Bản dịch
MIL 6.4.2 — CÂU HỎI VỀ PHÁP TỪ KHƯỚC
2. Dhutaṅgapañha
“Đức vua nhìn các vị tỳ khưu sống ở rừng đã được gắn bó với các hạnh từ khước, rồi nhìn lại những người tại gia đã trú ở quả vị Bất Lai.
Sau khi quan sát cả hai hạng ấy, có nỗi nghi hoặc lớn đã khởi lên: ‘Nếu người tại gia có thể giác ngộ Giáo Pháp, thì pháp từ khước là không có kết quả.
Vậy ta nên hỏi vị thuyết giảng hạng nhất, được thông thạo về Tam Tạng, có sự nghiền nát học thuyết của các diễn giả khác, vị ấy sẽ tiêu diệt nỗi nghi ngờ của ta.”
BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, có người tại gia nào, sống ở nhà, trong khi sinh sống có sự thọ hưởng các dục, có việc nằm chen chúc với vợ và con, trong khi hưởng thụ vải Kāsi và trầm hương, trong khi đeo tràng hoa, vật thơm, và vật thoa, trong khi ưng thuận vàng và bạc, buộc búi tóc có trang điểm ngọc ma-ni, ngọc trai, và vàng, mà người ấy đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, không?”
“Tâu đại vương, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba bốn năm trăm, không phải một ngàn, không phải một trăm koṭi, không phải một ngàn koṭi, không phải một trăm ngàn koṭi. Tâu đại vương, hãy bỏ qua sự lãnh hội của mười, của hai mươi, của một trăm, của một ngàn (người tại gia), tôi có thể cho đại vương câu trả lời bằng phương thức nào?”
“Chính ngài hãy nói về điều ấy.”
“Tâu đại vương, như thế thì tôi sẽ nói với đại vương về một trăm, hay một ngàn, hay một trăm ngàn, hay một koṭi, hay một trăm koṭi, hay một ngàn koṭi, hay một trăm ngàn koṭi. Bất cứ lời giảng nào về Phật Pháp gồm chín thể loại được liên quan đến sự thực hành hạnh giảm thiểu và các yếu tố cao quý về hạnh từ khước, tất cả các lời giảng ấy sẽ tập trung lại ở đây.
Tâu đại vương, giống như nước đã được đổ mưa ở các phần đất lõm xuống hoặc nhô lên, bằng phẳng hoặc gồ ghề, đất liền hay không phải đất liền, sau khi rơi xuống từng giọt ở khắp nơi rồi từ đó tập trung lại ở đại dương biển cả. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi có người tiếp nhận thì bất cứ lời giảng nào về Phật Pháp gồm chín thể loại được liên quan đến sự thực hành hạnh giảm thiểu và các yếu tố cao quý về hạnh từ khước, tất cả các lời giảng ấy sẽ tập trung lại ở đây.
Tâu đại vương, việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của tôi sẽ tập trung lại ở đây, nhờ vậy ý nghĩa ấy sẽ khéo được phân tích, được thêm thắt, được đầy đủ, được gom chung lại.
Tâu đại vương, giống như vị thầy ghi chép thiện xảo, đã được chỉ dẫn, trong khi ghi lại bài viết thì hoàn thiện bài viết với việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của bản thân, như vậy bài viết ấy sẽ được hoàn thành, được đầy đủ, không thiếu sót. Tương tợ y như thế, việc giải nghĩa theo lý lẽ bằng kinh nghiệm và sự sáng suốt của tôi sẽ tập trung lại ở đây, nhờ vậy ý nghĩa ấy sẽ khéo được phân tích, được thêm thắt, được đầy đủ, được gom chung lại.
BJT 2Tâu đại vương, ở thành Sāvatthi, có khoảng năm koṭi (năm mươi triệu) Thánh đệ tử là các cận sự nam và cận sự nữ của đức Thế Tôn, (trong số đó) ba trăm năm mươi bảy ngàn người đã được thiết lập vào quả vị Bất Lai, tất cả những vị ấy đều là người tại gia, họ không phải bậc xuất gia.
Thêm nữa, ở ngay tại nơi ấy, vào lúc (thị hiện) song thông ở gốc cội cây gaṇḍamba, có hai mươi koṭi (200.000.000) sinh mạng đã lãnh hội. Thêm nữa, vào lúc (thuyết giảng) Mahārāhulovāda, Kinh Mahāmaṅgala, bài giảng về tâm bình lặng, Kinh Parābhava, Kinh Purābheda, Kinh Kalahavivāda, Kinh Cūḷabyūha, Kinh Mahābyūha, Kinh Tuvaṭaka, Kinh Sāriputta, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên với số lượng vượt trội phương thức tính đếm.
Ở thành Rājagaha, ba trăm năm mươi ngàn Thánh đệ tử của đức Thế Tôn là các cận sự nam và cận sự nữ. Thêm nữa, ở ngay tại nơi ấy, vào lúc chế ngự con long tượng Dhanapāla có chín mươi koṭi (900.000.000) sinh mạng đã lãnh hội; ở cuộc hội họp về mục đích tối hậu ở điện thờ Pāsāṇaka có mười bốn koṭi (140.000.000) sinh mạng đã lãnh hội; thêm nữa ở hang động Indasāla có tám mươi koṭi (800.000.000) chư Thiên đã lãnh hội; thêm nữa ở thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai, vào lúc thuyết giảng Giáo Pháp lần đầu tiên, có mười tám koṭi (180.000.000) Đại Phạm Thiên và vô số chư Thiên đã lãnh hội; thêm nữa ở cõi trời Đạo Lợi, tại tảng đá Paṇḍukambala (ngai vàng của đức Trời Đế Thích) vào lúc thuyết giảng về Vi Diệu Pháp, có tám mươi koṭi (800.000.000) chư Thiên đã lãnh hội; vào lúc từ cõi trời trở lại trần gian tại cổng thành Saṅkassa, vào lúc (thị hiện) thần thông mở ra cho thấy thế gian, có ba mươi koṭi (300.000.000) nhân loại và chư Thiên được tịnh tín đã lãnh hội.
Thêm nữa, ở thành Kapilavatthu của dòng họ Sakya, tại tu viện Nigrodha, lúc thuyết giảng về dòng dõi chư Phật và lúc thuyết giảng về Kinh Mahāsamaya, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên với số lượng vượt trội phương thức tính đếm. Thêm nữa, ở cuộc gặp gỡ với người làm tràng hoa Sumana, ở cuộc gặp gỡ với Garahadinna, ở cuộc gặp gỡ với nhà triệu phú Ānanda, ở cuộc gặp gỡ với đạo sĩ lõa thể Jambuka, ở cuộc gặp gỡ với Thiên tử Maṇḍuka, ở cuộc gặp gỡ với Thiên tử Maṭṭakuṇḍali, ở cuộc gặp gỡ với Sulasā hoa khôi thành phố, ở cuộc gặp gỡ với Sirimā hoa khôi thành phố, ở cuộc gặp gỡ với người con gái thợ dệt, ở cuộc gặp gỡ với Cūlasubhaddā, ở cuộc gặp gỡ về việc xem xét chỗ hỏa táng của người Bà-la-môn xứ Sāketa, ở cuộc gặp gỡ tại Sunāparanta, ở cuộc gặp gỡ về câu hỏi của Thiên Chủ Sakka, ở cuộc gặp gỡ về (bài Kinh) Tirokuḍḍa, ở cuộc gặp gỡ về Ratanasutta (Kinh Châu Báu), mỗi một lần đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn sinh mạng.
BJT 3Tâu đại vương, trong thời gian mà đức Thế Tôn đã ngự ở thế gian, thì trong thời gian ấy, tại mỗi một nơi nào ở trong ba phạm vi thuộc mười sáu xứ sở lớn mà đức Thế Tôn đã trú ngụ, thì ở tại mỗi một nơi ấy hầu hết đều có hai, ba, bốn, năm trăm, một ngàn, một trăm ngàn chư Thiên và nhân loại đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, những vị nào là chư Thiên, những vị ấy cũng chính là người tại gia, họ không phải bậc xuất gia. Tâu đại vương, những người này, và luôn cả nhiều trăm ngàn koṭi (nhiều tỷ) chư Thiên khác nữa đều là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, đã chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, nếu những người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, thế thì các pháp từ khước phục vụ mục đích gì? Vì lý do ấy, các pháp từ khước là việc làm không thuộc về bổn phận. Thưa ngài Nāgasena, nếu các cơn bệnh được lắng dịu không cần chú thuật và dược thảo, thì cần gì với việc làm yếu đuối cơ thể bởi sự nôn mửa và xổ ruột, v.v… ? Nếu sự trấn áp kẻ thù nghịch là bằng các nắm tay, thì cần gì với gươm, giáo, tên, cung, nỏ, đùi cui, chày vồ? Nếu có được việc leo lên cây sau khi bám vào chạng cây, khúc cong, lỗ hổng, mầm gai, dây leo, cành cây, thì cần gì với việc tìm kiếm cái thang dài và chắc chắn? Nếu có sự điều hòa tứ đại với việc nằm ở nền đất, thì cần gì với việc tầm cầu giường nằm to lớn khổng lồ rực rỡ, có sự xúc chạm thoải mái? Nếu mỗi một mình có khả năng vượt qua bãi sa mạc có sự nguy hiểm, có sự sợ hãi, không bằng phẳng, thì cần gì với đoàn xe to lớn khổng lồ đã được chuẩn bị, đã được vũ trang? Nếu có khả năng vượt qua sông hồ bằng cánh tay, thì cần gì với việc tìm kiếm cây cầu và thuyền bè vững chắc? Nếu có thể làm ra thức ăn thức mặc bằng vật sở hữu của bản thân, thì cần gì với việc hầu hạ, việc nói lời thương mến, và việc lăng xăng chạy phía trước phía sau những kẻ khác? Nếu nước được lấy ở hồ thiên nhiên, thì cần gì với việc đào giếng nước, ao, hồ? Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế nếu những người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, thì cần gì với việc thọ trì cao quý về hạnh từ khước?”
BJT 5“Tâu đại vương, hai mươi tám đức tính này của các pháp từ khước là các đức tính đúng theo bản thể; do những đức tính này, các pháp từ khước được chư Phật ước ao, mong mỏi. Hai mươi tám đức tính nào? Tâu đại vương, ở đây pháp từ khước là sự nuôi mạng trong sạch, có quả an lạc, không có tội lỗi, không gây đau khổ cho người khác, không sợ hãi, không tự hành hạ mình, thuần túy liên quan đến sự tiến triển, không đưa đến hư hoại, không giả dối, là sự bảo vệ, sự ban cho điều đã được mong mỏi, sự huấn luyện cho tất cả chúng sanh, có sự thu thúc là lợi ích, là sự đúng đắn, không bị lệ thuộc, được thoát ra khỏi, là sự diệt tận luyến ái, diệt tận sân, diệt tận si, dứt bỏ ngã mạn, cắt đứt suy nghĩ xấu xa, vượt khỏi sự nghi hoặc, tiêu diệt sự lười biếng, dứt bỏ sự không ưa thích, sự chịu đựng, không so sánh được, không đo lường được, đưa đến sự diệt tận tất cả khổ đau. Tâu đại vương, hai mươi tám đức tính này của các pháp từ khước là các đức tính đúng theo bản thể; do những đức tính này, các pháp từ khước được chư Phật ước ao, mong mỏi.
Tâu đại vương, những người nào thực hiện đúng đắn các hạnh từ khước, những người ấy là những người đi đến hội hợp với mười tám đức tính. Với mười tám đức tính nào? Cách cư xử của những vị ấy khéo được thanh tịnh, sự thực hành khéo được đầy đủ, thân khẩu khéo được hộ trì, sự hành xử của ý khéo được thanh tịnh, sự tinh tấn khéo được nắm giữ, sợ hãi được lắng xuống, tùy ngã kiến được xa lìa, sự căm hận được đình chỉ, tâm từ được thiết lập, vật thực được nhận biết rõ rệt, được kính trọng đối với tất cả chúng sanh, biết vừa đủ về vật thực, gắn liền với sự tỉnh thức, không cần chỗ ngụ, nơi nào có sự thoải mái thì trú ngụ ở nơi ấy, có sự nhờm gớm về điều ác, có sự thích thú nơi thanh vắng, thường xuyên không xao lãng. Tâu đại vương, những người nào thực hiện đúng đắn các hạnh từ khước, những người ấy là những người đi đến hội hợp với mười tám đức tính.
BJT 6Tâu đại vương, mười hạng người này là xứng đáng với hạnh từ khước. Mười hạng nào? Là người có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự sáng suốt, không lường gạt, có khả năng đối với mục đích, không tham, ưa thích sự học tập, có sự thọ trì kiên cố, không có nhiều sự than phiền, có sự an trú tâm từ. Tâu đại vương, mười hạng người này là xứng đáng với hạnh từ khước.
BJT 7Tâu đại vương, những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn.
Tâu đại vương, giống như người cung thủ thiện xảo, trước tiên hết bắt những người học trò noi gương tập luyện ở phòng huấn luyện về việc phân loại cây cung, việc nâng lên và nắm giữ cây cung, việc kìm chặt nắm tay, việc cong lại ngón tay, việc đặt để bàn chân, việc nắm lấy mũi tên, việc đặt vào, việc kéo căng ra, việc giữ chặt, việc nhắm vào mục tiêu, việc buông ra, về việc xuyên thủng mục tiêu là hình nhân bằng cỏ, bãi phân thú vật, đống cỏ, đống rơm, đống đất sét, tấm ván, sau khi hoàn thành về thuật bắn cung trong sự hiện diện của đức vua thì được nhận lãnh ân huệ về ngựa thuần chủng, xe kéo, voi, ngựa chiến, tài sản, thóc lúa, vàng khối, vàng ròng, tôi trai, tớ gái, vợ, làng mạc.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ngay ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, không có sự luyện tập trước đây về các hạnh từ khước thì không có được sự chứng ngộ phẩm vị A-la-hán chỉ trong một kiếp sống, hơn nữa với sự tinh tấn tột bực, với sự thực hành tột bực, với người thầy có hình thức như thế, với người bạn tốt lành thì có được sự chứng ngộ phẩm vị A-la-hán.
BJT 8Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc phẫu thuật sau khi đã làm hài lòng người thầy với tài sản hoặc bằng việc thực hành phận sự, sau khi đã noi theo học tập công việc cầm cây dao, việc cắt, việc rạch, việc xuyên thủng, việc rút ra cây tên, việc rửa vết thương, việc làm khô, việc bôi thuốc, việc áp dụng dầu thơm cho việc nôn mửa và việc xổ ruột, khi đã thực hành việc học tập về các kiến thức, đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành tay nghề, thì đi thăm những người bệnh nhằm việc chữa trị.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những người nào là người tại gia, sống ở nhà, có sự thọ hưởng các dục, chứng ngộ sự an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn, tất cả những người ấy trong những kiếp sống trước đây đã thực hành sự huấn luyện, đã thực hành các công việc căn bản trong mười ba hạnh từ khước. Những người ấy, sau khi đã hoàn chỉnh cách cư xử và sự thực hành ngay ở tại nơi ấy, giờ đây hôm nay trong khi còn là người tại gia vẫn chứng ngộ an tịnh, mục đích tối hậu, Niết Bàn. Tâu đại vương, không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
Tâu đại vương, giống như không có sự rưới nước thì không có sự mọc lên của hạt giống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
Tâu đại vương, hoặc là giống như không có việc đi đến cảnh giới tốt đẹp đối với những người đã không làm các việc thiện, đã không làm các việc tốt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có sự lãnh hội Giáo Pháp đối với những người chưa được hoàn thiện về các hạnh từ khước.
BJT 9Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, thì hạnh từ khước ví như trái đất theo ý nghĩa nơi nâng đỡ.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như nước theo ý nghĩa rửa sạch tất cả bợn nhơ phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như ngọn lửa theo ý nghĩa thiêu đốt tất cả cánh rừng phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như gió theo ý nghĩa thổi đi tất cả bợn nhơ bụi bặm về phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thuốc giải độc theo ý nghĩa làm lắng dịu tất cả tật bệnh về phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thuốc bất tử theo ý nghĩa tiêu diệt tất cả chất độc phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như thửa ruộng theo ý nghĩa làm mọc lên tất cả mùa màng về Sa-môn hạnh.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như ngọc như ý theo ý nghĩa ban cho ân huệ về mọi sự thành tựu đã được mong mỏi, ước ao.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chiếc thuyền theo ý nghĩa đi đến bờ bên kia của đại dương luân hồi.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chốn nương nhờ cho người bị sợ hãi theo ý nghĩa việc làm an ủi cho những người sợ hãi sự già và sự chết.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người mẹ theo ý nghĩa người hỗ trợ cho những người bị áp bức bởi phiền não khổ đau.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người cha theo ý nghĩa người sanh ra tất cả Sa-môn hạnh cho những người có ước muốn tăng trưởng thiện pháp.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người bạn theo ý nghĩa không lường gạt trong việc tầm cầu tất cả Sa-môn hạnh.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như loài sen theo ý nghĩa không bị lấm lem bởi mọi phiền não ô nhiễm.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như bốn loại hương thơm cao quý theo ý nghĩa xua đuổi mùi thối của phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như núi chúa cao quý theo ý nghĩa không bị lay động bởi các ngọn gió của tám pháp thế gian.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như không trung theo ý nghĩa bao la, tỏa ra, rộng, lớn đối với việc bám víu ở mọi nơi đã được tách rời.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như dòng sông theo ý nghĩa chuyển tải các bợn nhơ phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người dẫn đường giỏi theo ý nghĩa thoát ra khỏi sa mạc của sự sanh và vùng rậm rạp của khu rừng phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như người hướng dẫn đoàn xe vĩ đại theo ý nghĩa đạt đến thành phố Niết Bàn cao quý và ưu tú, không sợ hãi, an toàn, và không còn tất cả các sự sợ hãi.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như tấm gương được chùi kỹ lưỡng không vết nhơ theo ý nghĩa nhìn thấy bản thể thật của các hành.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như tấm mộc che theo ý nghĩa ngăn chặn tất cả các cây gậy, mũi tên, gươm đao phiền não.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như chiếc lọng che theo ý nghĩa ngăn chặn cơn mưa phiền não và sức đốt nóng của ngọn lửa gồm ba loại.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như mặt trăng theo ý nghĩa được ước muốn, được mong cầu.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như mặt trời theo ý nghĩa tiêu diệt sự tăm tối của bóng tối si mê.
Tâu đại vương, đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh, hạnh từ khước ví như biển cả theo ý nghĩa nâng cao các viên ngọc quý giá về đức hạnh Sa-môn và theo ý nghĩa không đo lường được, không thể tính toán, không thể ước lượng.
BJT 10Tâu đại vương, như vậy hạnh từ khước đối với những người có ước muốn về sự thanh tịnh là có nhiều sự giúp đỡ, xua đi mọi sự khó chịu và bực bội, xua đi sự không thích thú, xua đi nỗi sợ hãi, xua đi sự hiện hữu, xua đi sự cứng nhắc (của tâm), xua đi ô nhiễm, xua đi sầu muộn, xua đi khổ đau, xua đi ái luyến, xua đi sân hận, xua đi si mê, xua đi ngã mạn, xua đi tà kiến, xua đi tất cả các pháp bất thiện, đem lại danh tiếng, đem lại lợi ích, đem lại an lạc, tạo sự thoải mái, tạo sự vui vẻ, tạo sự an toàn đối với các trói buộc, không có tội lỗi, có quả thành tựu dễ chịu và an lạc, là khối đức hạnh, là đống đức hạnh, có đức hạnh vô lường, vô lượng, cao quý, ưu tú, tối thắng.
Tâu đại vương, giống như loài người nhờ cậy vật thực vì muốn sự nâng đỡ, nhờ cậy thuốc men vì muốn sự lợi ích, nhờ cậy bạn bè vì muốn sự giúp đỡ, nhờ cậy chiếc thuyền vì muốn sự vượt qua, nhờ cậy mùi thơm của tràng hoa vì muốn mùi thơm tốt, nhờ cậy chỗ ẩn náu đối với sự sợ hãi vì muốn sự không còn sợ hãi, nhờ cậy trái đất vì muốn chỗ nâng đỡ, nhờ cậy người thầy vì muốn nghề nghiệp, nhờ cậy đức vua vì muốn danh vọng, nhờ cậy ngọc báu ma-ni vì muốn sự ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế các bậc Thánh nhờ cậy hạnh từ khước vì muốn sự ban phát tất cả đức hạnh của vị Sa-môn.
BJT 11Tâu đại vương, hoặc là giống như nước nhằm việc tăng trưởng của hạt giống, lửa nhằm việc thiêu đốt, thực phẩm nhằm mang lại sức mạnh, dây leo vì sự trói buộc, dao vì việc cắt đứt, nước uống nhằm việc xua đuổi cơn khát, của chôn giấu nhằm sự an tâm, chiếc thuyền nhằm việc đạt đến bờ, thuốc men nhằm làm lắng dịu cơn bệnh, xe cộ nhằm việc đi lại được an lạc, chỗ ẩn náu đối với sự sợ hãi nhằm xua đi nỗi sợ hãi, đức vua nhằm mục đích bảo vệ, tấm mộc che nhằm ngăn chặn roi vọt, đất cục, gậy gộc, mũi tên, gươm đao, thầy giáo nhằm việc chỉ dạy, người mẹ nhằm việc nuôi dưỡng, tấm gương nhằm việc nhìn xem, đồ trang sức vì sắc đẹp, vải vóc nhằm việc che đậy, cái thang nhằm việc leo lên, cái cân nhằm loại bỏ, chú thuật để đọc lẩm nhẩm, vũ khí nhằm ngăn chặn sự hăm dọa, ngọn đèn nhằm tiêu diệt bóng tối, gió nhằm dập tắt sự nóng nực, nghề nghiệp nhằm thành tựu sự sinh sống, thuốc giải độc nhằm bảo vệ mạng sống, hầm mỏ nhằm sản xuất châu ngọc, châu ngọc nhằm để trang điểm, mệnh lệnh nhằm việc không vượt qua, uy quyền nhằm vận hành mệnh lệnh.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế hạnh từ khước nhằm việc tăng trưởng hạt giống Sa-môn, nhằm việc thiêu đốt bợn nhơ phiền não, nhằm mang lại năng lực của thần thông, nhằm buộc chặt sự thu thúc ở niệm, nhằm cắt đứt sự phân vân và nghi ngờ, nhằm xua đuổi sự khát khao về tham ái, nhằm tạo ra sự an tâm trong việc lãnh hội, nhằm thoát ra khỏi bốn dòng nước lũ, nhằm lắng dịu cơn bệnh phiền não, nhằm đạt được an lạc Niết Bàn, nhằm xua đi nỗi sợ hãi về sanh già bệnh chết sầu bi khổ ưu não, nhằm bảo vệ các đức hạnh của Sa-môn, nhằm ngăn chặn sự không ưa thích và các suy nghĩ xấu xa, nhằm chỉ dạy toàn thể mục đích của đời sống Sa-môn, nhằm nuôi dưỡng tất cả các đức hạnh của đời sống Sa-môn, nhằm việc xem xét về chỉ tịnh, minh sát, Đạo, Quả, và Niết Bàn, nhằm tạo ra vẻ đẹp lớn lao vĩ đại đã được tán dương, khen ngợi bởi toàn thể thế gian, nhằm đóng lại tất cả đọa xứ, nhằm leo lên đỉnh chóp núi đá của mục đích đời sống Sa-môn, nhằm loại bỏ tâm cong, quẹo, sai trái, nhằm làm cho việc học tập tốt đẹp về các pháp nên thân cận và không nên thân cận, nhằm hăm dọa kẻ thù là mũi tên phiền não, nhằm tiêu diệt bóng tối vô minh, nhằm dập tắt sự đốt nóng và sự nóng nực của ngọn lửa gồm ba loại, nhằm thành tựu sự chứng đạt sự an tịnh tinh vi và tế nhị, nhằm bảo vệ đức hạnh của toàn bộ đời sống Sa-môn, nhằm sản xuất châu ngọc quý giá là các chi phần đưa đến giác ngộ, nhằm để trang điểm người hành giả, nhằm việc không vượt qua sự an lạc của trạng thái an tịnh không tội lỗi, khôn khéo, tế nhị, nhằm vận hành uy lực của Thánh pháp ở toàn bộ đời sống Sa-môn. Tâu đại vương, như vậy mỗi một hạnh từ khước là nhằm đưa đến sự chứng đạt các đức hạnh này. Tâu đại vương, như vậy ‘hạnh từ khước là không thể so sánh, không thể đo lường, không sánh bằng được, không vật tương đương, không vật đối chiếu, không vật trội hơn, là vô thượng, hàng đầu, đặc biệt, vượt trội, trải dài, bao la, tỏa ra, vươn rộng, quan trọng, nghiêm trọng, vĩ đại.’
BJT 12Tâu đại vương, cá nhân nào có ước muốn xấu xa, bị thúc đẩy bởi ước muốn, gian xảo, tham lam, quan tâm đến bao tử, mong muốn lợi lộc, mong muốn danh vọng, mong muốn tiếng tăm, không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp mà thọ trì hạnh từ khước, kẻ ấy gánh chịu hai lần hình phạt, gánh chịu sự phá hại tất cả các đức hạnh, trong thời hiện tại nhận lấy sự khinh bỉ, khinh miệt, chê trách, chế nhạo, giễu cợt, sự không thọ hưởng chung, sự xua đuổi, sự tống khứ, sự đưa đẩy, sự trục xuất, thậm chí ở thời vị lai kẻ ấy, trong nhiều trăm ngàn koṭi (nhiều tỷ) năm, bị nung nấu quay tròn lẫn lộn với bọt nước ở bề mặt, ở hướng trên, ở hướng dưới, ở hướng ngang, trong quầng lưới lửa nóng bỏng, sôi sục, cháy nóng, cháy rực ở đại địa ngục vô gián rộng một trăm do-tuần, sau khi được thoát ra khỏi nơi ấy, thì có cơ thể và tứ chi gầy ốm, thô kệch, đen đủi, cái đầu bị sưng, phồng lên, có lỗ thủng với vô số muỗi bám, bị đói, bị khát, có hình thể dáng vóc không đồng đều, khủng khiếp, có lỗ tai bị tơi tả, có tròng con mắt mở ra nhắm lại, có cơ thể bị thương tích, cơ thể bị thối rữa, toàn bộ thân thể lúc nhúc giòi bọ, có ngọn lửa đang đốt cháy đang phát cháy ở bên trong, tợ như đang đốt cháy ở đầu ngọn gió, không sự bảo vệ, không sự nương nhờ, đang than vãn tiếng khóc tỉ tê, nức nở, bi thương, sau khi trở thành hạng ngạ quỷ to lớn có hình dáng Sa-môn luôn bị dằn vặt bởi sự khao khát, đi lang thang ở trái đất, có giọng kêu gào thảm thiết.
Tâu đại vương, giống như người nào đó không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp, kém cỏi, có dòng dõi xấu xa mà phong vương với lễ đăng quang của dòng Sát-đế-lỵ, kẻ ấy nhận chịu việc bị chặt bàn tay, chặt bàn chân, chặt bàn tay và bàn chân, cắt tai, xẻo mũi, cắt tai và xẻo mũi, (nhúng vào) hũ giấm chua, cạo đầu bôi vôi, đốt lửa ở miệng, thiêu sống, đốt cháy ở bàn tay, lột da thành sợi, mặc y phục vỏ cây, kéo căng thân người ở trên đất, xiên da thịt bằng lưỡi câu, khoét thịt thành đồng tiền, chà xát với chất kiềm, quay tròn ở trên thập tự giá, ngồi ở ghế rơm, rưới bằng dầu sôi, cho những con chó gặm, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu bằng gươm, gánh chịu việc làm của nghiệp theo nhiều cách. Vì lý do gì? Kẻ không thích hợp, không đạt yêu cầu, không thích đáng, không xứng đáng, không phù hợp, kém cỏi, có dòng dõi xấu xa, đã đặt bản thân vào địa vị vương quyền to lớn, đã thủ tiêu ranh giới. Tâu đại vương, tương tợ y như thế cá nhân nào có ước muốn xấu xa … (như trên) … ở trái đất, có giọng kêu gào thảm thiết.
BJT 13Tâu đại vương, tuy nhiên cá nhân nào thích hợp, đạt yêu cầu, thích đáng, xứng đáng, phù hợp, ít ham muốn, tự biết đủ, sống tách ly, không giao du, có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tánh cương quyết, không gian trá, không xảo quyệt, không quan tâm đến bao tử, không mong muốn lợi lộc, không mong muốn danh vọng, không mong muốn tiếng tăm, có đức tin, xuất gia vì đức tin, mong muốn thoát khỏi già chết, (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ hiểu được Giáo Pháp’ rồi thọ trì hạnh từ khước, vị ấy xứng đáng sự cúng dường gấp hai lần, đối với chư Thiên và loài người là vị được yêu mến, được ưa thích, được ước muốn, được mong cầu, như là bông hoa của các loài hoa nhài trâu, nhài Ả-rập, v.v… đối với người đã được tắm đã được thoa dầu, như là thức ăn hảo hạng đối với người bị thèm ăn, như là nước uống mát sạch thơm tho đối với người bị khát, như là dược thảo cao quý đối với người bị nhiễm độc, như là cỗ xe ngựa thuần chủng cao quý tối thượng đối với người mong muốn đi nhanh, như là ngọc quý ma-ni như ý đối với người có ước muốn về mục đích, như là chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ đối với người có ước muốn được phong vương, như là sự chứng đắc vô thượng của quả vị A-la-hán đối với người có ước muốn về Giáo Pháp. Đối với vị ấy, bốn sự thiết lập niệm nhờ vào sự tu tập đi đến tròn đủ; bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh đạo tám chi phần nhờ vào sự tu tập đi đến tròn đủ, chứng đắc chỉ tịnh và minh sát, hoàn thiện sự thực hành của sự chứng đắc; bốn quả báu của đời sống Sa-môn, bốn tuệ phân tích, ba Minh, sáu Thắng Trí, và toàn bộ pháp Sa-môn, tất cả là thuộc về vị ấy. Vị ấy được phong vương với chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ của sự giải thoát.
Tâu đại vương, giống như đối với vị vua dòng Sát-đế-lỵ, sanh ra ở nơi quý phái, có dòng dõi gia tộc, đã được phong vương với lễ đăng quang của dòng Sát-đế-lỵ, thì có các thị dân, dân chúng, nhân công, binh lính thuộc vương quốc phục tùng, và ba mươi tám toán tùy tùng của đức vua, các kịch sĩ và vũ công, những người tiên đoán điềm lành, những người nói lời chúc tụng, các Sa-môn, Bà-la-môn, tất cả các nhóm người ngoại đạo tìm đến; bất cứ việc gì ở trái đất như là bến tàu, hầm mỏ châu báu, thành phố, trạm thuế, các người khác xứ, việc xử chặt, việc xử chém, việc chỉ thị dân chúng, vị vua ấy trở thành người chủ ở tất cả các nơi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế cá nhân nào thích hợp, đạt yêu cầu … (như trên) … được phong vương với chiếc lọng trắng trong sạch không bợn nhơ của sự giải thoát.
BJT 14Tâu đại vương, đây là mười ba pháp từ khước, được làm trong sạch với các pháp này, (vị tỳ khưu) tiến vào đại dương Niết Bàn, tiêu khiển trò tiêu khiển của Giáo Pháp có nhiều loại, rồi tiến đến tám sự chứng đạt của sắc giới và vô sắc giới, đạt được nhiều loại thần thông, Thiên nhĩ giới, nhận biết tâm của người khác, nhớ lại các kiếp sống quá khứ, Thiên nhãn, và sự diệt tận tất cả các lậu hoặc. Mười ba pháp nào? Pháp của vị chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, pháp của vị chỉ sử dụng ba y, pháp của vị chuyên đi khất thực, pháp của vị đi khất thực tuần tự theo từng nhà, pháp của vị chỉ một chỗ ngồi (khi thọ thực), pháp của vị thọ thực trong bình bát, pháp của vị không ăn vật thực dâng sau, pháp của vị ngụ ở rừng, pháp của vị ngụ ở gốc cây, pháp của vị ở ngoài trời, pháp của vị ngụ ở mộ địa, pháp của vị ngụ chỗ ở theo chỉ định, pháp của vị chuyên về oai nghi ngồi (không nằm). Tâu đại vương, với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như người thuyền trưởng, có tài sản, đã thực hiện tốt đẹp phần thuế ở bến tàu, thì tiến vào đại dương rồi đi đến các xứ Vaṅga, Takkola, Cīna, Sovīra, Suraṭṭha, Alasanda, Kolapaṭṭa, Suvaṇṇabhūmi, luôn cả bất cứ chỗ nào khác là nơi lai vãng của tàu bè. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) đạt được toàn bộ đời sống Sa-môn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như người nông dân trước tiên dời đi các khuyết điểm của thửa ruộng như là cỏ, cành khô, đá sỏi, rồi cày xới, gieo hạt, đưa nước vào đúng đắn, bảo vệ, giữ gìn, rồi với việc giặt hái đập giũ mà trở thành người có nhiều thóc lúa, những người nào không có tài sản, khốn khổ, nghèo khó, người lâm cảnh bất hạnh là thuộc về người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo … (như trên) … toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Sát-đế-lỵ đã được làm lễ phong vương ở đầu, đã được sanh ra ở nơi quý phái, có dòng dõi gia tộc, là người chúa tể trong việc xử chặt, xử chém, chỉ thị dân chúng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn, và toàn bộ đại địa cầu là thuộc về vị ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) trở thành vị chúa tể ở Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn; và toàn bộ các đức hạnh của đời sống Sa-môn là thuộc về vị ấy.
BJT 15Tâu đại vương, chẳng phải trưởng lão Upasena, con trai của Vaṅganta, với sự thực hành đầy đủ các hạnh giảm thiểu và từ khước, sau khi không chấp hành quy định của hội chúng ở Sāvatthi, đã cùng tập thể của mình đi đến gặp đấng Điều Ngự Trượng Phu đang thiền tịnh, đã đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của đức Thế Tôn, rồi đã ngồi xuống một bên. Và đức Thế Tôn sau khi nhìn thấy tập thể đã khéo được huấn luyện ấy, thì mừng rỡ, phấn chấn, vui mừng, phấn khởi, sau khi trao đổi chuyện trò với tập thể, rồi với giọng nói của Phạm Thiên không bị lẫn lộn, đã nói điều này:
‘Này Upasena, tập thể này quả là có niềm tin đối với ngươi. Này Upasena, ngươi hướng dẫn tập thể thế nào?’ Được đấng Toàn Tri, bậc Mười Lực, vị Trời vượt trội các vị Trời hỏi, vị ấy bằng năng lực về đức hạnh của tự thân đúng theo sự thật, cũng đã nói với đức Thế Tôn điều này:—Bạch ngài, người nào đi đến và cầu xin con sự xuất gia, hoặc pháp nương nhờ, thì con nói với người ấy như vầy: ‘Này đạo hữu, ta là vị hành pháp ngụ ở rừng, hành pháp chuyên đi khất thực, hành pháp chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, hành pháp chỉ sử dụng ba y. Nếu ngươi cũng sẽ là vị hành pháp ngụ ở rừng, hành pháp chuyên đi khất thực, hành pháp chỉ mặc y may bằng vải bị quăng bỏ, hành pháp chỉ sử dụng ba y, như thế thì ta sẽ cho ngươi xuất gia, sẽ ban cho pháp nương nhờ.’ Thưa ngài, nếu người ấy sau khi đã đồng ý với con, vui vẻ, hứng thú, như vậy thì con cho người ấy xuất gia, con ban cho pháp nương nhờ. Bạch ngài, con hướng dẫn tập thể như thế.’ Tâu đại vương, cũng như thế, người thọ trì đức hạnh cao quý của các pháp từ khước là vị chúa tể ở Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng, có sự thể hiện các quyền lực, là người chủ có hành động theo như ước muốn; toàn bộ các sự chứng đạt tịch tịnh, an lạc là thuộc về vị ấy.
Tâu đại vương, giống như hoa sen, có nguồn gốc, sanh trưởng, mọc lên trong sạch cho đến lúc trưởng thành, là trơn láng, mềm mại, đáng ham thích, có mùi thơm tốt, được yêu mến, được mong cầu, được ca tụng, không bị lấm lem bởi nước và bùn, được tô điểm bởi những cánh hoa nhỏ, tua nhị, quả sen, được lai vãng bởi bầy ong, được phát triển ở nước mát lạnh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế với mười ba hạnh từ khước này đã được thân cận, đã được thành thạo, đã được thực hành, đã được hoàn thiện, đã được hành xử, đã được tiếp cận, đã được tròn đủ trước đây mà (bây giờ) các vị đệ tử của bậc Thánh được đầy đủ với ba mươi đức tính cao quý. Với ba mươi đức tính cao quý nào?
Là có tâm từ trìu mến, mềm mỏng, dịu dàng; là có phiền não được tiêu diệt, được phá hủy, được tiêu hoại; là có sự ngã mạn và sự kiêu ngạo được phá hủy, được diệt trừ; là có đức tin không dao động, vững chãi, được củng cố, không có phân vân; là nhận được sự chứng đạt trọn vẹn, được thỏa mãn, được mừng rỡ, đáng ham thích, tịch tịnh, an lạc; là được thấm nhuần bởi hương thơm cao quý, ưu tú, vô song, tinh khiết của giới; là đối tượng yêu quý, ưa thích của chư Thiên và nhân loại; được các bậc Lậu Tận, các Thánh nhân, và các nhân vật cao quý mong mỏi; được đảnh lễ, cúng dường đối với chư Thiên và nhân loại; được tán dương, ca ngợi, khen ngợi, ca tụng của những con người khôn ngoan, thông minh, sáng suốt; không bị lấm lem bởi thế gian ở đời này hay ở đời khác; có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi về chút ít tội lỗi ở thế gian; có sự hoàn thành mục đích cao quý về Đạo và Quả của những người có sự mong muốn các thành tựu lớn lao và cao quý; có phần về vật dụng lớn lao, hảo hạng đã được (thí chủ) thỉnh cầu; có sự nằm nghỉ ở nơi không nhà; có sự an trú quý cao ở trạng thái gắn bó với thiền; có nền móng của mạng lưới phiền não đã được tháo gỡ; sự che lấp về cảnh giới tái sanh đã được phá vỡ, đập bể, co rút lại, chặt đứt; có pháp bền vững; chỗ ngụ được phù hợp; có sự thọ hưởng không bị chê trách; được thoát khỏi cảnh giới tái sanh; đã vượt lên trên tất cả hoài nghi; đã gắn bó vào sự giải thoát; đã nhìn thấy Giáo Pháp; đã đi đến chốn nương nhờ vững chắc, không dao động, đối với sự kinh sợ; có khuynh hướng ngủ ngầm đã được trừ tuyệt; đã đạt đến sự cạn kiệt tất cả lậu hoặc; có nhiều sự chứng đạt và an trú về sự tịch tịnh và sự an lạc; có đầy đủ tất cả đức tính của vị Sa-môn. Vị ấy được đầy đủ với ba mươi đức tính cao quý này.
Tâu đại vương, chẳng phải vị trưởng lão Sāriputta là con người cao cả ở mười ngàn thế giới, trừ ra đấng Thập Lực, bậc thầy của thế gian? Ngay cả vị ấy, trong vô lượng vô số kiếp sống, có thiện căn đã được tích lũy, có dòng dõi gia tộc Bà-la-môn, sau khi từ bỏ sự hứng thú về dục lạc làm thích ý và tài sản quý giá nhiều trăm con số đếm, sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, sau khi đã rèn luyện thân, khẩu, ý với mười ba hạnh từ khước này, giờ đây hôm nay được hội đủ các đức hạnh vô biên, đã được sanh làm người tiếp tục chuyển vận Bánh Xe Pháp của đức Thế Tôn Gotama. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở đoạn Dấu Ấn Cao Quý, pháp Một Chi thuộc Tăng Chi Bộ rằng:
‘Này các tỳ khưu, ta không nhìn thấy một cá nhân nào khác là người tiếp tục chuyển vận một cách đúng đắn Bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận bởi đức Như Lai như là Sāriputta. Này các tỳ khưu, Sāriputta tiếp tục chuyển vận một cách đúng đắn Bánh xe Pháp vô thượng đã được chuyển vận bởi đức Như Lai.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Bất cứ lời dạy nào của đức Phật gồm chín thể loại, các hành động nào vượt trên thế gian, và các sự chứng đạt vĩ đại cao quý nào của các sự chứng đắc ở thế gian, mọi điều ấy đều đi đến sự hội tụ ở mười ba hạnh từ khước.”
Câu hỏi về pháp từ khước là thứ nhì.
Phẩm Suy Luận được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Passatāraññake bhikkhū, ajjhogāḷhe dhute guṇe;
Puna passati gihī rājā, anāgāmiphale ṭhite.
“The king sees forest-dwelling monks immersed in the ascetic qualities; again, he sees householders established in the fruit of non-returning.”
Vị vua thấy các vị tỳ khưu ở trong rừng, những vị đã đi sâu vào các phẩm hạnh đầu-đà. Vị vua lại thấy các người tại gia, những người đã an trú trong quả vị Bất Lai.
‘‘Ubhopi te viloketvā, uppajji saṃsayo mahā;
Bujjheyya ce gihī dhamme, dhutaṅgaṃ nipphalaṃ siyā.
“Having observed both of them, a great doubt arose in him: ‘If a householder can awaken to the Dhamma, then the ascetic practices must be fruitless.’”
Sau khi nhìn thấy cả hai hạng người ấy, một sự nghi ngờ lớn lao đã khởi lên: ‘Nếu người tại gia có thể giác ngộ Chánh pháp, thì hạnh đầu-đà hẳn là vô kết quả’.
‘‘Paravādivādamathanaṃ, nipuṇaṃ piṭakattaye;
Handa pucche kathiseṭṭhaṃ, so me kaṅkhaṃ vinessatī’’ti.
“Crushing the arguments of opponents, skilled in the three Piṭakas; now then, I shall question the foremost of speakers. He will dispel my doubt.”
‘Ta hãy hỏi bậc Thảo luận sư tối thượng, là bậc dẹp tan luận thuyết của các phe phái khác, là bậc thông thạo Tam Tạng. Vị ấy sẽ xua tan sự nghi ngờ của ta’.
Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘bhante nāgasena, atthi koci gihī agāriko kāmabhogī puttadārasambādhasayanaṃ ajjhāvasanto kāsikacandanaṃ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṃ dhārayanto jātarūparajataṃ sādiyanto maṇimuttākañcanavicittamoḷibaddho yena santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikata’’nti?
Then King Milinda approached the Venerable Nāgasena. Having approached, he paid homage to the Venerable Nāgasena and sat down to one side. Seated thus, King Milinda said to the Venerable Nāgasena: “Venerable Nāgasena, is there any householder, living at home, enjoying sensual pleasures, dwelling amidst the constraints of children and wives, using Kāsi sandalwood, wearing garlands, perfumes, and unguents, accepting gold and silver, and wearing a diadem adorned with jewels, pearls, and gold, who has realized that peaceful, supreme goal, Nibbāna?”
Rồi thì, vua Milinda đi đến chỗ trưởng lão Nāgasena; sau khi đến, đã đảnh lễ trưởng lão Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, vua Milinda đã nói với trưởng lão Nāgasena điều này: ‘Thưa ngài Nāgasena, có người tại gia nào, là người sống tại nhà, hưởng thụ các dục lạc, sống trong cảnh chật chội vợ con, đang dùng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, đang mang vòng hoa, hương thơm, và vật thoa xức, đang vui thích với vàng và bạc, đang cột vương miện được trang hoàng với ngọc, châu báu, và vàng, mà đã chứng ngộ được Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng, là sự tịch tịnh không?’
‘‘Na, mahārāja, ekaññeva sataṃ na dve satāni na tīṇi cattāri pañca satāni na sahassaṃ na satasahassaṃ na koṭisataṃ na koṭisahassaṃ na koṭisatasahassaṃ, tiṭṭhatu mahārāja dasannaṃ vīsatiyā satassa sahassassa abhisamayo, katamena te pariyāyena anuyogaṃ dammī’’ti.
“Great king, not just one hundred, not two hundred, not three, four, or five hundred; not a thousand, not a hundred thousand; not a hundred koṭis, not a thousand koṭis, not a hundred thousand koṭis. Let alone, great king, the realization of ten, twenty, a hundred, or a thousand. By what method of enumeration shall I present the account to you?”
Thưa Đại vương, không phải chỉ một trăm, không phải hai trăm, không phải ba, bốn, năm trăm, không phải một ngàn, không phải một trăm ngàn, không phải một trăm koṭi, không phải một ngàn koṭi, không phải một trăm ngàn koṭi. Thưa Đại vương, hãy để qua một bên sự chứng ngộ của mười người, của hai mươi người, của một trăm, của một ngàn người. Tôi nên trả lời cho ngài theo phương cách (đếm) nào đây?
‘‘Tvamevetaṃ brūhī’’ti. ‘‘Tenahi te, mahārāja, kathayissāmi satena vā sahassena vā satasahassena vā koṭiyā vā koṭisatena vā koṭisahassena vā koṭisatasahassena vā, yā kāci navaṅge buddhavacane sallekhitācārappaṭipattidhutavaraṅgaguṇanissitā † thā, tā sabbā idha samosarissanti. Yathā, mahārāja, ninnunnatasamavisamathalāthaladesabhāge abhivuṭṭhaṃ udakaṃ, sabbaṃ taṃ tato vinigaḷitvā mahodadhiṃ sāgaraṃ samosarati, evameva kho, mahārāja, sampādake sati yā kāci navaṅge buddhavacane sallekhitācārappaṭipattidhutaṅgaguṇadharanissitā kathā, tā sabbā idha samosarissanti.
“You yourself should state it.” “Well then, great king, I will tell you by the hundred, by the thousand, by the hundred thousand, by the koṭi, by the hundred koṭis, by the thousand koṭis, or by the hundred thousand koṭis. Whatever discourses in the nine-fold word of the Buddha are based on the practice of austerity, the path of practice, and the qualities of the excellent ascetic observances, they will all converge here. Just as, great king, water that has rained upon low and high ground, level and uneven places, all flows down from there and converges into the great ocean, the sea, even so, great king, when there is a capable speaker, whatever discourses in the nine-fold word of the Buddha are based on the practice of austerity and the qualities of the ascetic observances, they will all converge here.
‘Chính ngài hãy nói điều ấy.’ ‘Vậy thì, thưa Đại vương, tôi sẽ nói cho ngài biết, bằng con số hàng trăm, hoặc hàng ngàn, hoặc hàng trăm ngàn, hoặc một koṭi, hoặc một trăm koṭi, hoặc một ngàn koṭi, hoặc một trăm ngàn koṭi. Bất cứ lời dạy nào trong Cửu phần giáo pháp của đức Phật mà có liên quan đến phẩm hạnh của các hạnh đầu-đà, là sự thực hành và cách hành xử khổ hạnh, tất cả những lời dạy ấy sẽ quy tụ về đây. Thưa Đại vương, ví như nước mưa rơi xuống trên các vùng đất cao thấp, bằng phẳng, không bằng phẳng, trên cạn, dưới nước, tất cả nước ấy từ đó chảy đi rồi quy tụ về biển cả, về đại dương. Thưa Đại vương, cũng như thế, khi có người thành tựu, bất cứ lời dạy nào trong Cửu phần giáo pháp của đức Phật mà có liên quan đến việc nắm giữ các phẩm hạnh đầu-đà, là sự thực hành và cách hành xử khổ hạnh, tất cả những lời dạy ấy sẽ quy tụ về đây.
‘‘Mayhampettha, mahārāja, paribyattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanaṃ samosarissati, teneso attho suvibhatto vicitto paripuṇṇo parisuddho samānīto bhavissati. Yathā, mahārāja, kusalo lekhācariyo anusiṭṭho lekhaṃ osārento attano byattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanena lekhaṃ paripūreti, evaṃ sā lekhā samattā paripuṇṇā anūnikā bhavissati. Evameva mayhampettha paribyattatāya buddhiyā kāraṇaparidīpanaṃ samosarissati, teneso attho suvibhatto vicitto paripuṇṇo parisuddho samānīto bhavissati.
“Furthermore, great king, through my own versatile wisdom, the elucidation of causes will converge here. Thereby this matter will become well-analyzed, multifaceted, complete, purified, and coherently presented. Just as, great king, a skilled and well-instructed scribe, in completing a text, perfects the writing through the elucidation of causes by means of his own versatile wisdom, so that the writing becomes finished, complete, and without deficiency—even so, through my own versatile wisdom, the elucidation of causes will converge here. Thereby this matter will become well-analyzed, multifaceted, complete, purified, and coherently presented.”
Tâu Đại vương, trong vấn đề này, sự trình bày lý do nhờ vào trí tuệ sáng suốt của bần tăng sẽ được kết hợp lại. Do đó, ý nghĩa này sẽ được phân tích rõ ràng, kỳ diệu, đầy đủ, trong sạch, và được trình bày tốt đẹp. Tâu Đại vương, ví như một người thầy dạy viết khéo léo, khi được nhắc nhở về bài viết, đã hoàn thành bài viết bằng cách trình bày lý do nhờ vào trí tuệ sáng suốt của mình. Như vậy, bài viết ấy sẽ được hoàn tất, đầy đủ, không thiếu sót. Cũng giống như thế, tâu Đại vương, trong vấn đề này, sự trình bày lý do nhờ vào trí tuệ sáng suốt của bần tăng sẽ được kết hợp lại. Do đó, ý nghĩa này sẽ được phân tích rõ ràng, kỳ diệu, đầy đủ, trong sạch, và được trình bày tốt đẹp.
‘‘Nagare, mahārāja, sāvatthiyā pañcakoṭimattā ariyasāvakā bhagavato upāsakaupāsikāyo sattapaṇṇāsasahassāni tīṇi ca satasahassāni anāgāmiphale patiṭṭhitā, te sabbepi gihī yeva, na pabbajitā. Puna tattheva kaṇḍambamūle yamakapāṭihāriye vīsati pāṇakoṭiyo abhisamiṃsu, puna cūḷarāhulovāde †, mahāmaṅgalasuttante, samacittapariyāye, parābhavasuttante, purābhedasuttante, kalahavivādasuttante, cūḷabyūhasuttante, mahābyūhasuttante, tuvaṭakasuttante, sāriputtasuttante gaṇanapathamatītānaṃ devatānaṃ dhammābhisamayo ahosi.
“In the city of Sāvatthī, great king, there were five koṭis of the Blessed One’s noble disciples, laymen and laywomen; three hundred fifty-seven thousand were established in the fruit of non-returning. All of them were householders, not monastics. Furthermore, in that very place, at the foot of the Kaṇḍamba tree during the Twin Miracle, twenty koṭis of beings attained realization. Again, during the discourses of the Cūḷarāhulovāda, the Mahāmaṅgala Sutta, the Samacittapariyāya, the Parābhava Sutta, the Purābheda Sutta, the Kalahavivāda Sutta, the Cūḷabyūha Sutta, the Mahābyūha Sutta, the Tuvaṭṭaka Sutta, and the Sāriputta Sutta, the realization of the Dhamma occurred for deities beyond all reckoning.
Tâu Đại vương, tại thành Sāvatthī, có khoảng năm ức vị Thánh đệ tử của Đức Thế Tôn là các nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Ba trăm năm mươi bảy ngàn vị đã an trú trong quả vị Bất Lai. Tất cả những vị ấy đều là người tại gia, không phải là người xuất gia. Lại nữa, cũng tại nơi ấy, vào lúc song thần thông được biểu diễn dưới gốc cây xoài của Kaṇḍa, hai mươi ức chúng sanh đã chứng ngộ. Lại nữa, trong các bài kinh Cūḷarāhulovāda, Mahāmaṅgala, Samacittapariyāya, Parābhava, Purābheda, Kalahavivāda, Cūḷabyūha, Mahābyūha, Tuvaṭaka, và Sāriputta, vô số chư thiên không thể đếm xuể đã có pháp nhãn sanh.
‘‘Nagare rājagahe paññāsasahassāni tīṇi ca satasahassāni ariyasāvakā bhagavato upāsakaupāsikāyo, puna tattheva dhanapālahatthināgadamane navuti pāṇakoṭiyo, pārāyanasamāgame pāsāṇakacetiye cuddasa pāṇakoṭiyo, puna indasālaguhāyaṃ asīti devatākoṭiyo, puna bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye paṭhame dhammadesane aṭṭhārasa brahmakoṭiyo aparimāṇā ca devatāyo, puna tāvatiṃsabhavane paṇḍukambalasilāyaṃ abhidhammadesanāya asīti devatākoṭiyo, devorohaṇe saṅkassanagaradvāre lokavivaraṇapāṭihāriye pasannānaṃ naramarūnaṃ tiṃsa koṭiyo abhisamiṃsu.
“In the city of Rājagaha, there were three hundred fifty thousand noble disciples of the Blessed One, laymen and laywomen. Again, in that same place, at the taming of the elephant Dhanapāla, ninety koṭis of beings attained realization. At the Pāsāṇaka Shrine during the Pārāyana assembly, fourteen koṭis of beings attained realization. Again, in the Indasāla Cave, eighty koṭis of deities attained realization. Again, in the Deer Park at Isipatana near Bārāṇasī, at the first discourse on the Dhamma, eighteen koṭis of Brahmās and immeasurable deities attained realization. Again, in the Tāvatiṃsa heaven, on the Paṇḍukambala Stone, during the teaching of the Abhidhamma, eighty koṭis of deities attained realization. At the descent from the heavens, at the city gate of Saṅkassa, during the miracle of the opening of the worlds, thirty koṭis of humans and deities filled with faith attained realization.
Tại thành Rājagaha, có ba trăm năm mươi ngàn vị Thánh đệ tử của Đức Thế Tôn là các nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Lại nữa, cũng tại nơi ấy, vào lúc voi Dhanapāla được điều phục, chín mươi ức chúng sanh đã chứng ngộ; tại buổi hội Pārāyana ở Pāsāṇaka Cetiya, mười bốn ức chúng sanh đã chứng ngộ. Lại nữa, trong hang Indasāla, tám mươi ức chư thiên; lại nữa, tại Bārāṇasī, ở Isipatana Migadāya, trong buổi thuyết pháp đầu tiên, mười tám ức Phạm thiên và vô số chư thiên; lại nữa, tại cõi trời Tāvatiṃsa, trên phiến đá Paṇḍukambala, trong buổi thuyết giảng Abhidhamma, tám mươi ức chư thiên; và vào lúc ngài từ cõi trời giáng hạ, tại cổng thành Saṅkassa, trong lúc biểu diễn thần thông mở bày thế giới, ba mươi ức người và chư thiên có lòng tịnh tín đã chứng ngộ.
Puna sakkesu kapilavatthusmiṃ nigrodhārāme buddhavaṃsadesanāya mahāsamayasuttantadesanāya ca gaṇanapathamatītānaṃ devatānaṃ dhammābhisamayo ahosi. Puna sumanamālākārasamāgame, garahadinnasamāgame, ānandaseṭṭhisamāgame, jambukājīvakasamāgame, maṇḍukadevaputtasamāgame, maṭṭhakuṇḍalidevaputtasamāgame, sulasānagarasobhinisamāgame, sirimānagarasobhinisamāgame, pesakāradhītusamāgame, cūḷasubhaddāsamāgame, sāketabrāhmaṇassa āḷāhanadassanasamāgame, sūnāparantakasamāgame, sakkapañhasamāgame, tirokuṭṭasamāgame †, ratanasuttasamāgame paccekaṃ caturāsītiyā pāṇasahassānaṃ dhammābhisamayo ahosi, yāvatā, mahārāja, bhagavā loke aṭṭhāsi, tāva tīsu maṇḍalesu soḷasasu mahājanapadesu yattha yattha bhagavā vihāsi, tattha tattha yebhuyyena dve tayo cattāro pañca sataṃ sahassaṃ satasahassaṃ devā ca manussā ca santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikariṃsu. Ye te, mahārāja, devā gihī yeva, na te pabbajitā, etāni ceva, mahārāja, aññāni ca anekāni devatākoṭisatasahassāni gihī agārikā kāmabhogino santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikariṃsū’’ti.
“Again, among the Sakyans at Kapilavatthu in the Nigrodha Park, during the teaching of the Buddhavaṃsa and the Mahāsamaya Sutta, the realization of the Dhamma occurred for deities beyond all reckoning. Again, at the assembly of Sumana the garland-maker, the assembly of Garahadinna, the assembly of Ānanda the merchant, the assembly of Jambuka the ascetic, the assembly of the devaputta Maṇḍuka, the assembly of the devaputta Maṭṭhakuṇḍali, the assembly of the courtesan Sulasā, the assembly of the courtesan Sirimā, the assembly of the weaver’s daughter, the assembly of Cūḷasubhaddā, the assembly for viewing the cremation ground of the Sāketa brahmin, the assembly of the people of Sūnāparanta, the assembly for Sakka’s questions, the assembly concerning those outside the walls, and the assembly for the Ratana Sutta—at each, eighty-four thousand beings realized the Dhamma. For as long, great king, as the Blessed One remained in the world, wherever he dwelled in the three regions and the sixteen great countries, for the most part two, three, four, five, a hundred, a thousand, or a hundred thousand devas and humans realized the peaceful, supreme goal, Nibbāna. As for those devas, great king, they were indeed householders, not monastics. And not only these, great king, but many other hundred thousand koṭis of devas—householders enjoying sensual pleasures—realized the peaceful, supreme goal, Nibbāna.”
Lại nữa, tại xứ Sakka, ở Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodhārāma, vào lúc thuyết giảng Buddhavaṃsa và kinh Mahāsamaya, vô số chư thiên không thể đếm xuể đã có pháp nhãn sanh. Lại nữa, trong các buổi hội của người bán hoa Sumana, của Garahadinna, của trưởng giả Ānanda, của du sĩ Jambuka, của thiên tử Maṇḍuka, của thiên tử Maṭṭhakuṇḍali, của kỹ nữ Sulasā, của kỹ nữ Sirimā, của con gái người thợ dệt Pesakārī, của Cūḷasubhaddā, buổi hội xem giàn hỏa thiêu của Bà-la-môn ở Sāketa, buổi hội Sūnāparantaka, buổi hội Sakkapañha, buổi hội Tirokuṭṭa, và buổi hội kinh Ratana, mỗi lần đều có tám mươi bốn ngàn chúng sanh có pháp nhãn sanh. Tâu Đại vương, trong suốt thời gian Đức Thế Tôn còn tại thế, trong ba vòng và mười sáu đại quốc, bất cứ nơi nào Đức Thế Tôn trú ngụ, ở đó phần lớn có hai, ba, bốn, năm, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn chư thiên và loài người đã chứng ngộ Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng an tịnh. Tâu Đại vương, những vị chư thiên ấy đều là người tại gia, không phải là người xuất gia. Tâu Đại vương, chính những vị này và vô số trăm ngàn ức chư thiên khác, là những người tại gia, sống trong gia đình, hưởng thụ các dục lạc, đã chứng ngộ Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng an tịnh.
‘‘Yadi, bhante nāgasena, gihī agārikā kāmabhogino santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikaronti, atha imāni dhutaṅgāni kimatthaṃ sādhenti, tena kāraṇena dhutaṅgāni akiccakarāni honti. Yadi, bhante nāgasena, vinā mantosadhehi byādhayo vūpasamanti, kiṃ vamanavirecanādinā sarīradubbalakaraṇena? Yadi muṭṭhīhi paṭisattuniggaho bhavati, kiṃ asisattisaradhanukodaṇḍalaguḷamuggarehi? Yadi gaṇṭhikuṭilasusirakaṇṭalatāsākhā ālambitvā rukkhamabhirūhanaṃ bhavati, kiṃ dīghadaḷhanisseṇipariyesanena? Yadi thaṇḍilaseyyāya dhātusamatā bhavati, kiṃ sukhasamphassamahatimahāsirisayanapariyesanena? Yadi ekako sāsaṅkasappaṭibhayavisamakantārataraṇasamattho bhavati, kiṃ sannaddhasajjamahatimahāsatthapariyesanena? Yadi nadisaraṃ bāhunā tarituṃ samattho bhavati, kiṃ dhuvasetunāvāpariyesanena? Yadi sakasantakena ghāsacchādanaṃ kātuṃ pahoti, kiṃ parūpasevanapiyasamullāpapacchāpuredhāvanena? Yadi akhātataḷāke udakaṃ labhati, kiṃ udapānataḷākapokkharaṇikhaṇanena? Evameva kho, bhante nāgasena, yadi gihī agārikā kāmabhogino santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikaronti, kiṃ dhutaguṇavarasamādiyanenā’’ti?
“Venerable Nāgasena, if householders living at home, enjoying sensual pleasures, realize the peaceful, supreme goal of Nibbāna, then what do these ascetic practices accomplish? For that reason, the ascetic practices are ineffectual. Venerable Nāgasena, if diseases subside without spells and medicines, what is the use of weakening the body with emetics, purgatives, and the like? If enemies can be subdued with fists, what is the use of swords, spears, arrows, bows, crossbows, clubs, and mallets? If one can climb a tree by grasping onto knots, crooked parts, hollows, thorns, vines, or branches, what is the use of searching for a long, sturdy ladder? If lying on the bare ground brings balance to the bodily elements, what is the use of searching for a great, splendid bed with a pleasant touch? If one is capable of crossing a dangerous, fearful, and treacherous wilderness alone, what is the use of searching for a great, well-equipped, and ready caravan? If one is able to cross a river or lake by swimming, what is the use of searching for a permanent bridge or a boat? If one is able to provide for oneself with food and clothing from one's own property, what is the use of serving others, engaging in pleasant conversation, and running before and after them? If water can be obtained from an undug pond, what is the use of digging wells, ponds, and lotus-pools? In the same way, Venerable Nāgasena, if householders living at home, enjoying sensual pleasures, realize the peaceful, supreme goal of Nibbāna, what is the use of undertaking the excellent ascetic qualities?”
Thưa Đại đức Nāgasena, nếu người tại gia, sống trong gia đình, hưởng thụ các dục lạc, có thể chứng ngộ Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng an tịnh, vậy thì họ thực hành các pháp đầu-đà này để làm gì? Do lý do đó, các pháp đầu-đà trở thành vô dụng. Thưa Đại đức Nāgasena, nếu bệnh tật có thể thuyên giảm mà không cần đến thần chú và thuốc men, thì việc làm cho thân thể suy nhược bằng cách gây nôn, xổ... có ích lợi gì? Nếu có thể chế ngự kẻ thù bằng nắm đấm, thì gươm, giáo, tên, cung, nỏ, gậy, chùy có ích lợi gì? Nếu có thể trèo cây bằng cách bám vào các mấu, cành cong, hốc cây, gai, dây leo, nhánh cây, thì việc tìm kiếm một chiếc thang dài và chắc chắn có ích lợi gì? Nếu có thể đạt được sự quân bình của các đại bằng cách nằm ngủ trên nền đất, thì việc tìm kiếm một chiếc giường có xúc chạm êm ái, sang trọng và lộng lẫy có ích lợi gì? Nếu một mình có thể vượt qua được vùng hoang địa đáng sợ, nguy hiểm, và không bằng phẳng, thì việc tìm kiếm một đoàn lữ hành đông đảo, được trang bị vũ khí có ích lợi gì? Nếu có thể bơi qua sông, qua hồ bằng tay, thì việc tìm kiếm cầu và thuyền cố định có ích lợi gì? Nếu có thể tự mình lo liệu được thức ăn và y phục, thì việc phục vụ người khác, nói lời dễ thương, đi trước về sau có ích lợi gì? Nếu có thể lấy được nước từ một cái ao không cần đào, thì việc đào giếng, ao, hồ có ích lợi gì? Cũng giống như thế, thưa Đại đức Nāgasena, nếu người tại gia, sống trong gia đình, hưởng thụ các dục lạc, có thể chứng ngộ Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng an tịnh, thì việc thực hành các phẩm hạnh đầu-đà cao quý có ích lợi gì?
‘‘Aṭṭhavīsati kho panime, mahārāja, dhutaṅgaguṇā yathābhuccaguṇā, yehi guṇehi dhutaṅgāni sabbabuddhānaṃ pihayitāni patthitāni. Katame aṭṭhavīsati? Idha, mahārāja, dhutaṅgaṃ suddhājīvaṃ sukhaphalaṃ anavajjaṃ na paradukkhāpanaṃ abhayaṃ asampīḷanaṃ ekantavaḍḍhikaṃ aparihāniyaṃ amāyaṃ ārakkhā patthitadadaṃ sabbasattadamanaṃ saṃvarahitaṃ patirūpaṃ anissitaṃ vippamuttaṃ rāgakkhayaṃ dosakkhayaṃ mohakkhayaṃ mānappahānaṃ kuvitakkacchedanaṃ kaṅkhāvitaraṇaṃ kosajjaviddhaṃsanaṃ aratippahānaṃ khamanaṃ atulaṃ appamāṇaṃ sabbadukkhakkhayagamanaṃ, ime kho, mahārāja, aṭṭhavīsati dhutaṅgaguṇā yathābhuccaguṇā yehi guṇehi dhutaṅgāni sabbabuddhānaṃ pihayitāni patthitāni.
“Great king, there are these twenty-eight qualities of the ascetic practices, qualities as they truly are, by which qualities the ascetic practices are cherished and aspired to by all Buddhas. What are the twenty-eight? Here, great king, the ascetic practice is: a pure livelihood, yielding happiness, blameless, not causing suffering to others, fearless, not oppressive, leading to certain growth, not declining, without deceit, a protection, granting what is desired, a means of taming all beings, conducive to restraint, suitable, independent, liberated, leading to the destruction of lust, the destruction of hatred, the destruction of delusion, the abandonment of conceit, the cutting off of evil thoughts, the overcoming of doubt, the destruction of sloth, the abandoning of discontent, forbearing, incomparable, immeasurable, and leading to the cessation of all suffering. These, great king, are the twenty-eight qualities of the ascetic practices, qualities as they truly are, by which qualities the ascetic practices are cherished and aspired to by all Buddhas.”
“Tâu Đại vương, có hai mươi tám phẩm chất này của hạnh đầu-đà, là những phẩm chất chân thật, do những phẩm chất ấy mà các hạnh đầu-đà được tất cả các vị Phật quý mến và mong mỏi. Hai mươi tám là những gì? Tâu Đại vương, ở đây, hạnh đầu-đà là (1) sự nuôi mạng trong sạch, (2) có quả báu an lạc, (3) không có tội lỗi, (4) không làm khổ người khác, (5) không có sự sợ hãi, (6) không bức bách, (7) chỉ có tăng trưởng (thiện pháp), (8) không bị suy giảm, (9) không có xảo trá, (10) có sự hộ trì, (11) ban cho điều mong muốn, (12) điều phục tất cả chúng sanh, (13) có lợi ích là sự thu thúc, (14) thích hợp, (15) không nương tựa, (16) được giải thoát, (17) đoạn tận tham ái, (18) đoạn tận sân hận, (19) đoạn tận si mê, (20) từ bỏ ngã mạn, (21) cắt đứt các tầm bất thiện, (22) vượt qua hoài nghi, (23) phá tan sự biếng nhác, (24) từ bỏ sự không hoan hỷ, (25) có sự kham nhẫn, (26) không thể so sánh, (27) vô lượng, (28) đưa đến sự đoạn tận tất cả khổ đau. Tâu Đại vương, đây chính là hai mươi tám phẩm chất của hạnh đầu-đà, là những phẩm chất chân thật, do những phẩm chất ấy mà các hạnh đầu-đà được tất cả các vị Phật quý mến và mong mỏi.”
‘‘Ye kho te, mahārāja, dhutaguṇe sammā upasevanti, te aṭṭhārasahi guṇehi samupetā bhavanti. Katamehi aṭṭhārasahi? Ācāro tesaṃ suvisuddho hoti, paṭipadā supūritā hoti, kāyikaṃ vācasikaṃ surakkhitaṃ hoti, manosamācāro suvisuddho hoti, vīriyaṃ supaggahitaṃ hoti, bhayaṃ vūpasammati, attānudiṭṭhibyapagatā hoti, āghāto uparato hoti, mettā upaṭṭhitā hoti, āhāro pariññāto hoti, sabbasattānaṃ garukato hoti, bhojane mattaññū hoti, jāgariyamanuyutto hoti, aniketo hoti, yattha phāsu tattha vihārī hoti, pāpajegucchī hoti, vivekārāmo hoti, satataṃ appamatto hoti, ye te, mahārāja, dhutaguṇe sammā upasevanti, te imehi aṭṭhārasahi guṇehi samupetā bhavanti.
“Great king, those who properly cultivate the ascetic qualities are endowed with eighteen qualities. What are these eighteen? Their conduct is well-purified, their practice is fully fulfilled, their bodily and verbal actions are well-guarded, their mental conduct is well-purified, their effort is well-aroused, fear is calmed, the view of a self is abandoned, animosity is stopped, loving-kindness is present, food is fully understood, they are respected by all beings, they know moderation in eating, they are devoted to wakefulness, they are homeless, dwelling wherever it is comfortable, they are disgusted by evil, delighting in seclusion, and are ever heedful. Great king, those who properly cultivate the ascetic qualities are endowed with these eighteen qualities.”
“Tâu Đại vương, những vị nào khéo thực hành các phẩm chất đầu-đà, các vị ấy được hội đủ mười tám phẩm chất. Mười tám phẩm chất ấy là gì? (1) Oai nghi của các vị ấy rất trong sạch, (2) sự thực hành được viên mãn, (3) thân và khẩu được khéo hộ trì, (4) ý hành rất trong sạch, (5) tinh tấn được khéo sách tấn, (6) sự sợ hãi được lắng dịu, (7) tà kiến về tự ngã được loại trừ, (8) sự oán hận được chấm dứt, (9) tâm từ được an trú, (10) vật thực được liễu tri, (11) được tất cả chúng sanh kính trọng, (12) biết tiết độ trong ăn uống, (13) chuyên tâm vào sự tỉnh thức, (14) không có trú xứ, (15) trú ở bất cứ nơi nào thoải mái, (16) ghê tởm điều ác, (17) thích thú sự độc cư, (18) luôn luôn không dể duôi. Tâu Đại vương, những vị nào khéo thực hành các phẩm chất đầu-đà, các vị ấy được hội đủ mười tám phẩm chất này.”
‘‘Dasa ime, mahārāja, puggalā dhutaguṇārahā. Katame dasa? Saddho hoti hirimā dhitimā akuho atthavasī alolo sikkhākāmo daḷhasamādāno anujjhānabahulo mettāvihārī, ime kho, mahārāja, dasa puggalā dhutaguṇārahā.
“Great king, there are these ten individuals worthy of the ascetic qualities. What are the ten? One who is faithful, ashamed of wrongdoing, resolute, not deceitful, intent on the goal, not greedy, desirous of training, firm in his undertaking, not given to criticism, and who abides in loving-kindness. Great king, these are the ten individuals worthy of the ascetic qualities.”
“Tâu Đại vương, có mười hạng người này xứng đáng với các phẩm chất đầu-đà. Mười hạng người ấy là gì? Là người có đức tin, có lòng tàm, có nghị lực, không khoe khoang, mong cầu lợi ích, không dao động, ham muốn học tập, có sự thọ trì vững chắc, không có tánh hay chỉ trích, và sống với tâm từ. Tâu Đại vương, đây là mười hạng người xứng đáng với các phẩm chất đầu-đà.”
‘‘Ye te, mahārāja, gihī agārikā kāmabhogino santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikaronti, sabbe te purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattha cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihī yeva santā santaṃ paramattaṃ nibbānaṃ sacchikaronti.
“Great king, those householders who, while enjoying sensual pleasures, realize the peaceful, supreme goal of Nibbāna—all of them in past lives have cultivated and prepared the groundwork in the thirteen ascetic qualities. Having purified their conduct and practice there, now, even as householders, they realize the peaceful, supreme goal of Nibbāna.”
“Tâu Đại vương, những người tại gia, sống đời gia đình, hưởng thụ các dục vọng mà chứng ngộ được Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng, tịch tịnh, tất cả những vị ấy trong các kiếp quá khứ đã từng thực hành mười ba phẩm chất đầu-đà, đã tạo tác nghiệp nền tảng. Các vị ấy, sau khi đã thanh lọc sự đi lại và sự thực hành ở nơi ấy, ngay trong hiện tại, dù vẫn là người tại gia, đã chứng ngộ được Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng, tịch tịnh.”
‘‘Yathā, mahārāja, kusalo issāso antevāsike paṭhamaṃ tāva upāsanasālāyaṃ cāpabhedacāpāropanaggahaṇamuṭṭhippaṭipīḷanaaṅgulivināmanapādaṭhapanasaraggahaṇasannahanaākaḍḍhana saddhāraṇalakkhaniyamanakhipane tiṇapurisakachakaṇa † tiṇapalālamattikāpuñjaphalakalakkhavedhe anusikkhāpetvā rañño santike upāsanaṃ ārādhayitvā ājaññarathagajaturaṅgadhanadhaññahiraññasuvaṇṇadāsidāsabhariyagāmavaraṃ labhati, evameva kho, mahārāja, ye te gihī agārikā kāmabhogino santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikaronti, te sabbe purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattheva cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihī yeva santā santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikaronti. Na, mahārāja, dhutaguṇesu pubbāsevanaṃ vinā ekissā yeva jātiyā arahattaṃ sacchikiriyā hoti, uttamena pana vīriyena uttamāya paṭipattiyā tathārūpena ācariyena kalyāṇamittena arahattaṃ sacchikiriyā hoti.
“Just as, great king, a skilled archer first trains his apprentice in the practice hall—teaching him about dismantling the bow, stringing the bow, grasping it, squeezing his fist, bending his fingers, positioning his feet, grasping the arrow, nocking it, drawing the bow, holding it steady, aiming, and shooting; and to pierce targets like grass men, piles of dung, mounds of grass and straw, and plank targets—and then, having pleased the king with his skill, receives thoroughbreds, chariots, elephants, horses, wealth, grain, silver, gold, male and female slaves, a wife, and the best of villages; even so, great king, those householders who, while enjoying sensual pleasures, realize the peaceful, supreme goal of Nibbāna, have all in past lives cultivated the thirteen ascetic qualities and prepared the groundwork. Having purified their conduct and practice there, now, even as householders, they realize the peaceful, supreme goal of Nibbāna. Great king, without prior cultivation of the ascetic qualities, the realization of Arahantship does not occur in a single lifetime. But with supreme effort, supreme practice, and a suitable teacher and good friend, the realization of Arahantship occurs.”
“Tâu Đại vương, ví như một cung thủ thiện nghệ, trước tiên dạy cho các đệ tử tại trường bắn về việc uốn cung, giương cung, cầm cung, nắm chặt, co ngón tay, thế đứng, lấy tên, lắp tên, kéo dây, giữ yên, nhắm mục tiêu, và bắn; rồi cho thực tập bắn vào các mục tiêu như hình nộm bằng cỏ, đống phân bò, đống cỏ, đống rơm, tấm ván. Sau khi làm hài lòng nhà vua bằng màn trình diễn bắn cung, vị ấy nhận được phần thưởng là xe ngựa quý, voi, ngựa, tài sản, lúa gạo, bạc, vàng, tôi trai, tớ gái, vợ, và làng tốt. Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, những người tại gia, sống đời gia đình, hưởng thụ các dục vọng mà chứng ngộ được Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng, tịch tịnh, tất cả những vị ấy trong các kiếp quá khứ đã từng thực hành mười ba phẩm chất đầu-đà, đã tạo tác nghiệp nền tảng. Các vị ấy, sau khi đã thanh lọc sự đi lại và sự thực hành ở chính nơi ấy, ngay trong hiện tại, dù vẫn là người tại gia, đã chứng ngộ được Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng, tịch tịnh. Tâu Đại vương, không có sự thực hành các phẩm chất đầu-đà từ trước mà có thể chứng ngộ được quả A-la-hán chỉ trong một kiếp. Tuy nhiên, với tinh tấn tối thượng, với sự thực hành tối thượng, với vị thầy tương xứng, và với bạn lành, thì có thể chứng ngộ được quả A-la-hán.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, bhisakko sallakatto ācariyaṃ dhanena vā vattappaṭipattiyā vā ārādhetvā sattaggahaṇachedanalekhanavedhanasalluddharaṇavaṇadhovanasosanabhesajjānulimpanavamana virecanānuvāsanakiriyamanusikkhitvā vijjāsu katasikkho katūpāsano katahattho āture upasaṅkamati tikicchāya, evameva kho, mahārāja, ye te gihī agārikā kāmabhogino santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikaronti, te sabbe purimāsu jātīsu terasasu dhutaguṇesu katūpāsanā katabhūmikammā, te tattheva cārañca paṭipattiñca sodhayitvā ajjetarahi gihī yeva santā santaṃ paramatthaṃ nibbānaṃ sacchikaronti, na, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṃ dhammābhisamayo hoti.
“Or just as, great king, a physician and surgeon, having pleased his teacher with wealth or by the performance of his duties, and having learned the procedures—taking up instruments, cutting, scraping, probing, extracting darts, washing wounds, drying them, applying medicine, anointing, inducing vomiting, inducing purgation, and administering enemas—having become trained in the sciences, practiced, and skilled, approaches the sick for treatment; even so, great king, those householders who, while enjoying sensual pleasures, realize the peaceful, supreme goal of Nibbāna—all of them in their past lives have cultivated the thirteen ascetic qualities and prepared the ground. Having purified their conduct and practice there, now, even as householders, they realize the peaceful, supreme goal of Nibbāna. For, great king, there is no realization of the Dhamma for those who are not purified by the ascetic qualities.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, một y sĩ, một nhà phẫu thuật, sau khi làm hài lòng thầy của mình bằng của cải hoặc bằng sự hầu hạ, đã học các kỹ thuật cầm dao, cắt, rạch, chích, nhổ gai, rửa vết thương, làm khô, đắp thuốc, gây nôn, cho xổ, và thụt rửa. Khi đã được huấn luyện về các môn học, đã thực hành, đã thuần thục, vị ấy mới đến gần người bệnh để chữa trị. Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, những người tại gia, sống đời gia đình, hưởng thụ các dục vọng mà chứng ngộ được Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng, tịch tịnh, tất cả những vị ấy trong các kiếp quá khứ đã từng thực hành mười ba phẩm chất đầu-đà, đã tạo tác nghiệp nền tảng. Các vị ấy, sau khi đã thanh lọc sự đi lại và sự thực hành ở chính nơi ấy, ngay trong hiện tại, dù vẫn là người tại gia, đã chứng ngộ được Niết-bàn, là chân nghĩa tối thượng, tịch tịnh. Tâu Đại vương, đối với những người không được thanh lọc bởi các phẩm chất đầu-đà thì không có sự chứng ngộ Chánh pháp.”
‘‘Yathā, mahārāja, udakassa asecanena bījānaṃ avirūhanaṃ hoti, evameva kho, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṃ dhammābhisamayo na hoti.
“Just as, great king, seeds do not sprout without being watered, so too, great king, for those not purified by the ascetic qualities, there is no realization of the Dhamma.”
“Tâu Đại vương, ví như do không được tưới nước, hạt giống không thể nảy mầm. Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, đối với những người không được thanh lọc bởi các phẩm chất đầu-đà thì không có sự chứng ngộ Chánh pháp.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, akatakusalānaṃ akatakalyāṇānaṃ sugatigamanaṃ na hoti, evameva kho, mahārāja, dhutaguṇehi avisuddhānaṃ dhammābhisamayo na hoti.
“Just as, great king, for those who have not done skillful and meritorious deeds, there is no going to a happy destination, so too, great king, for those not purified by the ascetic qualities, there is no realization of the Dhamma.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, đối với những người không làm điều thiện, không làm điều lành, thì không thể đi đến cõi lành. Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, đối với những người không được thanh lọc bởi các phẩm chất đầu-đà thì không có sự chứng ngộ Chánh pháp.”
‘‘Pathavisamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ patiṭṭhānaṭṭhena. Āposamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbakilesamaladhovanaṭṭhena. Tejosamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbakilesavanajjhāpanaṭṭhena. Vāyosamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbakilesamalarajopavāhanaṭṭhena. Agadasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbakilesabyādhivūpasamanaṭṭhena. Amatasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbakilesavisanāsanaṭṭhena. Khettasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbasāmaññaguṇasassavirūhanaṭṭhena. Manoharasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ patthiticchitasabbasampattivaradadaṭṭhena. Nāvāsamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ saṃsāramahaṇṇavapāragamanaṭṭhena. Bhīruttāṇasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ jarāmaraṇabhītānaṃ assāsakaraṇaṭṭhena. Mātusamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ kilesadukkhappaṭipīḷitānaṃ anuggāhakaṭṭhena. Pitusamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ kusalavaḍḍhikāmānaṃ sabbasāmaññaguṇajanakaṭṭhena. Mittasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbasāmaññaguṇapariyesanaavisaṃvādakaṭṭhena. Padumasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbakilesamalehi anupalittaṭṭhena. Catujjātiyavaragandhasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ kilesaduggandhapaṭivinodanaṭṭhena. Girirājavarasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ aṭṭhalokadhammavātehi akampiyaṭṭhena. Ākāsasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbattha gahaṇāpagatauruvisaṭavitthatamahantaṭṭhena. Nadīsamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ kilesamalapavāhanaṭṭhena. Sudesakasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ jātikantārakilesavanagahananittharaṇaṭṭhena. Mahāsatthavāhasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ sabbabhayasuññakhemaabhayavarapavaranibbānanagarasampāpanaṭṭhena. Sumajjitavimalādāsasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ saṅkhārānaṃ sabhāvadassanaṭṭhena. Phalakasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ kilesalaguḷasarasattipaṭibāhanaṭṭhena. Chattasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ kilesavassatividhaggisantāpātapapaṭibāhanaṭṭhena. Candasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ pihayitapatthitaṭṭhena. Sūriyasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ mohatamatimiranāsanaṭṭhena. Sāgarasamaṃ, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ anekavidhasāmaññaguṇavararatanuṭṭhānaṭṭhena, aparimitaasaṅkhyeyyaappameyyaṭṭhena ca. Evaṃ kho, mahārāja, dhutaguṇaṃ visuddhikāmānaṃ bahūpakāraṃ sabbadarathapariḷāhanudaṃ aratinudaṃ bhayanudaṃ bhavanudaṃ khīlanudaṃ malanudaṃ sokanudaṃ dukkhanudaṃ rāganudaṃ dosanudaṃ mohanudaṃ mānanudaṃ diṭṭhinudaṃ sabbākusaladhammanudaṃ yasāvahaṃ hitāvahaṃ sukhāvahaṃ phāsukaraṃ pītikaraṃ yogakkhemakaraṃ anavajjaṃ iṭṭhasukhavipākaṃ guṇarāsiguṇapuñjaṃ aparimitaasaṅkhyeyya appameyyaguṇaṃ varaṃ pavaraṃ aggaṃ.
“Great king, the ascetic qualities are like the earth for those who seek purity, in that they provide a foundation. Great king, the ascetic qualities are like water for those who seek purity, in that they wash away all defilements and impurities. Great king, the ascetic qualities are like fire for those who seek purity, in that they burn away the entire thicket of defilements. Great king, the ascetic qualities are like wind for those who seek purity, in that they blow away all the dust and dirt of defilements. Great king, the ascetic qualities are like an antidote for those who seek purity, in that they pacify all the diseases of defilements. Great king, the ascetic qualities are like nectar for those who seek purity, in that they destroy all the poison of defilements. Great king, the ascetic qualities are like a field for those who seek purity, in that they foster the growth of the crop of all qualities of the contemplative life. Great king, the ascetic qualities are like a wish-fulfilling gem for those who seek purity, in that they bestow all desired and wished-for supreme attainments. Great king, the ascetic qualities are like a ship for those who seek purity, in that they enable crossing the great ocean of saṃsāra. Great king, the ascetic qualities are like a refuge for the fearful for those who seek purity, in that they bring relief to those afraid of aging and death. Great king, the ascetic qualities are like a mother for those who seek purity, in that they support those oppressed by the suffering of defilements. Great king, the ascetic qualities are like a father for those who seek purity, in that they generate all the qualities of the contemplative life for those desiring the growth of the wholesome. Great king, the ascetic qualities are like a friend for those who seek purity, in that they are unfailing in the search for all qualities of the contemplative life. Great king, the ascetic qualities are like a lotus for those who seek purity, in that they are unstained by all the impurities of defilements. Great king, the ascetic qualities are like the finest fourfold fragrance for those who seek purity, in that they dispel the foul stench of defilements. Great king, the ascetic qualities are like the supreme king of mountains for those who seek purity, in that they are unshaken by the winds of the eight worldly conditions. Great king, the ascetic qualities are like the sky for those who seek purity, in that they are vast, expansive, extensive, and great, free from grasping anywhere. Great king, the ascetic qualities are like a river for those who seek purity, in that they carry away the impurities of defilements. Great king, the ascetic qualities are like a skilled guide for those who seek purity, in that they enable one to cross over the wilderness of birth and the dense thicket of the forest of defilements. Great king, the ascetic qualities are like a great caravan leader for those who seek purity, in that they lead to the supreme city of Nibbāna, which is void of all fear, secure, fearless, and the most excellent refuge. Great king, the ascetic qualities are like a well-polished, flawless mirror for those who seek purity, in that they show the intrinsic nature of formations. Great king, the ascetic qualities are like a shield for those who seek purity, in that they ward off the clubs, arrows, and spears of defilements. Great king, the ascetic qualities are like a parasol for those who seek purity, in that they ward off the rain of defilements and the tormenting heat of the three fires and the sun. Great king, the ascetic qualities are like the moon for those who seek purity, in that they are longed for and desired. Great king, the ascetic qualities are like the sun for those who seek purity, in that they destroy the deep darkness of delusion. Great king, the ascetic qualities are like the ocean for those who seek purity, in that they are the source of many kinds of excellent jewels, the qualities of the contemplative life, and in that they are immeasurable, incalculable, and beyond measure. Thus, great king, the ascetic qualities are of great benefit to those who seek purity. They dispel all distress and burning; they dispel aversion, fear, existence, obstacles, impurity, grief, suffering, lust, hatred, delusion, conceit, wrong views, and all unwholesome states. They bring fame, welfare, and happiness; they create ease and joy; they bring security from bondage; they are blameless, have pleasant results as their fruit, are a heap of virtues, an accumulation of virtues, of immeasurable, incalculable, and boundless quality—excellent, most excellent, and foremost.”
“Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như đất, vì có ý nghĩa là nền tảng. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như nước, vì có ý nghĩa là rửa sạch mọi cấu uế phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như lửa, vì có ý nghĩa là thiêu đốt vết thương phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như gió, vì có ý nghĩa là thổi bay đi bụi bặm cấu uế phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như thuốc giải độc, vì có ý nghĩa là làm lắng dịu bệnh hoạn phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như cam lồ, vì có ý nghĩa là tiêu trừ nọc độc phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như thửa ruộng, vì có ý nghĩa là làm nảy mầm mùa màng là tất cả các phẩm hạnh Sa-môn. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như ngọc như ý, vì có ý nghĩa là ban cho tất cả các tài sản cao quý được mong mỏi và ước muốn. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như chiếc thuyền, vì có ý nghĩa là đi qua bờ bên kia của đại dương luân hồi. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như nơi nương tựa cho người sợ hãi, vì có ý nghĩa là làm ra sự an ổn cho những người sợ hãi tuổi già và cái chết. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như người mẹ, vì có ý nghĩa là người nâng đỡ cho những ai bị áp bức bởi khổ đau phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như người cha, vì có ý nghĩa là người sinh ra tất cả các phẩm hạnh Sa-môn cho những ai mong cầu sự tăng trưởng thiện pháp. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như người bạn, vì có ý nghĩa là không lừa dối trong việc tìm cầu tất cả các phẩm hạnh Sa-môn. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như hoa sen, vì có ý nghĩa là không bị lấm bẩn bởi bùn nhơ phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như hương thơm cao quý của bốn loại, vì có ý nghĩa là xua tan mùi hôi của phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như vua núi cao quý, vì có ý nghĩa là không bị lay động bởi những ngọn gió của tám pháp thế gian. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như hư không, vì có ý nghĩa là rộng lớn, bao la, mênh mông, vĩ đại, thoát khỏi sự nắm giữ ở khắp mọi nơi. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như dòng sông, vì có ý nghĩa là cuốn trôi đi cấu uế phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như người chỉ đường giỏi, vì có ý nghĩa là vượt thoát khỏi vùng hoang địa của sự sanh và khu rừng rậm của phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như người trưởng đoàn lữ hành vĩ đại, vì có ý nghĩa là đưa đến thành phố Niết-bàn cao quý, tuyệt vời, trống không mọi sợ hãi, an ổn, vô úy. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như tấm gương trong sạch không tỳ vết được lau chùi kỹ lưỡng, vì có ý nghĩa là cho thấy bản chất của các pháp hữu vi. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như cái khiên, vì có ý nghĩa là ngăn chặn gậy gộc, mũi tên, ngọn giáo của phiền não. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như cái lọng, vì có ý nghĩa là ngăn chặn cơn mưa phiền não và sức nóng của mặt trời là ba ngọn lửa. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như mặt trăng, vì có ý nghĩa là được khao khát và mong mỏi. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như mặt trời, vì có ý nghĩa là tiêu diệt bóng tối dày đặc của vô minh. Tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà, đối với những người mong cầu sự thanh tịnh, thì tương tự như đại dương, vì có ý nghĩa là nơi phát sinh các loại bảo vật cao quý là phẩm hạnh Sa-môn, và vì có ý nghĩa là vô lượng, vô số, không thể đo lường. Tâu Đại vương, quả thực như vậy, phẩm hạnh đầu-đà đối với những người mong cầu sự thanh tịnh là có nhiều lợi ích, loại trừ mọi sầu muộn và phiền não, loại trừ sự không hoan hỷ, loại trừ sự sợ hãi, loại trừ sự tồn tại, loại trừ sự cứng nhắc, loại trừ cấu uế, loại trừ sầu bi, loại trừ khổ đau, loại trừ tham ái, loại trừ sân hận, loại trừ si mê, loại trừ ngã mạn, loại trừ tà kiến, loại trừ tất cả các pháp bất thiện, mang lại danh tiếng, mang lại lợi ích, mang lại hạnh phúc, tạo sự thoải mái, tạo sự hoan hỷ, tạo sự an ổn khỏi các ách phược, không thể chê trách, có kết quả là hạnh phúc mong muốn, là một khối lượng phẩm hạnh, một kho tàng phẩm hạnh, có phẩm hạnh vô lượng, vô số, không thể đo lường, là cao quý, tuyệt vời, tối thượng.”
‘‘Yathā, mahārāja, manussā upatthambhavasena bhojanaṃ upasevanti, hitavasena bhesajjaṃ upasevanti, upakāravasena mittaṃ upasevanti, tāraṇavasena nāvaṃ upasevanti, sugandhavasena mālāgandhaṃ upasevanti, abhayavasena bhīruttāṇaṃ upasevanti, patiṭṭhāvasena † pathaviṃ upasevanti, sippavasena ācariyaṃ upasevanti, yasavasena rājānaṃ upasevanti, kāmadadavasena maṇiratanaṃ upasevanti, evameva kho, mahārāja, sabbasāmaññaguṇadadavasena ariyā dhutaguṇaṃ upasevanti.
“Great king, just as people resort to food for the sake of sustenance, resort to medicine for the sake of their welfare, resort to a friend for the sake of help, resort to a boat for the sake of crossing over, resort to garlands and perfumes for the sake of fragrance, resort to a refuge for the fearful for the sake of security, resort to the earth for the sake of a foundation, resort to a teacher for the sake of skill, resort to a king for the sake of renown, and resort to a precious gem for its power to grant desires—even so, great king, the noble ones resort to the ascetic qualities because they bestow all the qualities of the contemplative life.”
“Tâu Đại vương, ví như loài người nương tựa vào vật thực vì lý do nâng đỡ, nương tựa vào thuốc men vì lý do lợi ích, nương tựa vào bạn bè vì lý do giúp đỡ, nương tựa vào thuyền bè vì lý do vượt qua, nương tựa vào vòng hoa và hương thơm vì lý do hương thơm, nương tựa vào nơi trú ẩn cho người sợ hãi vì lý do an toàn, nương tựa vào đất đai vì lý do nền tảng, nương tựa vào thầy tổ vì lý do nghề nghiệp, nương tựa vào đức vua vì lý do danh tiếng, nương tựa vào ngọc báu vì lý do ban cho điều mong muốn. Tâu Đại vương, cũng tương tự như thế, các bậc Thánh nhân nương tựa vào phẩm hạnh đầu-đà vì lý do ban cho tất cả các phẩm hạnh của Sa-môn.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, udakaṃ bījavirūhanāya, aggi jhāpanāya, āhāro balāharaṇāya, latā bandhanāya, satthaṃ chedanāya, pānīyaṃ pipāsāvinayanāya, nidhi assāsakaraṇāya, nāvā tīrasampāpanāya, bhesajjaṃ byādhivūpasamanāya, yānaṃ sukhagamanāya, bhīruttāṇaṃ bhayavinodanāya, rājā ārakkhatthāya, phalakaṃ daṇḍaleḍḍulaguḷasarasattipaṭibāhanāya, ācariyo anusāsanāya, mātā posanāya, ādāso olokanāya, alaṅkāro sobhanāya, vatthaṃ paṭicchādanāya, nisseṇī ārohanāya, tulā visamavikkhepanāya †, mantaṃ parijappanāya, āvudhaṃ tajjanīyapaṭibāhanāya, padīpo andhakāravidhamanāya, vāto pariḷāhanibbāpanāya, sippaṃ vuttinipphādanāya, agadaṃ jīvitarakkhaṇāya, ākaro ratanuppādanāya, ratanaṃ alaṅkarāya, āṇā anatikkamanāya, issariyaṃ vasavattanāya, evameva kho, mahārāja, dhutaguṇaṃ sāmaññabījavirūhanāya, kilesamalajhāpanāya, iddhibalāharaṇāya, satisaṃvaranibandhanāya, vimativicikicchāsamucchedanāya, taṇhāpipāsāvinayanāya, abhisamayaassāsakaraṇāya, caturoghanittharaṇāya, kilesabyādhivūpasamāya, nibbānasukhappaṭilābhāya, jātijarābyādhimaraṇasokaparidevadukkhadomanassupāyāsabhayavinodanāya, sāmaññaguṇaparirakkhaṇāya, aratikuvitakkapaṭibāhanāya, sakalasāmaññatthānusāsanāya, sabbasāmaññaguṇaposanāya, samathavipassanāmaggaphalanibbānadassanāya, sakalalokathutathomitamahatimahāsobhanakaraṇāya, sabbāpāyapidahanāya, sāmaññatthaselasikharamuddhani abhirūhanāya, vaṅkakuṭilavisamacittavikkhepanāya †, sevitabbāsevitabbadhamme sādhusajjhāyakaraṇāya, sabbakilesapaṭisattutajjanāya, avijjandhakāravidhamanāya, tividhaggisantāpapariḷāhanibbāpanāya, saṇhasukhumasantasamāpattinipphādanāya, sakalasāmaññaguṇaparirakkhaṇāya, bojjhaṅgavararatanuppādanāya, yogijanālaṅkaraṇāya, anavajjanipuṇasukhumasantisukhamanatikkamanāya, sakalasāmaññaariyadhammavasavattanāya. Iti, mahārāja, imesaṃ guṇānaṃ adhigamāya yadidaṃ ekamekaṃ dhutaguṇaṃ, evaṃ, mahārāja, atuliyaṃ dhutaguṇaṃ appameyyaṃ asamaṃ appaṭisamaṃ appaṭibhāgaṃ appaṭiseṭṭhaṃ uttaraṃ seṭṭhaṃ visiṭṭhaṃ adhikaṃ āyataṃ puthulaṃ visaṭaṃ vitthataṃ garukaṃ bhāriyaṃ mahantaṃ.
Just as, great king, water is for the growth of seeds, fire for burning, food for sustaining strength, vines for binding, a knife for cutting, drink for quenching thirst, a treasure for comfort, a boat for reaching the shore, medicine for curing illness, a vehicle for easy travel, a protector for dispelling fear, a king for protection, a shield for warding off sticks, clods, clubs, arrows, and spears, a teacher for instruction, a mother for nurturing, a mirror for reflection, ornaments for beauty, cloth for covering, a ladder for climbing, a scale for dispelling imbalance, a mantra for chanting, a weapon for warding off threats, a lamp for dispelling darkness, wind for cooling heat, a craft for producing livelihood, an antidote for preserving life, a mine for producing gems, a gem for adornment, a command for not transgressing, sovereignty for exercising power—so too, great king, the ascetic qualities are for the growth of the seeds of recluseship, for burning the stains of defilements, for acquiring the power of psychic abilities, for binding restraint with mindfulness, for cutting off doubt and uncertainty, for quenching the thirst of craving, for providing the comfort of realization, for crossing the four floods, for pacifying the illness of defilements, for attaining the bliss of Nibbāna, for dispelling the fears of birth, aging, sickness, death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair, for protecting the qualities of recluseship, for warding off discontent and unwholesome thoughts, for instructing in all the benefits of recluseship, for nurturing all the virtues of recluseship, for the seeing of serenity, insight, the path, its fruition, and Nibbāna, for making the whole world resound with praise and admiration, for closing off all the lower realms, for ascending the summit of the mountain of the goal of recluseship, for dispelling a crooked, twisted, and unbalanced mind, for the proper recitation of the teachings to be cultivated and not to be cultivated, for threatening all the hostile defilements, for dispelling the darkness of ignorance, for extinguishing the torment and feverish heat of the threefold fires, for attaining gentle, subtle, and peaceful meditative states, for safeguarding all the virtues of recluseship, for producing the supreme gems of the enlightenment factors, for the adornment of yogis, for not transgressing the flawless, refined, subtle, peaceful happiness, for exercising mastery over all the noble Dhamma of recluseship. Thus, great king, for the attainment of these qualities, each ascetic quality is incomparable, immeasurable, unequaled, matchless, unsurpassed, supreme, excellent, superior, distinguished, extensive, vast, broad, weighty, heavy, and great.
“Tâu Đại vương, lại nữa, ví như nước là để cho hạt giống nảy mầm, lửa là để thiêu đốt, vật thực là để mang lại sức mạnh, dây leo là để trói buộc, khí giới là để cắt đứt, nước uống là để dập tắt cơn khát, kho tàng là để tạo sự an ổn, thuyền là để đưa đến bờ, thuốc là để làm dịu bệnh tật, xe cộ là để đi lại an lạc, nơi nương tựa của người sợ hãi là để xua tan nỗi sợ, vua là để bảo vệ, khiên là để ngăn chặn gậy, sỏi, dùi, tên, và giáo, thầy là để giáo huấn, mẹ là để nuôi dưỡng, gương là để soi, đồ trang sức là để làm đẹp, y phục là để che thân, thang là để leo lên, cân là để loại bỏ sự không đồng đều, thần chú là để trì tụng, vũ khí là để ngăn chặn sự đe dọa, đèn là để xua tan bóng tối, gió là để dập tắt sự nóng bức, nghề nghiệp là để hoàn thành việc sinh nhai, thuốc giải là để bảo vệ mạng sống, mỏ là để tạo ra châu báu, châu báu là để trang sức, mệnh lệnh là để không bị vượt qua, quyền lực là để cai quản; cũng vậy, tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà là để cho hạt giống Sa-môn nảy mầm, để thiêu đốt cấu uế của phiền não, để mang lại thần thông lực, để trói buộc bằng sự phòng hộ của chánh niệm, để cắt đứt sự hoài nghi và do dự, để dập tắt cơn khát ái, để tạo sự an ổn của sự chứng ngộ, để vượt qua bốn dòng bộc lưu, để làm dịu bệnh phiền não, để đạt được hạnh phúc Niết-bàn, để xua tan nỗi sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, để bảo vệ các phẩm hạnh Sa-môn, để ngăn chặn sự bất mãn và các tư duy xấu ác, để giáo huấn về toàn bộ ý nghĩa của Sa-môn, để nuôi dưỡng tất cả các phẩm hạnh Sa-môn, để thấy được chỉ, quán, đạo, quả, và Niết-bàn, để tạo ra vẻ đẹp vĩ đại được toàn thế gian ca tụng tán thán, để đóng lại tất cả các đường ác đạo, để leo lên đỉnh núi của mục đích Sa-môn, để loại bỏ tâm cong vẹo, gian trá, không đồng đều, để thực hành tốt việc tụng đọc các pháp nên và không nên thực hành, để đe dọa tất cả kẻ thù phiền não, để xua tan bóng tối vô minh, để dập tắt sự thiêu đốt nóng bức của ba ngọn lửa, để hoàn thành các tầng thiền định vi tế, tinh diệu, và an tịnh, để bảo vệ tất cả các phẩm hạnh Sa-môn, để tạo ra châu báu giác chi cao quý, để làm đồ trang sức cho hành giả, để không vượt qua hạnh phúc vô tội, tinh tế, vi diệu, và an tịnh, để cai quản toàn bộ Thánh pháp của Sa-môn. Tâu Đại vương, chính là để đạt được những phẩm hạnh này mà có từng pháp đầu-đà một. Như vậy, tâu Đại vương, phẩm hạnh đầu-đà là vô song, vô lượng, không gì sánh bằng, không đối thủ, không tương đương, không gì hơn, là tối thượng, là cao tột, là đặc thù, là siêu việt, là dài, là rộng, là lan tỏa, là bao la, là nặng nề, là trọng đại, là vĩ đại.”
‘‘Yo kho, mahārāja, puggalo pāpiccho icchāpakato kuhako luddho odariko lābhakāmo yasakāmo kittikāmo ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo dhutaṅgaṃ † samādiyati, so diguṇaṃ daṇḍamāpajjati, sabbaguṇaghātamāpajjati, diṭṭhadhammikaṃ hīḷanaṃ khīḷanaṃ garahanaṃ uppaṇḍanaṃ khipanaṃ asambhogaṃ nissāraṇaṃ nicchubhanaṃ pavāhanaṃ pabbājanaṃ paṭilabhati, samparāyepi satayojanike avīcimahāniraye uṇhakaṭhitatattasantattaaccijālāmālake anekavassakoṭisatasahassāni uddhamadho tiriyaṃ pheṇuddehakaṃ samparivattakaṃ paccati, tato muccitvā † kisapharusakāḷaṅgapaccaṅgo sūnuddhumātasusiruttamaṅgo † chāto pipāsito visamabhīmarūpavaṇṇo bhaggakaṇṇasoto ummīlitanimīlitanettanayano arugattapakkagatto puḷavākiṇṇasabbakāyo vātamukhe jalamāno viya aggikkhandho anto jalamāno pajjalamāno atāṇo asaraṇo āruṇṇaruṇṇakāruññaravaṃ paridevamāno nijjhāmataṇhiko samaṇamahāpeto hutvā āhiṇḍamāno mahiyā aṭṭassaraṃ karoti.
Great king, any person who is of evil desires, overcome by craving, deceitful, greedy, gluttonous, desirous of gain, fame, and praise—unfit, unattained, unsuitable, unworthy, and unbefitting—who undertakes the ascetic practices, incurs a double punishment. He incurs the destruction of all virtues. In this very life, he meets with scorn, mockery, censure, revulsion, spurning, non-association, removal, denigration, expulsion, and banishment. In the life to come, for many hundreds of thousands of kotis of years, he is cooked in the Avīci great hell, a hundred yojanas wide, a place of fierce, blazing, scorching, burning flames, tossed up, down, and sideways like a frothing wave. After being released from there, with an emaciated, rough, and blackened body, with a swollen, bloated, and perforated head, hungry and thirsty, with a dreadful appearance and complexion, with broken ear canals, with eyes that open and close, with a body festering with sores and boils, his whole body swarming with worms, like a mass of fire blazing in the wind, burning and blazing internally, without protection, without refuge, wailing a piteous, painful cry of lamentation, he becomes a great ascetic-ghost of the kind burnt by thirst, and wandering upon the earth, he makes a cry of distress.
“Tâu Đại vương, người nào có ước muốn xấu xa, bị lòng tham chi phối, gian xảo, tham lam, tham ăn, ham muốn lợi lộc, ham muốn danh vọng, ham muốn tiếng tăm, không xứng đáng, không thích hợp, không tương xứng, không đáng, không phù hợp, mà lại thọ trì pháp đầu-đà, người ấy phải chịu hình phạt gấp đôi, đi đến sự hủy hoại tất cả các phẩm hạnh. Ngay trong hiện tại, người ấy nhận lãnh sự khinh miệt, chê bai, chỉ trích, chế giễu, phỉ báng, không được chung sống, bị trục xuất, bị đuổi đi, bị loại bỏ, bị xua đuổi. Về đời sau, trong đại địa ngục A-tỳ rộng một trăm do-tuần, nóng bỏng, sôi sục, rực cháy, bao bọc bởi lưới lửa, người ấy bị nấu trong nhiều trăm ngàn ức năm, bị quăng lên, quật xuống, ném ngang dọc như bọt nước. Sau khi thoát khỏi đó, người ấy trở thành một hạng ngạ quỷ lớn của Sa-môn tên là Nijjhāmataṇhika (Kẻ bị thiêu đốt bởi ái dục), thân thể gầy gò, thô ráp, đen đúa, đầu sưng phồng rỗng tuếch như chó chết, đói khát, hình sắc dị dạng đáng sợ, tai mũi gãy nát, mắt lúc nhắm lúc mở, thân mình đầy mụn nhọt lở loét, toàn thân lúc nhúc dòi bọ, cháy bỏng từ bên trong như một khối lửa đặt trước gió, rực cháy, không nơi nương tựa, không nơi trú ẩn, than khóc với tiếng kêu thảm thiết, đi lang thang trên mặt đất và tạo ra những tiếng kêu đau đớn.”
‘‘Yathā, mahārāja, koci ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo hīno kujātiko khattiyābhisekena abhisiñcati, so labhati hatthacchedaṃ pādacchedaṃ hatthapādacchedaṃ kaṇṇacchedaṃ nāsacchedaṃ kaṇṇanāsacchedaṃ bilaṅgathālikaṃ saṅkhamuṇḍikaṃ rāhumukhaṃ jotimālikaṃ hatthapajjotikaṃ erakavattikaṃ cīrakavāsikaṃ eṇeyyakaṃ baḷisamaṃsikaṃ kahāpaṇakaṃ khārāpatacchikaṃ palighaparivattikaṃ palālapīṭhakaṃ tattena telena osiñcanaṃ sunakhehi khādāpanaṃ jīvasūlāropanaṃ asinā sīsacchedaṃ anekavihitampi kammakāraṇaṃ anubhavati. Kiṃ kāraṇā? Ayutto appatto ananucchaviko anaraho appatirūpo hīno kujātiko mahante issariye ṭhāne attānaṃ ṭhapesi, velaṃ ghātesi, evameva kho, mahārāja, yo koci puggalo pāpiccho…pe… mahiyā aṭṭassaraṃ karoti.
Just as, great king, if some unfit, unattained, unsuitable, unworthy, unbefitting, and low-born wretch were to be anointed with a king's anointing, he would suffer the cutting off of his hands, feet, hands and feet, ears, nose, ears and nose, the 'bowl-scraping torture,' the 'shell-head torture,' the 'Rāhu-mouth torture,' the 'garland of flames,' the 'hand-torch torture,' the 'straw-mat tunic,' the 'bark-dress torture,' the 'antelope torture,' the 'meat-hook torture,' the 'coin torture,' the 'lye-pickle torture,' the 'bar-turn torture,' the 'straw-seat torture,' being doused with boiling oil, being fed to dogs, being impaled alive, and having his head cut off with a sword—he would endure many kinds of punishment. Why is that? Because he, unfit, unattained, unsuitable, unworthy, unbefitting, a low-born wretch, placed himself in a position of great authority—he crossed the line. In the same way, great king, any person who is of evil desires...makes a harsh sound on the earth.
“Tâu Đại vương, ví như có kẻ nào không xứng đáng, không thích hợp, không tương xứng, không đáng, không phù hợp, thuộc dòng dõi thấp kém, xấu xa, lại được làm lễ quán đảnh của vương tộc, kẻ ấy phải chịu hình phạt chặt tay, chặt chân, chặt cả tay chân, xẻo tai, xẻo mũi, xẻo cả tai mũi, hình phạt ‘nồi cháo’, hình phạt ‘đầu vỏ ốc’, hình phạt ‘miệng La-hầu’, hình phạt ‘vòng hoa lửa’, hình phạt ‘ngọn đuốc tay’, hình phạt ‘áo choàng cỏ’, hình phạt ‘áo vỏ cây’, hình phạt ‘con nai’, hình phạt ‘móc thịt’, hình phạt ‘đồng tiền thịt’, hình phạt ‘muối dưa’, hình phạt ‘xoay chốt cửa’, hình phạt ‘đệm rơm’, bị tưới dầu sôi, bị chó ăn, bị xiên cọc lúc còn sống, bị chém đầu bằng gươm, và phải chịu nhiều loại hình phạt khác nữa. Vì lý do gì? Vì kẻ không xứng đáng, không thích hợp, không tương xứng, không đáng, không phù hợp, thuộc dòng dõi thấp kém, xấu xa, đã tự đặt mình vào địa vị quyền lực to lớn, đã vi phạm giới hạn. Cũng vậy, tâu Đại vương, bất cứ người nào có ước muốn xấu xa… (lược)… đi lang thang trên mặt đất và tạo ra những tiếng kêu đau đớn.”
‘‘Yo pana, mahārāja, puggalo yutto patto anucchaviko araho patirūpo appiccho santuṭṭho pavivitto asaṃsaṭṭho āraddhavīriyo pahitatto asaṭho amāyo anodariko alābhakāmo ayasakāmo akittikāmo saddho saddhāpabbajito jarāmaraṇā muccitukāmo ‘sāsanaṃ paggaṇhissāmī’ti dhutaṅgaṃ samādiyati, so diguṇaṃ pūjaṃ arahati devānañca piyo hoti manāpo pihayito patthito, jātisumanamallikādīnaṃ viya pupphaṃ nahātānulittassa, jighacchitassa viya paṇītabhojanaṃ, pipāsitassa viya sītalavimalasurabhipānīyaṃ, visagatassa viya osadhavaraṃ, sīghagamanakāmassa viya ājaññarathavaruttamaṃ, atthakāmassa viya manoharamaṇiratanaṃ, abhisiñcitukāmassa viya paṇḍaravimalasetacchattaṃ, dhammakāmassa viya arahattaphalādhigamamanuttaraṃ. Tassa cattāro satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṃ gacchanti, cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṃ gacchati, samathavipassanā adhigacchati, adhigamappaṭipatti pariṇamati, cattāri sāmaññaphalāni catasso paṭisambhidā tisso vijjā chaḷabhiññā kevalo ca samaṇadhammo sabbe tassādheyyā honti, vimuttipaṇḍaravimalasetacchattena abhisiñcati.
O great king, whoever is a person who is fit, attained, suitable, worthy, befitting, of few desires, content, secluded, not mixing much, energetic, resolute, not deceitful, not fraudulent, not gluttonous, not desirous of gain, not desirous of esteem, not desirous of praise, faithful, gone forth out of faith, desiring release from old age and death, thinking 'I will uphold the teaching,' and undertakes ascetic practices—he is worthy of double honor. He is dear and pleasing to the gods, longed for and aspired to, like a flower of jasmine or jasmine creeper for one who is bathed and anointed, like exquisite food for one who is hungry, like cool, clear, fragrant drink for one who is thirsty, like the best medicine for one who is poisoned, like the finest thoroughbred chariot for one who desires swift travel, like a delightful gem for one who seeks wealth, like a white, spotless parasol for one who desires anointment, like the unsurpassed attainment of arahantship for one who desires the Dhamma. For him, the four foundations of mindfulness reach full development, the four right efforts, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, the noble eightfold path reach full development. He attains serenity and insight, his practice matures, the four fruits of recluseship, the four analytical knowledges, the three knowledges, the six direct knowledges, and the entire recluse's practice become accessible to him. He is anointed with the white, spotless parasol of liberation.
Tâu Đại vương, còn người nào thích hợp, xứng đáng, tương xứng, phù hợp, thích đáng với hạnh đầu-đà, là người thiểu dục, tri túc, sống độc cư, không giao du, tinh tấn, có tâm hướng đến Niết-bàn, không xảo trá, không gian dối, không lo nghĩ đến bụng, không mong cầu lợi lộc, không mong cầu danh vọng, không mong cầu tiếng tăm, có đức tin, xuất gia vì đức tin, mong muốn giải thoát khỏi già và chết, thọ trì hạnh đầu-đà với ý nghĩ ‘Ta sẽ xiển dương giáo Pháp,’ vị ấy xứng đáng được cúng dường gấp đôi, được chư Thiên yêu mến, quý trọng, ao ước, và mong mỏi. Ví như hoa lài, hoa nhài xứng đáng với người đã tắm gội và thoa dầu thơm; như món ăn thượng vị xứng đáng với người đang đói; như nước uống mát lạnh, trong sạch, thơm tho xứng đáng với người đang khát; như thuốc hay xứng đáng với người bị trúng độc; như cỗ xe tối thượng do ngựa thuần chủng kéo xứng đáng với người muốn đi nhanh; như ngọc báu đẹp đẽ xứng đáng với người mong cầu lợi ích; như lọng trắng tinh khiết không tỳ vết xứng đáng với vị vua muốn làm lễ quán đảnh; như sự chứng đắc quả A-la-hán vô thượng xứng đáng với người mong cầu Chánh pháp. Đối với vị ấy, bốn Niệm xứ đi đến sự viên mãn trong tu tập; bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, Thánh đạo Tám ngành đi đến sự viên mãn trong tu tập. Vị ấy chứng đắc thiền chỉ và thiền quán, pháp hành để chứng đắc được thuần thục. Bốn quả Sa-môn, bốn Tuệ phân tích, ba Minh, sáu Thắng trí, và toàn bộ pháp Sa-môn, tất cả đều thuộc về vị ấy. Vị ấy được làm lễ quán đảnh với chiếc lọng trắng tinh khiết không tỳ vết của sự giải thoát.
‘‘Yathā, mahārāja, rañño khattiyassa abhijātakulakulīnassa khattiyābhisekena abhisittassa paricaranti saraṭṭhanegamajānapadabhaṭabalā † aṭṭhattiṃsā ca rājaparisā naṭanaccakā mukhamaṅgalikā sotthivācakā samaṇabrāhmaṇasabbapāsaṇḍagaṇā abhigacchanti, yaṃ kiñci pathaviyā paṭṭanaratanākaranagarasuṅkaṭṭhānaverajjakachejjabhejjajanamanusāsanaṃ sabbattha sāmiko bhavati, evameva kho, mahārāja, yo koci puggalo yutto patto…pe… vimuttipaṇḍaravimalasetacchattena abhisiñcati.
Just as, great king, a king of noble birth and lineage, anointed with the consecration of a khattiya, is attended by the people of his own territory, towns, and countryside, by his soldiers and forces, and by the thirty-eight divisions of the royal retinue—dancers, performers, those who speak auspicious words, and well-wishers; and ascetics, brahmins, and groups of all sects approach him; and in all matters on earth—in port towns, gem mines, cities, toll collection points, and foreign territories, in the administration of the people including punishments and sentences—everywhere he is the lord. Even so, great king, whatever individual is fit and has attained... he is anointed with the white, immaculate, spotless parasol of liberation.
Tâu Đại vương, ví như một vị vua thuộc dòng Sát-đế-lỵ, có gia thế và dòng dõi cao quý, đã được làm lễ quán đảnh của dòng Sát-đế-lỵ, thì được các đạo quân và binh lính của quốc độ, thị trấn, và thôn quê, cùng ba mươi tám đoàn tùy tùng của hoàng gia, các vũ công và diễn viên phục vụ. Những người nói lời tốt lành, những người chúc phúc, và tất cả các nhóm Sa-môn, Bà-la-môn thuộc mọi giáo phái đều đến gần. Vị ấy trở thành người chủ ở khắp mọi nơi đối với bất cứ sự giáo huấn nào dành cho dân chúng ở các bến cảng, mỏ châu báu, thành phố, trạm thuế quan, và các vùng biên địa trên mặt đất. Cũng vậy, tâu Đại vương, bất cứ người nào thích hợp, xứng đáng... (v.v.)... đều được làm lễ quán đảnh với chiếc lọng trắng tinh khiết không tỳ vết của sự giải thoát.
‘‘Terasimāni, mahārāja, dhutaṅgāni, yehi suddhikato nibbānamahāsamuddaṃ pavisitvā bahuvidhaṃ dhammakīḷamabhikīḷati, rūpārūpaaṭṭhasamāpattiyo vaḷañjeti, iddhividhaṃ dibbasotadhātuṃ paracittavijānanaṃ pubbenivāsānussatiṃ dibbacakkhuṃ sabbāsavakkhayañca pāpuṇāti. Katame terasa? Paṃsukūlikaṅgaṃ tecīvarikaṅgaṃ piṇḍapātikaṅgaṃ sapadānacārikaṅgaṃ ekāsanikaṅgaṃ pattapiṇḍikaṅgaṃ khalupacchābhattikaṅgaṃ āraññikaṅgaṃ rukkhamūlikaṅgaṃ abbhokāsikaṅgaṃ sosānikaṅgaṃ yathāsanthatikaṅgaṃ nesajjikaṅgaṃ, imehi kho, mahārāja, terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi kevalaṃ sāmaññaṃ paṭilabhati, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Great king, there are these thirteen ascetic practices, by which, having been purified, one enters the great ocean of Nibbāna and enjoys the manifold play of the Dhamma. One makes use of the eight attainments of the form and formless spheres, and attains the various supernormal powers, the divine ear element, the knowledge of others’ minds, the recollection of past lives, the divine eye, and the destruction of all taints. What are the thirteen? The practice of wearing rag-robes, the practice of using only three robes, the practice of eating alms-food, the practice of going for alms from house to house without omission, the practice of eating in one session, the practice of eating only from the alms-bowl, the practice of refusing food offered after one has finished eating, the practice of dwelling in the forest, the practice of dwelling at the foot of a tree, the practice of dwelling in the open air, the practice of dwelling in a charnel ground, the practice of being satisfied with whatever dwelling one has, and the practice of constantly sitting and not lying down. By these thirteen ascetic qualities, great king, previously cultivated, frequented, practiced, fully practiced, followed, attended to, and perfected, one attains the complete state of a recluse. All the pure, peaceful, and pleasant attainments are at his command.
Tâu Đại vương, có mười ba hạnh đầu-đà này, nhờ đó người đã được thanh lọc, sau khi đi vào đại dương Niết-bàn, có thể vui hưởng nhiều loại pháp hỷ. Vị ấy có thể sử dụng tám bậc thiền chứng Sắc giới và Vô sắc giới. Vị ấy có thể đạt được Thần túc thông, Thiên nhĩ giới, Tha tâm thông, Túc mạng thông, Thiên nhãn thông, và sự đoạn tận các lậu hoặc. Mười ba hạnh ấy là gì? Hạnh mặc y phấn tảo, hạnh chỉ dùng ba y, hạnh chỉ ăn đồ khất thực, hạnh đi khất thực theo thứ tự từng nhà, hạnh ngồi ăn một lần, hạnh chỉ ăn trong bát, hạnh không nhận thêm đồ ăn sau khi đã bắt đầu ăn, hạnh ở trong rừng, hạnh ở dưới gốc cây, hạnh ở ngoài trời, hạnh ở nghĩa địa, hạnh ở bất cứ chỗ nào được chỉ định, hạnh ngồi (không nằm). Tâu Đại vương, chính nhờ mười ba phẩm hạnh đầu-đà này, đã được thực hành, tu tập, thường xuyên thực hành, liên tục thực hành, theo đuổi, liên tục theo đuổi, và làm cho viên mãn trong quá khứ, vị Thánh đệ tử đạt được toàn bộ quả Sa-môn. Tất cả các bậc thiền chứng an tịnh và an lạc đều thuộc về vị ấy.
‘‘Yathā, mahārāja, sadhano nāviko paṭṭane suṭṭhu katasuṅko mahāsamuddaṃ pavisitvā vaṅgaṃ takkolaṃ cīnaṃ sovīraṃ suraṭṭhaṃ alasandaṃ kolapaṭṭanaṃ suvaṇṇabhūmiṃ gacchati aññampi yaṃ kiñci nāvāsañcaraṇaṃ, evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi kevalaṃ sāmaññaṃ paṭilabhati, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Just as, great king, a wealthy ship's captain, having duly paid customs duties at the port, enters the great ocean and travels to Vaṅga, Takkola, Cīna, Sovīra, Suraṭṭha, Alasanda, Kolapaṭṭana, Suvaṇṇabhūmi, and to any other destination whatsoever reachable by ship; even so, great king, by these thirteen ascetic qualities, previously cultivated, frequented, practiced, fully practiced, followed, attended to, and perfected, one attains the complete state of a recluse, and all the pure, peaceful, and pleasant attainments are at his command.
Tâu Đại vương, ví như một người chủ tàu giàu có, sau khi đã nộp đủ thuế quan ở bến cảng, đi vào đại dương và đến các xứ Vaṅga, Takkola, Cīna, Sovīra, Suraṭṭha, Alasanda, Kolapaṭṭana, Suvaṇṇabhūmi, và bất cứ nơi nào khác mà tàu thuyền có thể đến được. Cũng vậy, tâu Đại vương, chính nhờ mười ba phẩm hạnh đầu-đà này, đã được thực hành, tu tập, thường xuyên thực hành, liên tục thực hành, theo đuổi, liên tục theo đuổi, và làm cho viên mãn trong quá khứ, vị ấy đạt được toàn bộ quả Sa-môn. Tất cả các bậc thiền chứng an tịnh và an lạc đều thuộc về vị ấy.
‘‘Yathā, mahārāja, kassako paṭhamaṃ khettadosaṃ tiṇakaṭṭhapāsāṇaṃ apanetvā kasitvā vapitvā sammā udakaṃ pavesetvā rakkhitvā gopetvā lavanamaddanena bahudhaññako hoti, tassādheyyā bhavanti ye keci adhanā kapaṇā daliddā duggatajanā, evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi…pe… kevalā santā sukhā samāpattiyo.
Just as, great king, a farmer first removes the defects of the field—the weeds, sticks, and stones—then plows and sows, properly irrigates, protects, and guards it, and by reaping and threshing becomes rich in grain, so that all those who are poor, wretched, destitute, and unfortunate become dependent on him; even so, great king, by these thirteen ascetic qualities, previously cultivated, frequented, practiced, fully practiced, followed, attended to, and perfected, all the pure, peaceful, and pleasant attainments are at his command.
Tâu Đại vương, ví như một người nông dân, trước tiên dọn sạch những khuyết điểm của thửa ruộng như cỏ, gốc cây, sỏi đá, rồi cày bừa, gieo hạt, dẫn nước vào đầy đủ, chăm sóc, bảo vệ, sau khi gặt và đập lúa thì trở nên có nhiều thóc lúa. Tất cả những người nghèo khó, khốn khổ, bần cùng, bất hạnh đều phải phụ thuộc vào người nông dân ấy. Cũng vậy, tâu Đại vương, chính nhờ mười ba phẩm hạnh đầu-đà này, đã được thực hành trong quá khứ... (v.v.)... tất cả các bậc thiền chứng an tịnh và an lạc đều thuộc về vị ấy.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, khattiyo muddhāvasitto abhijātakulīno chejjabhejjajanamanusāsane issaro hoti vasavattī sāmiko icchākaraṇo, kevalā ca mahāpathavī tassādheyyā hoti, evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi jinasāsanavare issaro hoti vasavattī sāmiko icchākaraṇo, kevalā ca samaṇaguṇā tassādheyyā honti.
Or just as, great king, a consecrated Khattiya of noble birth is a lord, master, and sovereign in matters of punishment and sentencing, able to do as he wishes, and the entire great earth is subject to him; even so, great king, by these thirteen ascetic qualities, previously cultivated, frequented, practiced, fully practiced, followed, attended to, and perfected, one becomes a lord, master, and sovereign in the excellent Dispensation of the Conqueror, able to do as one wishes, and all the qualities of a recluse are at his command.
Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như một vị vua dòng Sát-đế-lỵ, đã được làm lễ quán đảnh, thuộc dòng dõi cao quý, là người có quyền lực trong việc giáo huấn dân chúng, có thể trừng phạt và phân chia, là người cai quản, là chủ, có thể làm theo ý muốn, và toàn bộ trái đất rộng lớn này đều thuộc về vị ấy. Cũng vậy, tâu Đại vương, chính nhờ mười ba phẩm hạnh đầu-đà này, đã được thực hành, tu tập, thường xuyên thực hành, liên tục thực hành, theo đuổi, liên tục theo đuổi, và làm cho viên mãn trong quá khứ, vị ấy trở thành người có quyền lực trong giáo pháp cao thượng của bậc Chiến Thắng, là người cai quản, là chủ, có thể làm theo ý muốn, và toàn bộ các phẩm hạnh của Sa-môn đều thuộc về vị ấy.
‘‘Nanu, mahārāja, thero upaseno vaṅgantaputto sallekhadhutaguṇe paripūrakāritāya anādiyitvā sāvatthiyā saṅghassa katikaṃ sapariso naradammasārathiṃ paṭisallānagataṃ upasaṅkamitvā bhagavato pāde sirasā vanditvā ekamantaṃ nisīdi, bhagavā ca taṃ suvinītaṃ parisaṃ oloketvā haṭṭhatuṭṭho pamudito udaggo parisāya saddhiṃ sallāpaṃ sallapitvā asambhinnena brahmassarena etadavoca ‘pāsādikā kho pana tyāyaṃ upasena parisā, kataṃ tvaṃ upasena parisaṃ vinesī’ti. Sopi sabbaññunā dasabalena devātidevena puṭṭho yathābhūtasabhāvaguṇavasena bhagavantaṃ etadavoca –
Is it not so, great king, that the elder Upasena Vaṅgantaputta, being one who fulfilled the qualities of effacement and the ascetic practices, disregarded the Sangha's resolution at Sāvatthī and, with his assembly, approached the Tamer of those to be tamed who was in seclusion. Having bowed his head at the Blessed One’s feet, he sat down to one side. The Blessed One, observing that well-trained assembly, was joyful, glad, delighted, and uplifted. After conversing with the assembly, with his coherent, Brahma-like voice, he said this: ‘Inspiring indeed, Upasena, is this assembly of yours. How do you train this assembly, Upasena?’ And he, questioned by the All-Knowing One, the Ten-Powered One, the God beyond gods, spoke to the Blessed One in accordance with his actual, natural qualities, saying—
Tâu Đại vương, há không phải Trưởng lão Upasena, con trai của bà Vaṅgantā, do đã thực hành viên mãn các phẩm hạnh khổ hạnh và đầu-đà, đã không chấp nhận quy ước của Tăng chúng ở Sāvatthī, cùng với hội chúng của mình đi đến yết kiến bậc Điều ngự trượng phu, bậc Đạo sư, đang độc cư, và sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, đã ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nhìn hội chúng được khéo huấn luyện ấy, hoan hỷ, hài lòng, vui mừng, phấn khởi, sau khi trò chuyện với hội chúng, đã nói lên lời này bằng Phạm âm không gián đoạn: ‘Này Upasena, hội chúng này của ông thật đáng kính tín. Này Upasena, ông đã huấn luyện hội chúng này như thế nào?’ Và vị ấy, được bậc Toàn Tri, bậc Thập Lực, bậc Thiên Nhân Sư hỏi, đã bạch với Đức Thế Tôn điều này theo đúng bản chất thực sự các phẩm hạnh của mình –
‘‘Yo koci maṃ, bhante, upasaṅkamitvā pabbajjaṃ vā nissayaṃ vā yācati, tamahaṃ evaṃ vadāmi ‘‘ahaṃ kho āvuso āraññiko piṇḍapātiko paṃsukūliko tecīvariko. Sace tvampi āraññiko bhavissasi piṇḍapātiko paṃsukūliko tecīvariko, evāhaṃ taṃ pabbājessāmi nissayaṃ dassāmī’’ti, sace so me, bhante, paṭissuṇitvā nandati oramati, evāhaṃ taṃ pabbājemi nissayaṃ demi, sace na nandati na oramati, na taṃ pabbājemi, na nissayaṃ demi, evāhaṃ, bhante, parisaṃ vinemī’’ti. Evaṃ kho †, mahārāja, dhutaguṇavarasamādiṇṇo jinasāsanavare issaro hoti. Vasavattī sāmiko icchākaraṇo, tassādheyyā honti kevalā santā sukhā samāpattiyo.
“Venerable sir, if anyone approaches me and asks for ordination or dependence, I say this to him: ‘Friend, I am a forest-dweller, an alms-food-eater, a rag-robe-wearer, and a triple-robe-wearer. If you too will be a forest-dweller, an alms-food-eater, a rag-robe-wearer, and a triple-robe-wearer, then I will give you ordination and dependence.’ If, venerable sir, having agreed, he is pleased and delighted, I give him ordination and dependence. If he is not pleased and not delighted, I do not give him ordination or dependence. That, venerable sir, is how I train the assembly.” Thus, great king, one who has undertaken the excellent ascetic qualities is sovereign in the excellent Dispensation of the Conqueror, a master, a lord, one who can do as he wishes. All the pure, peaceful, and pleasant attainments are at his command.
“Bạch ngài, bất cứ ai đến gần con để xin xuất gia hoặc xin nương tựa, con đều nói với vị ấy như vầy: ‘Này hiền giả, tôi là người sống trong rừng, là người đi khất thực, là người mặc y phấn tảo, là người chỉ dùng ba y. Nếu hiền giả cũng sẽ là người sống trong rừng, là người đi khất thực, là người mặc y phấn tảo, là người chỉ dùng ba y, thì tôi sẽ cho hiền giả xuất gia, sẽ ban phép nương tựa.’ Bạch ngài, nếu vị ấy sau khi nghe lời con mà hoan hỷ, an trú, thì con cho vị ấy xuất gia, ban phép nương tựa. Nếu không hoan hỷ, không an trú, thì con không cho vị ấy xuất gia, không ban phép nương tựa. Bạch ngài, con giáo huấn hội chúng như vậy đó. Tâu Đại vương, người đã thọ trì các phẩm hạnh đầu-đà cao quý như vậy thì trở thành người có quyền lực trong giáo pháp cao thượng của bậc Chiến Thắng, có thể làm chủ, là bậc thầy, có thể làm theo ý muốn, và tất cả các bậc thiền chứng an tịnh và an lạc đều thuộc về vị ấy.”
‘‘Yathā, mahārāja, padumaṃ abhivuddhaparisuddhaudiccajātippabhavaṃ siniddhaṃ mudu lobhanīyaṃ sugandhaṃ piyaṃ patthitaṃ pasatthaṃ jalakaddamamanupalittaṃ aṇupattakesarakaṇṇikābhimaṇḍitaṃ bhamaragaṇasevitaṃ sītalasalilasaṃvaddhaṃ, evameva kho, mahārāja, imehi terasahi dhutaguṇehi pubbe āsevitehi nisevitehi ciṇṇehi pariciṇṇehi caritehi upacaritehi paripūritehi ariyasāvako tiṃsaguṇavarehi samupeto hoti.
Just as, great king, a lotus—of noble origin, well-grown, and pure—is smooth, soft, alluring, fragrant, beloved, desired, and praised, untainted by water and mud, adorned with fine petals, filaments, and pericarp, frequented by swarms of bees, and nourished by cool water; even so, great king, a noble disciple who has previously cultivated, frequented, practiced, fully practiced, followed, attended to, and perfected these thirteen ascetic qualities is endowed with thirty excellent qualities.
“Tâu Đại vương, ví như hoa sen, sinh ra từ dòng dõi cao quý, phát triển và trong sạch, mềm mại, mịn màng, đáng ưa thích, thơm ngát, đáng yêu, đáng mong cầu, đáng tán thán, không bị bùn nước làm ô uế, được trang điểm bởi nhị, cánh, tua và đài hoa, được đàn ong tìm đến, lớn lên trong làn nước mát. Cũng vậy, tâu Đại vương, nhờ mười ba phẩm hạnh đầu-đà này đã được thực hành, thường xuyên thực hành, tu tập, thường xuyên tu tập, theo đuổi, gần gũi, và làm cho viên mãn từ trước, vị Thánh đệ tử thành tựu ba mươi phẩm hạnh cao quý.”
‘‘Katamehi tiṃsaguṇavarehi? Siniddhamudumaddavamettacitto hoti, ghātitahatavihatakileso hoti, hatanihatamānadabbo hoti, acaladaḷhaniviṭṭhanibbematikasaddho hoti, paripuṇṇapīṇitapahaṭṭhalobhanīyasantasukhasamāpattilābhī hoti, sīlavarapavaraasamasucigandhaparibhāvito hoti, devamanussānaṃ piyo hoti manāpo, khīṇāsavaariyavarapuggalapatthito, devamanussānaṃ vanditapūjito, budhavibudhapaṇḍitajanānaṃ thutathavitathomitapasattho, idha vā huraṃ vā lokena anupalitto, appathokavajjepi † bhayadassāvī, vipulavarasampattikāmānaṃ maggaphalavaratthasādhano, āyācitavipulapaṇītapaccayabhāgī, aniketasayano, jhānajjhositatappavaravihārī, vijaṭitakilesajālavatthu, bhinnabhaggasaṅkuṭitasañchinnagatinīvaraṇo, akuppadhammo, abhinītavāso, anavajjabhogī, gativimutto, uttiṇṇasabbavicikiccho, vimuttijjhositattho †, diṭṭhadhammo, acaladaḷhabhīruttāṇamupagato, samucchinnānusayo, sabbāsavakkhayaṃ patto, santasukhasamāpattivihārabahulo, sabbasamaṇaguṇasamupeto, imehi tiṃsaguṇavarehi samupeto hoti.
“By which thirty excellent qualities? He has a mind that is affectionate, gentle, pliable, and full of loving-kindness. He has slain, struck down, and destroyed the defilements. He has slain and destroyed the substance of conceit. He has unwavering, firm, established, and doubt-free faith. He is a recipient of attainments that are complete, full, delightful, pleasing, peaceful, and blissful. He is imbued with the supreme, excellent, incomparable, pure fragrance of virtue. He is dear and agreeable to gods and humans. He is longed for by noble, excellent persons whose taints are destroyed. He is revered and honored by gods and humans. He is praised, extolled, lauded, and commended by the wise, the enlightened, and the learned. He is untainted by the world, either here or hereafter. He sees danger in even the slightest fault. He is a means for achieving the supreme goal of path and fruit for those who desire abundant, excellent success. He is a partaker of abundant and exquisite requisites without having to ask. He is one who has no fixed abode. He dwells in that supreme abiding, devoted to jhāna. He has unraveled the basis for the net of defilements. His hindrances to a good destination are broken, shattered, constricted, and cut off. He is of an unshakeable nature. His abiding is well-guided. He partakes of blameless things. He is freed from destinations. He has crossed over all doubt. His purpose is devoted to liberation. He has seen the Dhamma. He has reached the unwavering, firm refuge from fear. He has cut off the underlying tendencies. He has attained the destruction of all taints. He dwells frequently in peaceful, blissful attainments. He is endowed with all the qualities of a recluse. He is endowed with these thirty excellent qualities.
“Ba mươi phẩm hạnh cao quý ấy là những gì? Vị ấy có tâm từ ái, mềm mại, dịu dàng; đã tiêu diệt, đoạn trừ, loại bỏ các phiền não; đã dẹp bỏ, trừ diệt lòng kiêu mạn; có đức tin không lay chuyển, vững chắc, đã an trú, không còn nghi ngờ; là người chứng đắc các bậc thiền chứng an tịnh, an lạc, viên mãn, sung mãn, hoan hỷ, đáng ưa thích; được thấm nhuần hương thơm trong sạch, vô song, cao quý của giới hạnh; được chư thiên và loài người yêu mến, quý trọng; được các bậc A-la-hán, các bậc Thánh nhân cao quý mong cầu; được chư thiên và loài người đảnh lễ, cúng dường; được các bậc hiền trí, học giả, bậc trí tuệ tán thán, ca ngợi, xưng tụng, khen ngợi; không bị thế gian làm ô uế, dù ở đây hay ở nơi khác; thấy sự nguy hiểm ngay cả trong lỗi lầm nhỏ nhặt; là người thành tựu lợi ích cao quý là Đạo và Quả cho những ai mong muốn tài sản rộng lớn, cao quý; là người được hưởng các vật dụng dồi dào, cao quý mà không cần cầu xin; không có nơi ở cố định; thường an trú trong thiền định, lấy thiền định cao quý ấy làm nơi trú ngụ; đã gỡ rối mạng lưới phiền não; đã phá vỡ, đập tan, làm cong, cắt đứt các đường lối và triền cái; có pháp bất hoại; có nơi ở khiêm hạ; có các vật dụng không lỗi lầm; đã thoát khỏi các cõi; đã vượt qua mọi hoài nghi; có mục đích là sự giải thoát; đã thấy pháp; đã đạt đến nơi nương tựa không sợ hãi, vững chắc, không lay chuyển; đã đoạn trừ các tùy miên; đã đạt đến sự đoạn tận tất cả các lậu hoặc; thường an trú trong các bậc thiền chứng an tịnh, an lạc; thành tựu đầy đủ tất cả các phẩm hạnh của một vị sa-môn. Vị ấy thành tựu ba mươi phẩm hạnh cao quý này.”
‘‘Nanu, mahārāja, thero sāriputto dasasahassilokadhātuyā aggapuriso ṭhapetvā dasabalaṃ lokācariyaṃ, sopi aparimitamasaṅkhyeyyakappe samācitakusalamūlo † brāhmaṇakulakulīno manāpikaṃ kāmaratiṃ anekasatasaṅkhaṃ dhanavarañca ohāya jinasāsane pabbajitvā imehi terasahi dhutaguṇehi kāyavacīcittaṃ damayitvā ajjetarahi anantaguṇasamannāgato gotamassa bhagavato sāsanavare dhammacakkamanuppavattako jāto. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena ekaṅguttaranikāyavaralañchake –
“Indeed, great king, is not the Elder Sāriputta the foremost person in the ten-thousandfold world system, setting aside the Ten-Powered One, the Teacher of the world? Even he, having well-accumulated roots of merit for immeasurable and incalculable aeons, born into a noble brahmin family, having abandoned pleasing sensual delight and excellent wealth numbering in the many hundreds, went forth in the Dispensation of the Conqueror. Having tamed his body, speech, and mind with these thirteen ascetic qualities, he is today endowed with infinite virtues, having become one who turns the Wheel of Dhamma in succession in the excellent Dispensation of the Blessed One Gotama. This was spoken, great king, by the Blessed One, the god beyond gods, in the excellent collection marked as the Aṅguttara Nikāya:”
“Tâu Đại vương, há không phải Trưởng lão Sāriputta là bậc tối thượng trong mười ngàn thế giới, chỉ sau bậc Thập Lực, bậc Đạo Sư của thế gian sao? Chính ngài, với cội rễ thiện lành đã tích lũy qua vô lượng vô số kiếp, xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn cao quý, đã từ bỏ thú vui dục lạc khả ái và tài sản quý giá nhiều trăm ngàn, xuất gia trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, đã điều phục thân, khẩu, ý bằng mười ba phẩm hạnh đầu-đà này, và cho đến ngày nay, ngài đã thành tựu vô lượng công đức, trở thành người chuyển tiếp bánh xe Pháp trong giáo pháp cao quý của Đức Thế Tôn Gotama. Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn, bậc Thiên Nhân Sư, nói trong bộ kinh được gọi là Tăng Nhất A-hàm (Ekaṅguttaranikāya) rằng:”
‘‘Nāhaṃ, bhikkhave, aññaṃ ekapuggalampi samanupassāmi, yo evaṃ tathāgatena anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ sammadeva anuppavatteti, yathayidaṃ bhikkhave, sāriputto, sāriputto. Bhikkhave, tathāgatena anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ sammadeva anuppavattetī’’’ti.
“‘Monks, I do not see even one other person who so rightly turns in succession the unsurpassed Wheel of Dhamma set in motion by the Tathāgata, as does Sāriputta. Monks, Sāriputta rightly turns in succession the unsurpassed Wheel of Dhamma set in motion by the Tathāgata.’”
“‘Này các Tỳ khưu, Ta không thấy một người nào khác có thể chuyển tiếp một cách chân chánh bánh xe Pháp vô thượng đã được Như Lai chuyển vận, như là Sāriputta vậy. Này các Tỳ khưu, Sāriputta đã chuyển tiếp một cách chân chánh bánh xe Pháp vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.’”
‘‘Sādhu, bhante nāgasena, yaṃ kiñci navaṅgaṃ buddhavacanaṃ, yā ca lokuttarā kiriyā, yā ca loke adhigamavipulavarasampattiyo, sabbaṃ taṃ terasasu dhutaguṇesu samodhānopagata’’ † nti.
“Excellent, venerable Nāgasena! Whatever constitutes the nine-fold word of the Buddha, and the supramundane action, and the vast, excellent attainments to be realized in the world—all that is comprised and included within the thirteen ascetic qualities.”
“Lành thay, bạch ngài Nāgasena, bất cứ điều gì là chín phần giáo pháp của Đức Phật, bất cứ hành vi siêu thế nào, và bất cứ sự thành tựu tài sản rộng lớn cao quý nào trong thế gian, tất cả những điều đó đều được quy tụ trong mười ba phẩm hạnh đầu-đà.”
Dhutaṅgapañho dutiyo.
The Second Question on the Ascetic Practices.
Câu hỏi về Hạnh Đầu-đà, phần thứ hai.
The Fourth Chapter on Inference.
Phẩm Suy Luận, thứ tư.