũng như con báo đực, ẩn mình để bắt các con mồi; Vị Phật tử này cũng thế, chuyên tâm tu tập thiền quán; Đi vào trong rừng sâu, và nắm bắt được quả vị tối thượng.’
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, dīpiko yaṃ kiñci pasuṃ vadhitvā vāmena passena patitaṃ na bhakkheti. Evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena veḷudānena vā pattadānena vā pupphadānena vā phaladānena vā sinānadānena vā mattikādānena vā cuṇṇadānena vā dantakaṭṭhadānena vā mukhodakadānena vā cātukamyatāya vā muggasupyatāya † vā pāribhaṭa † yatāya vā jaṅghapesanīyena vā vejjakammena vā dūtakammena vā pahiṇagamanena vā piṇḍapaṭipiṇḍena vā dānānuppadānena vā vatthuvijjāya vā nakkhattavijjāya vā aṅgavijjāya † vā aññataraññatarena vā buddhappaṭikuṭṭhena micchājīvena nipphāditaṃ bhojanaṃ na bhuñjitabbaṃ † vāmena passena patitaṃ pasuṃ viya dīpiko. Idaṃ, mahārāja, dīpikassa dutiyaṃ aṅgaṃ gahetabbaṃ. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā –
“Furthermore, great king, a leopard does not eat any beast it has killed that has fallen on its left side. So too, great king, a yogi, a practitioner of yoga, should not eat food that has been produced by any kind of wrong livelihood condemned by the Buddha, such as: giving bamboo, giving leaves, giving flowers, giving fruit, giving bathing soap, giving clay, giving powder, giving tooth-sticks, giving water for rinsing the mouth; or by flattery, hinting, acting as a nursemaid, running errands, practicing medicine, acting as a messenger, sending others on errands, exchanging one alms-gift for another, giving a gift in return for another; or by the science of sites, astrology, or the science of bodily marks—like the leopard and the beast that has fallen on its left side. This, great king, is the second characteristic of the leopard that should be adopted. This was spoken, great king, by the Elder Sāriputta, the General of the Dhamma:”
– Lại nữa, tâu Đại vương, con báo đực sau khi giết chết con mồi nào đó, nó sẽ không ăn nếu con mồi ấy ngã về phía bên trái. Tâu Đại vương, tương tự y như thế, vị hành giả tu tập thiền định không nên thọ dụng vật thực có được bằng tà mạng, là những điều bị Đức Phật quở trách, như là: do việc cho tre, cho lá, cho hoa, cho quả, cho xà phòng tắm, cho đất sét, cho bột thơm, cho tăm xỉa răng, cho nước rửa mặt; do việc tâng bốc; do lời nói kiểu ‘canh đậu’; do việc làm bảo mẫu; do việc chạy việc vặt; do việc làm y sĩ; do việc làm sứ giả; do việc đi đưa tin; do việc cho vật thực để nhận lại vật thực; do việc cho đi để nhận lại; do việc xem đất đai; do việc xem tinh tú; do việc xem tướng; hay do bất cứ cách nào khác. Vị ấy không nên thọ dụng vật thực có được bằng tà mạng, cũng như con báo đực không ăn con mồi ngã về phía bên trái. Tâu Đại vương, đây là đặc điểm thứ hai của con báo đực nên được thực hành theo. Tâu Đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng quân Chánh pháp, nói rằng:
‘‘‘Vacīviññattivipphārā, uppannaṃ madhupāyasaṃ;
Sace bhutto bhaveyyāhaṃ, sājīvo garahito mama.
“‘Through the diffusion of verbal hints, honeyed milk-rice was produced; if I were to eat it, my livelihood would be blameworthy.’
‘Nếu ta thọ dụng cháo sữa ngọt ngào, có được do sự gợi ý bằng lời nói, thì phương cách sinh nhai của ta thật đáng bị quở trách.
‘‘‘Yadipi me antaguṇaṃ, nikkhamitvā bahī care;
Neva bhindeyyamājīvaṃ, cajamānopi jīvita’’’nti.
“‘Even if my entrails, having come out, were to wander outside, I would not break my livelihood, even while giving up my life.’”
‘Dù cho ruột của ta có lòi ra ngoài, ta cũng sẽ không bao giờ phá hoại cách sinh nhai của mình, dẫu cho phải từ bỏ mạng sống.’
Dīpikaṅgapañho pañcamo.
The fifth question, on the characteristics of the leopard.
Câu hỏi về các đặc điểm của con báo đực, phần thứ năm.