Bản dịch
MIL 6.4.1 — CÂU HỎI (GIẢNG BẰNG SỰ) SUY LUẬN
1. Anumānapañha
BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda có sự mong muốn được biết, mong muốn được nghe, mong muốn ghi nhớ, mong muốn nhìn thấy ánh sáng của trí tuệ, mong muốn phá vỡ sự không biết, mong muốn làm sanh khởi ánh sáng của trí tuệ, mong muốn tiêu diệt bóng tối của vô minh, sau khi thiết lập sự can đảm vượt bậc, sự cố gắng, sự ghi nhớ, và sự nhận biết rõ rệt, rồi đã nói với đại đức Nāgasena điều này:
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật đã được ngài nhìn thấy?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Có phải đức Phật đã được các vị thầy của ngài nhìn thấy?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, nghe nói đức Phật đã không được ngài nhìn thấy, cũng nghe nói đức Phật đã không được các vị thầy của ngài nhìn thấy. Thưa ngài Nāgasena, như thế thì không có đức Phật. Bởi vì ở đây đức Phật không được biết đến.”
“Tâu đại vương, vậy thì những vị tổ tiên của dòng dõi Sát-đế-lỵ của đại vương, có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối ấy không?”
“Thưa ngài, có. Có sự nghi ngờ gì? Có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối, họ là tổ tiên của dòng dõi Sát-đế-lỵ của trẫm.”
“Tâu đại vương, có phải các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã được đại vương nhìn thấy?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, vậy thì các vị quân sư, tướng lãnh, quan tòa, quan đại thần đang cố vấn cho đại vương, có phải các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã được những người ấy nhìn thấy?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, nếu các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã không được đại vương nhìn thấy, nghe nói các vị Sát-đế-lỵ tiền bối cũng đã không được những vị cố vấn của đại vương nhìn thấy, vậy thì các vị Sát-đế-lỵ tiền bối ở đâu? Bởi vì ở đây các vị Sát-đế-lỵ tiền bối không được nhận biết.”
“Thưa ngài Nāgasena, những đồ dùng đã được các vị Sát-đế-lỵ tiền bối sử dụng được nhìn thấy như là: chiếc lọng màu trắng, khăn bịt đầu, đôi giày, quạt phất trần, viên ngọc ở thanh gươm, và các giường nằm vô cùng giá trị, nhờ chúng mà chúng tôi có thể biết được, có thể tin tưởng là: ‘Có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối.’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chúng tôi cũng có thể biết được, có thể tin tưởng về đức Thế Tôn ấy. Có lý do mà với lý do ấy chúng tôi có thể biết được, có thể tin tưởng là: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’ Lý do ấy là điều nào? Tâu đại vương, quả là có những đồ dùng đã được đức Thế Tôn ấy, vị biết, vị thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sử dụng, như là: Bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh Đạo tám chi phần, nhờ chúng mà thế gian luôn cả chư Thiên biết được, tin tưởng là: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’ Tâu đại vương, với lý do này, với nguyên nhân này, với phương pháp này, với sự suy luận này mà có thể biết được rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
‘Sau khi đã giúp cho nhiều người vượt qua, Ngài đã tịch diệt ở sự đoạn tận mầm mống tái sanh. Nhờ vào sự suy luận, có thể biết được rằng: ‘Có bậc Tối Thượng Nhân ấy.’”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như nhà kiến trúc đô thị có ý định xây dựng thành phố thì trước tiên hết xem qua khoảnh đất bằng phẳng, không bị nhô lên không bị lõm xuống, không sạn sỏi và đá tảng, không nguy hiểm, không bị chê trách, đáng được yêu thích, rồi chỗ nào không bằng phẳng thì cho san bằng chỗ ấy, cho dọn sạch gốc cây và gai góc, rồi tại chỗ ấy xây dựng thành phố lộng lẫy, được phân chia thành từng phần, đã được đo đạc, có đường hào đã được đào lên và thành lũy, có tháp canh và cổng thành vững chắc, có đường băng ngang, ngã tư, giao lộ, bồn binh rộng lớn, có đường lộ chính sạch sẽ và có bề mặt bằng phẳng, có cửa tiệm khéo được bố trí bên trong, được đầy đủ với các khu vườn, công viên, hồ ao, đầm sen, giếng nước, được tô điểm với nhiều loại điện thờ chư Thiên, toàn bộ đều không có khuyết điểm. Khi thành phố ấy đã đạt đến sự phát triển về mọi mặt, người ấy có thể đi đến khu vực khác. Rồi thời gian sau đó, thành phố ấy trở nên thịnh vượng, giàu có, vật thực dễ dàng, an toàn, được phát đạt, thắng lợi, không có rủi ro, không có bất hạnh, đông đảo với nhiều hạng người, các Sát-đế-lỵ có tầm cỡ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô lệ, các quản tượng, các kỵ sĩ, các người đánh xe, các khách bộ hành, các cung thủ, các kiếm sĩ, các hiệp sĩ, các quân nhân, các nhà cung cấp vật thực, các hoàng tử dũng mãnh, các cảm tử quân, các yếu nhân, các vị anh hùng, các chiến sĩ mặc áo giáp, các người con của kẻ nô bộc, các người con của kẻ làm thuê, các toán đấu vật, các người nấu ăn, các đầu bếp, các thợ cạo, các người hầu tắm, các thợ rèn, các người làm tràng hoa, các thợ vàng, các thợ bạc, các thợ chì, các thợ thiếc, các thợ đồng, các thợ hợp kim, các thợ sắt, các thợ ngọc ma-ni, các thợ dệt, các thợ gốm, các người làm muối, các thợ thuộc da, các thợ làm xe, các thợ làm ngà, các thợ làm dây, các thợ làm lược, các thợ quay tơ, các thợ đan giỏ, các thợ làm cung, các thợ làm dây cung, các thợ làm tên, các thợ vẽ tranh, các thợ làm màu, các thợ nhuộm, các thợ dệt vải, các thợ may, các thợ phân kim, các người buôn vải, các người buôn hương liệu, các người cắt cỏ, các người nhặt củi, các người làm thuê, các người bán rau, các người bán trái cây, các người bán rễ cây, các người bán cơm, các người bán bánh, các người bán cá, các người bán thịt, các người bán rượu, các kịch sĩ, các vũ công, các người múa rối, các ảo thuật gia, các nhạc công, các người đấu vật, các người thiêu xác,—
—các người đổ rác hoa, các thợ làm tre, các thợ săn, các kỹ nữ, các vũ nữ, các tớ gái đội nước, các người ở Saka, ở Yavana, ở Cīna, ở Vilāta, ở Ujjenī, ở Bhārukaccha, ở Kāsi, ở Kosala, ở Paranta, ở Magadha, ở Sāketa, ở Soraṭṭha, ở Pāvā, ở Koṭumbara, ở Madhura, ở Alasanda, ở Kasmīra, ở Gandhāra đã đi đến cư ngụ ở thành phố ấy, những người ở các địa phương khác nhau sau khi nhìn thấy thành phố ấy mới mẻ, khéo được bố trí, không khuyết điểm, không bị chê trách, đáng được yêu thích, bằng cách suy luận nhận biết rằng: ‘Này ông bạn, nhà kiến trúc đô thị xây dựng thành phố này quả là thành thạo.’
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn ấy, là vị không ai sánh bằng, tương đương với bậc không thể sánh bằng, không người đối xứng, không kẻ tương đương, không người so sánh, không thể ước lượng, không thể đo lường, không thể định lượng, có đức hạnh vô lượng, đã đạt đết sự toàn hảo của đức hạnh, có sự can đảm vô biên, có sự vinh quang vô biên, có sự tinh tấn vô biên, có năng lực vô biên, đã đạt đến sự toàn hảo về Phật lực, sau khi đánh bại Ma Vương cùng với đạo binh, sau khi đã phá tung mạng lưới tà kiến, sau khi dẹp bỏ vô minh, sau khi làm cho minh sanh khởi, sau khi nắm giữ ngọn đuốc Chánh Pháp, sau khi đạt được bản thể Toàn Tri, với trận chiến không bị khuất phục, đã được chiến thắng, Ngài đã xây dựng thành phố Giáo Pháp.
Tâu đại vương, thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn có thành lũy là giới, có đường hào là sự hổ thẹn tội lỗi, có cổng thành là trí, có tháp canh là sự tinh tấn, có trụ chống là đức tin, có người gác cổng là niệm, có tòa lâu đài là tuệ, có đường băng ngang là Kinh, có bồn binh là Vi Diệu Pháp, có tòa án là Luật, có đường phố là sự thiết lập niệm. Tâu đại vương, hơn nữa ở đường phố về sự thiết lập niệm của thành phố ấy, có các cửa tiệm với hình thức như vầy khéo là được chưng bày, như là: cửa tiệm bông hoa, cửa tiệm hương liệu, cửa tiệm trái cây, cửa tiệm thuốc giải độc, cửa tiệm thuốc chữa bệnh, cửa tiệm thuốc bất tử, cửa tiệm châu báu, cửa tiệm tổng hợp.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm bông hoa của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, có các sự phân loại về đối tượng (tham thiền) đã được đức Thế Tôn ấy, vị biết, vị thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nói đến như là: tưởng về vô thường, tưởng về khổ não, tưởng về vô ngã, tưởng về bất mỹ, tưởng về điều bất lợi, tưởng về sự dứt bỏ, tưởng về ly luyến ái, tưởng về sự tịch diệt, tưởng về sự không hứng thú với mọi thứ ở thế gian, tưởng về vô thường trong tất cả các sự tạo tác, niệm hơi thở vào ra, tưởng về tử thi bị trương sình, tưởng về tử thi có màu xanh xám, tưởng về tử thi bắt đầu thối rữa, tưởng về tử thi bị thủng nhiều lỗ, tưởng về tử thi bị thú ăn, tưởng về tử thi bị vung vãi, tưởng về tử thi bị hủy hoại và vung vãi, tưởng về tử thi bị đẫm máu, tưởng về tử thi bị giòi bọ rút rỉa, tưởng về bộ xương, tưởng về tâm từ, tưởng về tâm bi, tưởng về tâm hỷ, tưởng về tâm xả, niệm về sự chết, niệm được đặt ở thân. Tâu đại vương, các sự phân loại về đối tượng (tham thiền) này đã được đức Phật Thế Tôn nói đến.
Ở nơi ấy, người nào có ước muốn được thoát khỏi sự già và sự chết, người ấy nắm giữ một đối tượng nào đó trong số đó, rồi nhờ vào đối tượng ấy được thoát khỏi luyến ái, được thoát khỏi sân, được thoát khỏi si, được thoát khỏi ngã mạn, được thoát khỏi (tà) kiến, vượt qua luân hồi, ngăn chặn dòng chảy tham ái, làm trong sạch ba loại vết bẩn, sau khi hủy diệt tất cả phiền não, sau khi đi vào thành phố tối thượng là thành phố Niết Bàn, không vết nhơ, hết bụi bặm, trong sạch, tinh khiết, không sanh, không già, không chết, an lạc, có trạng thái mát lạnh, không có nỗi sợ hãi, rồi làm cho tâm được giải thoát ở phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm bông hoa của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi nắm lấy tiền vốn là nghiệp (thiện),hãy đi đến cửa tiệm, hãy mua lấy đối tượng, từ đó hãy được tự do ở sự giải thoát.’”
BJT 5“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm hương liệu của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, có các sự phân loại về giới đã được đức Thế Tôn ấy nói đến. Được thoa bởi hương thơm của giới ấy, các người con trai của đức Thế Tôn tỏa hơi, tràn ngập thế gian luôn cả chư Thiên bằng hương thơm của giới, rồi thổi đến, bao trùm hướng chính, hướng phụ, gió thuận chiều, gió nghịch chiều, sau khi tỏa khắp thì lắng đọng lại. Các sự phân loại về giới ấy là các cái nào? Là giới của sự nương nhờ (tam quy), năm giới, tám điều giới, mười điều giới, giới của sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha được bao gồm ở năm phần đọc tụng. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm hương liệu của đức Thế Tôn.’ Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến:
‘Hương thơm của bông hoa không bay ngược chiều gió,
(hương thơm của) gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc hoa nhài cũng không.
Còn hương thơm của những người tốt bay ngược chiều gió,
bậc thiện nhân tỏa hương (thơm giới hạnh) khắp mọi phương.
Gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc ngay cả hoa sen và hoa nhài, trong số các loại có hương thơm này, hương thơm của giới là vô thượng.
Hương thơm này của gỗ tagara hay gỗ trầm là nhỏ nhoi, còn hương thơm của những người có giới hạnh thổi giữa chư Thiên là tối thượng.’”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm trái cây của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các loại quả đã được đức Thế Tôn ấy nói đến như là: Quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán, sự thể nhập quả vị không tánh, sự thể nhập quả vị vô tướng, sự thể nhập quả vị vô nguyện. Ở nơi ấy, người nào ước muốn quả vị nào, người ấy sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện) rồi mua lấy quả vị đã được mong mỏi, nếu là quả vị Nhập Lưu, hay quả vị Nhất Lai, hay quả vị Bất Lai, hay quả vị A-la-hán, hay sự thể nhập quả vị không tánh, hay sự thể nhập quả vị vô tướng, hay sự thể nhập quả vị vô nguyện.
Tâu đại vương, giống như cây xoài của người đàn ông nào đó là có trái thường xuyên. Cho đến khi nào người mua chưa đi đến, thì người ấy còn chưa làm cho các trái từ trên cây rơi xuống. Trái lại, khi người mua đã đến thì người ấy nhận tiền vốn ở người mua rồi bảo như vầy: ‘Này ông, cây xoài này quả là có trái thường xuyên, ông muốn chừng nào ở cây ấy thì hãy lấy chừng ấy, hoặc còn sống, hoặc còn non, hoặc còn lông tơ, hoặc chưa chín, hoặc đã chín.’ Người ấy, với số tiền vốn đã được trao ra ấy của mình, nếu muốn trái còn sống thì lấy trái còn sống, nếu muốn trái còn non thì lấy trái còn non, nếu muốn trái còn lông tơ thì lấy trái còn lông tơ, nếu muốn trái chưa chín thì lấy trái chưa chín, nếu muốn trái chín thì lấy trái chín. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào ước muốn quả vị nào, thì sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện), người ấy nhận lấy quả vị đã được mong mỏi, nếu là quả vị Nhập Lưu … (như trên) … hay sự thể nhập quả vị vô nguyện. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm trái cây của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện), rồi cầm lấy trái cây bất tử, những người nào mua trái cây bất tử, do việc ấy những người ấy được an lạc.’”
BJT 7“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc giải độc của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các thuốc giải độc đã được đức Thế Tôn nói đến, với các thuốc giải độc này đức Thế Tôn ấy giúp cho thế gian luôn cả chư Thiên thoát khỏi thuốc độc phiền não. Vậy thì các thuốc giải độc ấy là các loại nào? Tâu đại vương, bốn Chân Lý Cao Thượng này đã được đức Thế Tôn nói đến, như là: Chân Lý Cao Thượng về sự Khổ, Chân Lý Cao Thượng về nguyên nhân của Khổ, Chân Lý Cao Thượng về sự diệt Khổ, Chân Lý Cao Thượng về sự thực hành theo con đường đưa đến sự diệt Khổ. Tại nơi ấy, những người nào mong muốn trí tuệ lắng nghe Giáo Pháp về bốn Chân Lý, những người ấy được giải thoát khỏi sự sanh, được giải thoát khỏi sự già, được giải thoát khỏi sự chết, được giải thoát khỏi các sầu, bi, khổ, ưu, não. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc giải độc của đức Thế Tôn.’
‘Bất cứ các thuốc giải độc nào ở thế gian đều là những vật đẩy lùi các chất độc, không có loại nào sánh bằng thuốc giải độc là Giáo Pháp, này các tỳ khưu, các ngươi hãy uống loại này.’”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc chữa bệnh của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các thuốc chữa bệnh đã được đức Thế Tôn nói đến, với các thuốc chữa bệnh này đức Thế Tôn ấy chữa bệnh cho chư Thiên và nhân loại, như là: Bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh Đạo tám chi phần. Với những thuốc chữa bệnh này đức Thế Tôn tẩy sạch tà kiến, tẩy sạch tà tư duy, tẩy sạch tà ngữ, tẩy sạch tà nghiệp, tẩy sạch tà mạng, tẩy sạch tà tinh tấn, tẩy sạch tà niệm, tẩy sạch tà định, làm cho ói ra tham, làm cho ói ra sân, làm cho ói ra si, làm cho ói ra ngã mạn, làm cho ói ra tà kiến, làm cho ói ra hoài nghi, làm cho ói ra phóng dật, làm cho ói ra sự dã dượi buồn ngủ, làm cho ói ra sự không hổ thẹn và không ghê sợ (tội lỗi), làm cho ói ra tất cả phiền não. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc chữa bệnh của đức Thế Tôn.’
‘Bất cứ các thuốc chữa bệnh nào được tìm thấy ở thế gian là đa dạng và có nhiều, không có loại nào sánh bằng thuốc chữa bệnh là Giáo Pháp, này các tỳ khưu, các ngươi hãy uống loại này.
Sau khi uống vào thuốc chữa bệnh là Giáo Pháp, thì có thể trở thành không già không chết. Sau khi tu tập và sau khi nhìn thấy, thì được tịch diệt ở sự đoạn tận mầm mống tái sanh.’”
BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc bất tử của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, thuốc bất tử đã được đức Thế Tôn nói đến, với thuốc bất tử này đức Thế Tôn ấy rưới rắc cho thế gian luôn cả chư Thiên, do đã được rưới rắc với thuốc bất tử này, chư Thiên và nhân loại đã được giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thuốc bất tử ấy là cái nào? Tức là niệm đặt ở thân. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến: ‘Này các tỳ khưu, những người nào thọ hưởng niệm đặt ở thân, những người ấy thọ hưởng sự bất tử.’ Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm bất tử của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi nhìn thấy loài người bị bệnh, Ngài đã bày ra cửa hàng thuốc bất tử. Này các tỳ khưu, các người hãy mua vật ấy bằng nghiệp (thiện) và hãy nhận lấy thuốc bất tử.’”
BJT 10“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm châu báu của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các châu báu đã được đức Thế Tôn nói đến. Được trang điểm với các châu báu này, những người con trai của đức Thế Tôn chiếu sáng, soi sáng, tỏa sáng, rực sáng, phát sáng ở thế gian luôn cả chư Thiên, phô bày ánh sáng ở hướng trên, ở hướng dưới, ở hướng ngang. Các châu báu ấy là các loại nào? Giới báu, định báu, tuệ báu, giải thoát báu, trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu, các tuệ phân tích báu, các giác chi báu.
Tâu đại vương, giới báu của đức Thế Tôn là cái nào? Giới của sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha, giới của sự thu thúc ở các quyền, giới của sự trong sạch về nuôi mạng, giới liên quan đến các vật dụng, giới nhỏ, giới trung, giới lớn, giới của Đạo, giới của Quả. Tâu đại vương, thế gian luôn cả chư Thiên, cùng với Ma Vương, Phạm Thiên, và các dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn đều ước muốn, mong cầu người đã được trang sức với châu báu của giới.
Tâu đại vương, được chưng diện với châu báu của giới, vị tỳ khưu chiếu sáng, chiếu chói lọi ở hướng chính, hướng phụ, hướng trên, hướng dưới, hướng ngang. Vị ấy vượt qua, ngự trên, nhấn chìm tất cả các châu ngọc ở trong khoảng giữa, tính từ phía dưới là địa ngục Vô Gián từ phía trên là cõi cao nhất, rồi đứng lại. Tâu đại vương, các giới báu có hình thức như thế được chưng bày ở cửa tiệm châu báu của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giới báu của đức Thế Tôn.’
‘Các giới có hình thức như thế hiện diện ở cửa tiệm của đức Phật. Các ngươi hãy mua châu báu ấy bằng nghiệp (thiện), và hãy chưng diện.’
BJT 11Tâu đại vương, định báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ, định không tánh, định vô tướng, định vô nguyện. Tâu đại vương, đối với vị tỳ khưu chưng diện định báu, các suy nghĩ về (ngũ) dục, các suy nghĩ về oán hận, các suy nghĩ về hãm hại, ngã mạn, phóng dật, tà kiến, hoài nghi, các nền tảng của phiền não, và nhiều loại suy nghĩ xấu xa, tất cả chúng sau khi tiếp cận với định thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Tâu đại vương, giống như nước ở lá sen thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Vì tính chất trong sạch của cây sen. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với vị tỳ khưu chưng diện định báu, các suy nghĩ về (ngũ) dục, các suy nghĩ về oán hận, các suy nghĩ về hãm hại, ngã mạn, phóng dật, tà kiến, hoài nghi, các nền tảng của phiền não, và nhiều loại suy nghĩ xấu xa, tất cả chúng sau khi tiếp cận với định thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Vì tính chất trong sạch của định. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘định báu của đức Thế Tôn.’ Tâu đại vương, các định báu có hình thức như thế được chưng bày ở cửa tiệm châu báu của đức Thế Tôn.
‘Đối với vị có tràng hoa là định báu, các suy nghĩ xấu xa không sanh lên, và tâm không bị tán loạn, các ngươi hãy chưng diện vật ấy.’
BJT 12Tâu đại vương, tuệ báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, với tuệ nào vị Thánh đệ tử nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là thiện,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là bất thiện,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là có tội, cái này là không có tội, cái này là nên thực hành, cái này là không nên thực hành, cái này là thấp kém, cái này là hảo hạng, cái này là đen, cái này là trắng, cái này có sự lẫn lộn giữa đen và trắng,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’ Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘tuệ báu của đức Thế Tôn.’
‘Đối với vị có tràng hoa là tuệ báu, sự hiện hữu không xoay chuyển lâu dài. Vị ấy mau chóng chạm đến Bất Tử, và không thích thú ở sự hiện hữu.’
BJT 13Tâu đại vương, giải thoát báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, ‘giải thoát báu’ được gọi là phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, vị tỳ khưu đã đạt đến phẩm vị A-la-hán được gọi là ‘chưng diện giải thoát báu.’
Tâu đại vương, giống như người đàn ông, được trang điểm với đồ trang sức là xâu chuỗi ngọc trai, ngọc ma-ni, vàng, san hô, thân thể được thoa với dầu thơm của các cây tagara, tālīsa, và trầm hương đỏ, được điểm tô với các loại hoa lim, hoa nguyệt quế, hoa salaḷa, hoa cầy, hoa nhài vàng, hoa atimuttaka, hoa vòi voi, hoa sen, hoa nhài trâu, hoa nhài Ả-rập, thì vượt trội, chiếu sáng, chói sáng, soi sáng, tỏa sáng, lóe sáng, rực sáng, phát sáng, ngự trị, nhấn chìm những người còn lại bằng các đồ trang sức là vòng hoa, hương thơm, và châu báu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị đã đạt đến phẩm vị A-la-hán, có lậu hoặc đã cạn kiệt, được chưng diện giải thoát báu, so với các tỳ khưu đã được giải thoát có liên quan điều này điều khác, thì vượt trội, vượt lên, chiếu sáng, chói sáng, soi sáng, lóe sáng, rực sáng, phát sáng, ngự trị, nhấn chìm với sự giải thoát (của bản thân). Điều ấy có nguyên nhân là gì? Tâu đại vương, vật chưng diện này là tối thắng trong số tất cả các vật chưng diện, tức là giải thoát báu. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giải thoát báu của đức Thế Tôn.’
‘Người (làm công) trong nhà ngước nhìn người chủ đang mang tràng hoa có ngọc ma-ni, còn thế gian có cả chư Thiên ngước nhìn tràng hoa có giải thoát báu.’
BJT 14Tâu đại vương, trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, trí về việc quán xét lại được gọi là ‘trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu’ của đức Thế Tôn, nhờ vào trí ấy vị Thánh đệ tử quán xét lại Đạo, Quả, Niết Bàn, các phiền não đã dứt bỏ và các phiền não còn sót lại.
‘Nhờ vào trí nào, các bậc Thánh biết rõ trạng thái đã hoàn thành phận sự, hỡi những người con của đấng Chiến Thắng, hãy tinh tấn để đạt được châu báu trí tuệ ấy.’
BJT 15Tâu đại vương, tuệ phân tích báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, là bốn tuệ phân tích là ‘tuệ phân tích về ý nghĩa, tuệ phân tích về pháp, tuệ phân tích về ngôn từ, tuệ phân tích về phép biện giải.’ Tâu đại vương, được trang điểm với bốn tuệ phân tích báu này, vị tỳ khưu đi đến mỗi một tập thể nào, dầu là tập thể Sát-đế-lỵ, hay tập thể Bà-la-môn, hay tập thể gia chủ, hay tập thể Sa-môn, đều đi đến với sự tự tin, không có trạng thái hổ thẹn, không nhút nhát, không hãi sợ, không hốt hoảng, đi đến tập thể không bị nổi da gà. Tâu đại vương, giống như người chiến sĩ, anh hùng của chiến trận, đã vũ trang năm loại vũ khí, không kinh sợ, lao vào chiến trận (nghĩ rằng): ‘Nếu các quân địch ở xa, ta sẽ hạ gục bằng mũi tên, kế đó gần hơn nữa thì ta sẽ đánh bằng cây lao, kế đó gần hơn nữa thì ta sẽ đánh bằng cây thương, với kẻ đang tiến đến gần thì ta sẽ chém làm hai bằng cây kiếm lưỡi cong, còn kẻ đã đến sát bên thân thì ta sẽ đâm thủng bằng cây dao.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị tỳ khưu được trang sức với bốn tuệ phân tích đi vào tập thể không kinh sợ (nghĩ rằng): ‘Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích ý nghĩa, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về ý nghĩa bằng ý nghĩa, ta sẽ thuyết giảng về lý do bằng lý do, ta sẽ thuyết giảng về nguyên nhân bằng nguyên nhân, ta sẽ thuyết giảng về phương pháp bằng phương pháp, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích pháp, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về pháp bằng pháp, ta sẽ thuyết giảng về Bất Tử bằng Bất Tử, ta sẽ thuyết giảng về không tạo tác bằng không tạo tác, ta sẽ thuyết giảng về Niết Bàn bằng Niết Bàn, ta sẽ thuyết giảng về không tánh bằng không tánh, ta sẽ thuyết giảng về vô tướng bằng vô tướng, ta sẽ thuyết giảng về vô nguyện bằng vô nguyện, ta sẽ thuyết giảng về bất động bằng bất động, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích ngôn từ, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về ngôn từ bằng ngôn từ, ta sẽ thuyết giảng về đoạn kệ đầu bằng đoạn kệ đầu, ta sẽ thuyết giảng về đoạn kệ kế tiếp bằng đoạn kệ kế tiếp, ta sẽ thuyết giảng về âm từ bằng âm từ, ta sẽ thuyết giảng về nối âm bằng nối âm, ta sẽ thuyết giảng về phụ âm bằng phụ âm, ta sẽ thuyết giảng về âm phụ thuộc bằng âm phụ thuộc, ta sẽ thuyết giảng về hình thức bằng hình thức, ta sẽ thuyết giảng về nguyên âm bằng nguyên âm, ta sẽ thuyết giảng về khái niệm bằng khái niệm, ta sẽ thuyết giảng về tên gọi bằng tên gọi, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích phép biện giải, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về phép biện giải bằng phép biện giải, ta sẽ thuyết giảng về ví dụ bằng ví dụ, ta sẽ thuyết giảng về tướng trạng bằng tướng trạng, ta sẽ thuyết giảng về phẩm vị bằng phẩm vị, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng việc giải thích câu hỏi. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘các tuệ phân tích báu của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi mua các tuệ phân tích, nhờ vào trí vị nào có thể chạm đến, thì (vị ấy) không kinh sợ, không xao động, chói sáng thế gian luôn cả chư Thiên.’
BJT 16Tâu đại vương, giác chi báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, có bảy giác chi này là: ‘Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, tịnh giác chi, định giác chi, xả giác chi.’ Tâu đại vương, được trang điểm với bảy giác chi báu này, vị tỳ khưu chế ngự mọi sự tối tăm, soi sáng, tỏa sáng, thế gian luôn cả chư Thiên, và làm sanh lên ánh sáng. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giác chi báu của đức Thế Tôn.’
‘Thế gian luôn cả chư Thiên đều đứng dậy (chào) đối với người có tràng hoa là giác chi báu. các ngươi hãy mua châu báu ấy bằng nghiệp (thiện), và hãy chưng diện.’”
BJT 17“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm tổng hợp của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn có lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại, các xá-lợi, các vật dụng, các bảo tháp, và Hội Chúng báu. Tâu đại vương, do đức Thế Tôn ở cửa tiệm tổng hợp sự thành tựu về sanh chủng được chưng bày, sự thành tựu về của cải được chưng bày, sự thành tựu về tuổi thọ được chưng bày, sự thành tựu về không bệnh được chưng bày, sự thành tựu về sắc đẹp được chưng bày, sự thành tựu về tuệ được chưng bày, sự thành tựu về cõi người được chưng bày, sự thành tựu về cõi trời được chưng bày, sự thành tựu về Niết Bàn được chưng bày.
Tại nơi ấy, những người nào ước muốn sự thành tựu này hay sự thành tựu nọ, những người ấy sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện) rồi mua lấy sự thành tựu đã được mong mỏi thế này thế nọ. Nhiều người mua bằng sự thọ trì giới, nhiều người mua bằng việc hành trì trai giới, rồi nhận được các sự thành tựu tùy theo từng phần tiền vốn là nghiệp (thiện) ít ỏi. Tâu đại vương, giống như ở cửa tiệm của người chủ tiệm có các loại mè, đậu mugga, đậu māsa, những người ấy mua gạo, đậu mugga, đậu māsa, với số lượng chút ít tùy theo từng phần tiền vốn ít ỏi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn, những người ấy nhận được các sự thành tựu tùy theo từng phần tiền vốn là nghiệp (thiện) ít ỏi. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn.’
‘Tuổi thọ, sự không bệnh, sắc đẹp, cõi trời, việc có được gia tộc cao sang, và sự không tạo tác, sự Bất Tử là có ở của hàng tổng hợp, ở đấng Chiến Thắng.
Được nhận lấy ít hay nhiều tùy theo phần tiền vốn là nghiệp (thiện). Này các tỳ khưu, sau khi mua bằng tiền vốn là đức tin, các ngươi hãy được thành tựu.’
BJT 18Tâu đại vương, ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn có những người như thế này sinh sống: Các vị chuyên về Kinh, các vị chuyên về Luật, các vị chuyên về Vi Diệu Pháp, các vị thuyết giảng về Pháp, các vị trì tụng Bổn Sanh, các vị trì tụng Trường Bộ, các vị trì tụng Trung Bộ, các vị trì tụng Tương Ưng, các vị trì tụng Tăng Chi, các vị trì tụng Tiểu Bộ, các vị đầy đủ giới, các vị đầy đủ định, các vị đầy đủ tuệ, các vị thích thú việc tu tập các giác chi, các vị hành minh sát, các vị gắn liền với mục đích của mình, các vị ngụ ở rừng, các vị ngụ ở gốc cây, các vị ngụ ở ngoài trời, các vị ngụ ở đống rơm, các vị ngụ ở mộ địa, các vị (hành pháp) về oai nghi ngồi (không nằm), các vị đã tiến đến (Đạo), các vị đã trú ở Quả, các vị Hữu Học đã đạt được quả vị, các vị Nhập Lưu, các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai, các vị A-la-hán có ba Minh, có sáu Thắng Trí, có thần thông, đã đạt đến sự toàn hảo về tuệ, thiện xảo về sự thiết lập niệm, chánh tinh tấn, nền tảng của thần thông, quyền, lực, giác chi, Đạo, thiền, giải thoát, sắc và vô sắc, về việc thể nhập vào sự tịch tịnh và an lạc. Thành phố Giáo Pháp đã là đông đúc, dầy đặc, chen chúc, tràn ngập với các vị A-la-hán ấy, tợ như rừng sậy hay rừng mía đường. Ở đây có:
‘Các vị có luyến ái đã lìa, có sân đã lìa, có si đã lìa, không còn lậu hoặc, có tham ái đã lìa, không còn chấp thủ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị ngụ ở rừng, duy trì pháp từ khước, chứng thiền, có y thô xấu, thỏa thích sự cô độc, sáng suốt, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị giữ oai nghi ngồi, ngụ chỗ được chỉ định, đứng và đi kinh hành, tất cả đều mang y may bằng vải quăng bỏ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị sử dụng ba y, thanh tịnh, có mảnh da thú là vật thứ tư, thích thú việc (thọ thực) một chỗ ngồi, hiểu biết, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị ít ham muốn, chín chắn, sáng suốt, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, tự biết đủ với việc có hay không có, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị chứng thiền, thích thú với thiền, sáng suốt, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, có sự mong mỏi về cõi thiền Vô Sở Hữu, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị đã tiến đến (Đạo), đã trú ở Quả, là các bậc Hữu Học, đã đạt được quả vị, là những vị mong mỏi mục đích tối thượng, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị Nhập Lưu, không vết nhơ, và các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai, và các vị A-la-hán, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị thiện xảo về sự thiết lập niệm, thích thú việc tu tập các Giác chi, các vị hành Minh Sát, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị thiện xảo về các nền tảng của thần thông, thích thú việc tu tập định, gắn bó với chánh tinh tấn, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị đã đạt đến sự toàn hảo về các Thắng Trí, thích thú với hành xứ có tính chất truyền thống, có sự di chuyển ở không trung, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị có mắt nhìn xuống, nói năng chừng mực, có các giác quan được canh phòng, khéo thu thúc, đã được huấn luyện tốt đẹp ở Giáo Pháp tối thượng, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị có ba Minh, và sáu Thắng Trí, đã đi đến sự toàn hảo của thần thông, đã đạt được sự toàn hảo về tuệ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.’
BJT 19Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào có sự gìn giữ trí cao quý không đo lường được, không bị ràng buộc, có đức hạnh không thể so sánh, có danh vọng không so sánh được, có năng lực không so sánh được, có vinh quanh không so sánh được, là các vị tiếp tục chuyển vận bánh xe Giáo Pháp, đã đi đến sự toàn hảo về tuệ, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘các tướng quân Chánh Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào có thần thông, có các tuệ phân tích đã được chứng đạt, có các sự tự tín đã được đạt đến, có sự di chuyển ở không trung, khó sánh bằng, khó khuất phục, di chuyển không cần vật để bám víu, làm rúng động trái đất có biển và núi, có thể vuốt ve mặt trăng và mặt trời, thiện xảo về biến hóa, về sự chú nguyện và phát nguyện, đã đi đến sự toàn hảo về thần thông, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị quân sư’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đã theo đuổi các pháp từ khước, ít ham muốn, tự biết đủ, chán ghét sự yêu cầu và sự tầm cầu sai trái, đi khất thực theo từng nhà, tợ như các con ong hút lấy hương hoa rồi đi vào khu rừng cô quạnh, không quan tâm đến thân thể và mạng sống, đã đạt được phẩm vị A-la-hán, đã được xem là tối thắng về đức hạnh của các pháp từ khước, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị quan tòa’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào thanh tịnh, không vết nhơ, không còn phiền não, thiện xảo về tử sanh, đã đi đến sự toàn hảo về Thiên nhãn, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị thắp sáng thành phố’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào nghe nhiều, có Kinh điển được truyền thừa, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có sự ghi nhớ về Luật, có sự ghi nhớ về các tiêu đề, thiện xảo về việc chia chẻ các âm là không gió hay có gió, dài hay ngằn, nặng hay nhẹ, có sự ghi nhớ về các lời giáo huấn gồm chín thể loại, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị bảo vệ Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào hiểu biết về Luật, thông thái về Luật, thiện xảo về phần mở đầu và phần đọc tụng, thiện xảo về sự phạm tội, sự không phạm tội, tội nặng có thể chữa trị hay không thể chữa trị, sự thoát tội, sự trình báo tội, sự khiển trách, sự sửa chữa, sự mời vào, sự đuổi ra, sự hòa giải, đã đi đến sự toàn hảo về Luật, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị thành thạo về nghi thức’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào được quàng vào tràng hoa gồm các bông hoa cao quý của sự giải thoát, đã đạt được bản thể cao quý, ưu tú, giá trị cao, đứng đầu, được yêu quý và mong mỏi của số đông người, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm hoa’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đã được thấu triệt sự lãnh hội về bốn Sự Thật, đã nhìn thấy Sự Thật, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã vượt qua các sự hoài nghi về bốn quả vị Sa-môn, đã đạt được an lạc của quả vị, và chia phần những quả vị ấy cùng với những vị khác cũng đang thực hành, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm trái cây’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào được thoa hương thơm tốt đẹp cao quý của giới, mang nhiều đức hạnh đủ các loại, làm tiêu tan mùi thối của phiền não và ô nhiễm, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm hương liệu’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào yêu mến Giáo Pháp, có lời nói đáng yêu quý, có sự vui thích tột bực ở Thắng Pháp, ở Thắng Luật, những vị đi vào rừng, đi đến cội cây, đi đến ngôi nhà trống vắng, uống vào vị nếm cao quý của Giáo Pháp, được thấm nhuần hương vị cao quý của Giáo Pháp bằng thân, bằng khẩu, và bằng ý, có tài biện giải tuyệt vời, đã thực hành sự tầm cầu về Pháp trong số các Pháp, từ nơi này hoặc từ nơi kia, ở nơi nào có sự thuyết giảng về ít ham muốn, thuyết giảng về sự tự hoan hỷ, thuyết giảng về sự tách ly, thuyết giảng về sự không kết giao, thuyết giảng về việc khởi sự tinh tấn, thuyết giảng về giới, thuyết giảng về định, thuyết giảng về tuệ, thuyết giảng về giải thoát, thuyết giảng về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát, sau khi đi đến nơi này nơi khác và uống vào từng hương vị của cuộc thuyết giảng, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị nghiện uống, có sự khao khát’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đầu đêm và cuối đêm gắn bó với sự rèn luyện về tỉnh thức, trải qua đêm ngày với việc ngồi, đứng, và đi kinh hành, gắn bó với sự rèn luyện về việc phát triển (thiền), đang đeo đuổi mục đích của mình nhằm xua đuổi các phiền não, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người canh giữ thành phố’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào bảo đọc, bảo đọc theo, giảng giải, lập lại lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại về ý nghĩa, về văn tự, về phương pháp, về lý do, về nguyên nhân, và về ví dụ, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào là những người có của cải, có tài sản, với của cải là châu báu về Giáo Pháp, với của cải là sự học tập và lắng nghe về Kinh điển, có sự thấu triệt về nguyên âm, phụ âm, và đặc điểm đã được diễn đạt, có sự hiểu biết rộng rãi, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người triệu phú về Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào có sự thấu triệt sự thuyết giảng tột bực, đã quen thuộc với sự phân loại và mô tả đối tượng (của tâm), đã đạt đến sự toàn hảo về đức hạnh của việc học tập, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những nhà đạo đức nổi tiếng’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn đã khéo được bố trí như vậy, khéo được xây dựng như vậy, khéo được sắp xếp như vậy, khéo được bồi đắp như vậy, khéo được xác định như vậy, khéo được bảo vệ như vậy, khéo được gìn giữ như vậy, khó bị chế ngự như vậy bởi những kẻ nghịch, những kẻ thù. Tâu đại vương, với lý do này, với nguyên nhân này, với phương pháp này, với sự suy luận này, nên nhận biết rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
‘Cũng giống như sau khi nhìn thấy thành phố khéo được bố trí, làm thích ý, bằng suy luận họ nhận biết sự vĩ đại của nhà kiến trúc.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy thành phố Giáo Pháp cao quý của đấng Bảo Hộ Thế Gian, bằng suy luận họ biết rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
Sau khi nhìn thấy làn sóng ở biển cả, bằng suy luận họ biết rằng theo như làn sóng này được nhìn thấy thì biển cả sẽ là lớn lao.
Tương tợ, đức Phật là bậc xua đi nỗi sầu muộn, không bị đánh bại ở mọi nơi, đã đạt đến sự cạn kiệt của tham ái, có sự thoát khỏi sự luân chuyển trong các cõi.
Sau khi nhìn thấy làn sóng ở thế gian luôn cả chư Thiên, theo như sự lan rộng của làn sóng Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được đức Phật sẽ là hạng nhất.
Sau khi nhìn thấy ngọn núi vươn cao, theo như cách nó được vươn cao, bằng suy luận họ biết rằng nó sẽ là núi Hi-mã-lạp.
Tương tợ, sau khi nhìn thấy ngọn núi Giáo Pháp của đức Thế Tôn có trạng thái mát lạnh, không có mầm mống tái sanh, vươn cao, không dao động, khéo được thiết lập.
Sau khi nhìn thấy ngọn núi Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được bậc Đại Hùng ấy chính là như thế, đức Phật sẽ là hạng nhất.
Cũng giống như sau khi nhìn thấy bàn chân của con voi chúa, bằng suy luận mọi người biết được rằng: ‘Con voi ấy là to lớn.’
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy dấu chân của đức Phật vĩ đại, bậc có sự thông suốt, bằng suy luận họ biết rằng vị ấy sẽ là tột bực.
Sau khi nhìn thấy những con thú nhỏ bị sợ hãi, bằng suy luận họ biết rằng: ‘Những con thú nhỏ này bị sợ hãi bởi âm thanh của con thú chúa.’
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy các ngoại đạo bị bối rối, có tâm sợ hãi, bằng suy luận có thể biết được tiếng rống của đấng Pháp Vương.
Sau khi nhìn thấy trái đất đã được nguội lạnh, đạt được màu xanh, có nhiều nước, bằng suy luận họ biết rằng (trái đất) đã được nguội lạnh nhờ đám mưa lớn.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy người này được vui mừng, hớn hở, bằng suy luận có thể biết được (người ấy) đã được toại ý bởi cơn mưa Giáo Pháp.
Sau khi nhìn thấy bụi bặm bị kết dính, bùn lầy, mặt đất trở thành lầy lội ẩm thấp, bằng suy luận họ biết rằng có khối nước lớn đã đi đến.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy người này bị lấm lem bởi bụi bặm và bùn lầy, đã được đưa đến ở dòng sông Giáo Pháp, đã được chuyển đến ở biển cả Giáo Pháp.
Sau khi nhìn thấy quả đất này luôn cả chư Thiên đi đến sự Bất Tử của Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được có Pháp uẩn vĩ đại đã đi đến.
Sau khi ngửi mùi hương tối thượng, bằng suy luận họ biết rằng là theo như mùi hương này thổi đến thì sẽ có những cây đã được trổ hoa.
Y như thế ấy, mùi hương giới đức này thổi ở thế gian luôn cả chư Thiên, bằng suy luận có thể biết được là có đức Phật vô thượng.’
BJT 20Tâu đại vương, có thể chỉ cho thấy năng lực của đức Phật bằng một trăm lý do, bắng một ngàn lý do, bằng một trăm nguyên nhân, bằng một ngàn nguyên nhân, bằng một trăm phương pháp, bằng một ngàn phương pháp, bằng một trăm ví dụ, bằng một ngàn ví dụ. Tâu đại vương, giống như người làm tràng hoa khôn khéo, từ đống bông hoa nhiều loại, theo sự chỉ dạy của người thầy, bằng việc làm của cá nhân một người, có thể tạo thành một đống các kiểu tràng hoa nhiều màu sắc.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn ấy, có đức hạnh vô biên, có đức hạnh vô lượng, ví như đống bông hoa nhiều màu sắc. Giờ đây, ví như người làm tràng hoa, người kết bông hoa trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, cũng bằng đường lối của các vị thầy tiền bối, cũng bằng năng lực ở sự sáng suốt của tôi, tôi sẽ giải thích năng lực của đức Phật bằng cách suy luận bằng nhiều lý lẽ không thể đếm được. Vậy thì trong trường hợp này, đại vương hãy khởi lên ước muốn về việc lắng nghe.”
BJT 21“Thưa ngài Nāgasena, thật là việc khó khăn để chỉ cho thấy năng lực của đức Phật bằng sự suy luận bằng lý lẽ có hình thức như vầy đối với những người khác. Thưa ngài Nāgasena, trẫm đã được thỏa mãn với việc giải thích câu hỏi một cách vô cùng đa dạng của ngài.”
Câu hỏi (giảng bằng sự) suy luận là thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho milindo rājā ñātukāmo sotukāmo dhāretukāmo ñāṇālokaṃ daṭṭhukāmo aññāṇaṃ bhinditukāmo ñāṇālokaṃ uppādetukāmo avijjandhakāraṃ nāsetukāmo adhimattaṃ dhitiñca ussāhañca satiñca sampajaññañca upaṭṭhapetvā āyasmantaṃ nāgasenaṃ etadavoca ‘‘bhante nāgasena, kiṃ pana buddho tayā diṭṭho’’ti. ‘‘Na hi, mahārājā’’ti. ‘‘Kiṃ pana te ācariyehi buddho diṭṭho’’ti? ‘‘Na hi, mahārājā’’ti. ‘‘Bhante nāgasena, na kira tayā buddho diṭṭho, nāpi kira te ācariyehi buddho diṭṭho, tena hi, bhante nāgasena, natthi buddho, na hettha buddho paññāyatī’’ti.
1. Then King Milinda approached the venerable Nāgasena. Having approached, he paid homage to the venerable Nāgasena and sat down to one side. Seated to one side, King Milinda, wishing to know, wishing to hear, wishing to remember, wishing to see the light of knowledge, wishing to break through ignorance, wishing to generate the light of knowledge, wishing to dispel the darkness of ignorance, having established an exceeding degree of determination, effort, mindfulness, and clear comprehension, said this to the venerable Nāgasena: “Venerable Nāgasena, have you seen the Buddha?” “No, great king.” “Then have your teachers seen the Buddha?” “No, great king.” “Venerable Nāgasena, you have not seen the Buddha, nor have your teachers seen the Buddha. Therefore, venerable Nāgasena, there is no Buddha; the Buddha is not to be perceived here.”
1. Bấy giờ, vua Mi-lan-đà đi đến chỗ ngài Na-tiên, sau khi đến, đảnh lễ ngài Na-tiên rồi ngồi xuống một bên. Vua Mi-lan-đà, sau khi ngồi xuống một bên, với mong muốn được biết, được nghe, được ghi nhớ, được thấy ánh sáng trí tuệ, muốn phá tan sự vô minh, muốn làm phát sanh ánh sáng trí tuệ, muốn tiêu diệt bóng tối vô minh, đã an lập sự kiên trì, sự tinh tấn, chánh niệm và tỉnh giác một cách cao độ, rồi nói với ngài Na-tiên điều này: "Thưa ngài Na-tiên, ngài đã từng thấy đức Phật chưa?" "Tâu đại vương, chưa từng." "Vậy các vị thầy của ngài đã từng thấy đức Phật chưa?" "Tâu đại vương, chưa từng." "Thưa ngài Na-tiên, nếu ngài chưa từng thấy đức Phật, và các vị thầy của ngài cũng chưa từng thấy đức Phật, vậy thì, thưa ngài Na-tiên, không có đức Phật, ở đây không nhận biết được đức Phật."
‘‘Atthi pana te, mahārāja, pubbakā khattiyā, ye te tava khattiyavaṃsassa pubbaṅgamā’’ti? ‘‘Āma, bhante. Ko saṃsayo, atthi pubbakā khattiyā, ye mama khattiyavaṃsassa pubbaṅgamā’’ti. ‘‘Diṭṭhapubbā tayā, mahārāja, pubbakā khattiyā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Ye pana taṃ, mahārāja, anusāsanti purohitā senāpatino akkhadassā mahāmattā, tehi pubbakā khattiyā diṭṭhapubbā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Yadi pana te, mahārāja, pubbakā khattiyā na diṭṭhā, nāpi kira te anusāsakehi pubbakā khattiyā diṭṭhā, tena hi natthi pubbakā khattiyā, na hettha pubbakā khattiyā paññāyantī’’ti.
“But, great king, were there former kings who were the progenitors of your royal lineage?” “Yes, venerable sir. What doubt is there? There were former kings who were the progenitors of my royal lineage.” “Have you, great king, seen those former kings?” “No, venerable sir.” “Then have those who instruct you—the chaplains, generals, judges, and chief ministers—seen those former kings?” “No, venerable sir.” “If, great king, you have not seen those former kings, and those who instruct you have not seen those former kings, then it follows that there were no former kings; former kings are not to be perceived in this matter.”
"Tâu đại vương, có những vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa, là những vị tổ tiên trong dòng dõi Sát-đế-lỵ của ngài không?" "Thưa ngài, vâng. Còn nghi ngờ gì nữa, có những vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa, là những vị tổ tiên trong dòng dõi Sát-đế-lỵ của tôi." "Tâu đại vương, ngài đã từng thấy những vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa ấy chưa?" "Thưa ngài, chưa từng." "Tâu đại vương, vậy những vị giáo huấn cho ngài như các vị tế sư, các vị tướng quân, các vị thẩm phán, các vị đại thần, họ đã từng thấy những vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa ấy chưa?" "Thưa ngài, chưa từng." "Tâu đại vương, nếu ngài chưa từng thấy những vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa, và các vị giáo huấn của ngài cũng chưa từng thấy những vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa, vậy thì không có những vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa, ở đây không nhận biết được những vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa."
‘‘Dissanti, bhante nāgasena, pubbakānaṃ khattiyānaṃ anubhūtāni paribhogabhaṇḍāni. Seyyathidaṃ, setacchattaṃ uṇhīsaṃ pādukā vālabījanī khaggaratanaṃ mahārahāni ca sayanāni. Yehi mayaṃ jāneyyāma saddaheyyāma ‘atthi pubbakā khattiyā’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, mayampetaṃ bhagavantaṃ jāneyyāma saddaheyyāma. Atthi taṃ kāraṇaṃ, yena mayaṃ kāraṇena jāneyyāma saddaheyyāma ‘atthi so bhagavā’ti. Katamaṃ taṃ kāraṇaṃ? Atthi kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena anubhūtāni paribhogabhaṇḍāni. Seyyathidaṃ, cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, yehi sadevako loko jānāti saddahati ‘atthi so bhagavā’ti. Iminā, mahārāja, kāraṇena iminā hetunā iminā nayena iminā anumānena ñātabbo ‘atthi so bhagavā’ti.
“Venerable Nāgasena, the regalia used by the former kings is seen. For example, the white parasol, the diadem, the sandals, the yak-tail fan, the jewel-sword, and the costly couches. By these, we know and have faith that ‘there were former kings.’” “In the same way, great king, we too know and have faith in the Blessed One. There is a reason by which we know and have faith that ‘the Blessed One exists.’ What is that reason? There are, great king, articles of use utilized by that Blessed One—the one who knows, who sees, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One. These are: the four establishments of mindfulness, the four right exertions, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the Noble Eightfold Path. Through these, the world with its devas knows and has faith that ‘the Blessed One exists.’ By this reason, great king, by this cause, by this method, by this inference, it is to be known: ‘That Blessed One exists.’”
"Thưa ngài Na-tiên, các vật dụng đã được các vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa sử dụng vẫn còn được thấy. Ví như: lọng trắng, vương miện, hài, phất trần, gươm báu, và các giường nằm quý giá. Nhờ những vật dụng ấy mà chúng tôi biết và tin rằng 'có các vị vua Sát-đế-lỵ thời xưa'." "Cũng vậy, tâu đại vương, chúng tôi cũng biết và tin tưởng về đức Thế Tôn. Có lý do đó, nhờ lý do đó mà chúng tôi biết và tin rằng 'có đức Thế Tôn ấy'. Lý do đó là gì? Tâu đại vương, có những vật dụng đã được đức Thế Tôn ấy—bậc Toàn Tri, Toàn Giác, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác—sử dụng. Ví như: bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, và Thánh đạo Tám ngành. Nhờ những vật dụng ấy mà thế gian cùng với chư thiên biết và tin rằng 'có đức Thế Tôn ấy'. Tâu đại vương, do lý do này, do nguyên nhân này, do phương pháp này, do sự suy luận này, nên biết rằng 'có đức Thế Tôn ấy'."
‘‘‘Bahū jane tārayitvā, nibbuto upadhikkhaye;
Anumānena ñātabbaṃ, atthi so dvipaduttamo’’’ti.
“Having guided many people across, fully extinguished with the exhaustion of the substrates of existence; by inference it is to be known that the supreme one among two-legged beings exists.”
"Sau khi đã cứu vớt nhiều chúng sanh, Ngài đã tịch diệt nơi các phiền não đã được đoạn tận; nên biết qua sự suy luận rằng, có bậc Tối Thắng trong loài hai chân ấy."
‘‘Bhante nāgasena, opammaṃ karohī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, nagaravaḍḍhakī nagaraṃ māpetukāmo paṭhamaṃ tāva samaṃ anunnatamanonataṃ asakkharapāsāṇaṃ nirupaddavamanavajjaṃ ramaṇīyaṃ bhūmibhāgaṃ anuviloketvā yaṃ tattha visamaṃ, taṃ samaṃ kārāpetvā khāṇukaṇṭakaṃ visodhāpetvā tattha nagaraṃ māpeyya sobhanaṃ vibhattaṃ bhāgaso mitaṃ ukkiṇṇaparikhāpākāraṃ daḷhagopuraṭṭālakoṭṭakaṃ puthucaccaracatukkasandhisiṅghāṭakaṃ sucisamatalarājamaggaṃ suvibhattaantarāpaṇaṃ ārāmuyyānataḷākapokkharaṇiudapānasampannaṃ bahuvidhadevaṭṭhānappaṭimaṇḍitaṃ sabbadosavirahitaṃ, so tasmiṃ nagare sabbathā vepullattaṃ patte aññaṃ desaṃ upagaccheyya, atha taṃ nagaraṃ aparena samayena iddhaṃ bhaveyya phītaṃ subhikkhaṃ khemaṃ samiddhaṃ sivaṃ anītikaṃ nirupaddavaṃ nānājanasamākulaṃ, puthū khattiyā brāhmaṇā vessā suddā hatthārohā assārohā rathikā pattikā dhanuggahā tharuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā vammino yodhino dāsikaputtā bhaṭiputtā † mallakā gaṇakā āḷārikā sūdā kappakā nahāpakā cundā mālākārā suvaṇṇakārā sajjhukārā sīsakārā tipukārā lohakārā vaṭṭakārā ayokārā maṇikārā pesakārā kumbhakārā veṇukārā loṇakārā cammakārā rathakārā dantakārā rajjukārā kocchakārā suttakārā vilīvakārā dhanukārā jiyakārā usukārā cittakārā raṅgakārā rajakā tantavāyā tunnavāyā heraññikā dussikā gandhikā tiṇahārakā kaṭṭhahārakā bhatakā paṇṇikā phalikā † mūlikā odanikā pūvikā macchikā maṃsikā majjikā naṭakā naccakā laṅghakā indajālikā vetālikā mallā chavaḍāhakā pupphachaḍḍakā venā nesādā gaṇikā lāsikā kumbhadāsiyo sakkayavanacīnavilātā ujjenakā bhārukacchakā kāsikosalā parantakā māgadhakā sāketakā soreyyakā † pāveyyakā koṭumbaramāthurakā alasandakasmīragandhārā taṃ nagaraṃ vāsāya upagatā nānāvisayino janā navaṃ suvibhattaṃ adosamanavajjaṃ ramaṇīyaṃ taṃ nagaraṃ passitvā anumānena jānanti ‘cheko vata bho so nagaravaḍḍhakī, yo imassa nagarassa māpetā’ti. Evameva kho, mahārāja, so bhagavā asamo asamasamo appaṭisamo asadiso atulo asaṅkhyeyo appameyyo aparimeyyo amitaguṇo guṇapāramippatto anantadhiti anantatejo anantavīriyo anantabalo buddhabalapāramiṃ gato sasenamāraṃ parājetvā diṭṭhijālaṃ padāletvā avijjaṃ khepetvā vijjaṃ uppādetvā dhammukkaṃ dhārayitvā sabbaññutaṃ pāpuṇitvā vijitasaṅgāmo dhammanagaraṃ māpesi.
“Venerable Nāgasena, please give a simile.” “It is as if, great king, a master architect wishing to build a city would first survey a plot of land that is level, not too high or low, free of stones and gravel, safe, flawless, and delightful. Having leveled any uneven parts and cleared away stumps and thorns, he would then build a city there—splendid, well-proportioned, measured out in sections, with excavated moats and ramparts, strong gate-towers and bastions, wide crossroads, junctions, and squares, clean and level royal highways, well-demarcated market areas, complete with parks, gardens, reservoirs, lotus ponds, and wells, adorned with various shrines, and free from all defects. When that city had in every way reached a state of prosperity, he might go to another country. Then, in time, that city would become prosperous, thriving, with abundant food, secure, flourishing, peaceful, free from affliction, and without calamities, teeming with diverse people. Many nobles, brahmins, merchants, and commoners; elephant-riders, horsemen, charioteers, foot-soldiers, archers, swordsmen, standard-bearers, strategists, provisioners, high officials and princes, assailants, great warriors, heroes, armored warriors, combatants, sons of slave-women, and sons of mercenaries; wrestlers, accountants, cooks, barbers, bath attendants, turners, garland-makers, goldsmiths, silversmiths, lead-workers, tin-workers, coppersmiths, wheelwrights, blacksmiths, gem-cutters, weavers, potters, bamboo-workers, salt-makers, tanners, chariot-makers, ivory-carvers, rope-makers, comb-makers, spinners, basket-makers, bow-makers, bowstring-makers, arrow-makers, painters, dyers, launderers, weavers, tailors, money-changers, cloth-merchants, perfumers, grass-cutters, wood-cutters, hired servants, sellers of leaves, sellers of fruit, sellers of roots, sellers of cooked rice, cake-sellers, fishmongers, butchers, liquor-sellers, actors, dancers, acrobats, illusionists, bards, wrestlers, corpse-burners, flower-scavengers, bamboo-workers, hunters, courtesans, female dancers, and slave-girls who carry water pots; Sakas, Yavanas, Cīnas, Vilātas, people from Ujjenī, Bharukaccha, Kāsī, Kosala, Aparantaka, Magadha, Sāketa, Soreyya, Pāveyya, Koṭumbara, Mathurā, Alasanda, Kasmīra, and Gandhāra—all these people from various regions, having come to dwell in that city, upon seeing that new, well-planned, faultless, flawless, and delightful city, would know by inference: ‘How skilled, indeed, was the master architect who built this city!’ In the very same way, great king, that Blessed One—unequaled, same as the unequaled ones, without rival, dissimilar to any, beyond compare, incalculable, immeasurable, limitless, of infinite virtue, having reached the perfection of virtues, of infinite resolution, infinite majesty, infinite energy, infinite strength, having attained the perfection of a Buddha’s powers—after defeating Māra and his army, shattering the net of wrong views, dispelling ignorance, giving rise to knowledge, holding aloft the torch of the Dhamma, attaining omniscience, and being victorious in battle, built the city of the Dhamma.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, xin ngài hãy cho một ví dụ.” “Tâu Đại vương, ví như một kiến trúc sư muốn xây dựng một thành phố, trước tiên ông ta sẽ tìm kiếm một khu đất bằng phẳng, không cao không thấp, không có sỏi đá, không có tai ương, không có khuyết điểm, và đáng ưa thích. Tại nơi đó, ông ta cho san bằng những chỗ lồi lõm, cho nhổ sạch gốc cây và gai góc, rồi xây dựng một thành phố xinh đẹp, được phân chia hợp lý, đo lường cẩn thận, có hào sâu và thành lũy bao quanh, có cổng thành, tháp canh và pháo đài vững chắc, có nhiều đường nhỏ, ngã tư, ngã ba, có đường chính của vua sạch sẽ và bằng phẳng, có các khu chợ được phân chia rõ ràng, có đầy đủ vườn hoa, công viên, ao hồ, hồ sen và giếng nước, được trang hoàng bởi nhiều đền đài, và không có một lỗi lầm nào. Khi thành phố ấy đã trở nên phồn thịnh về mọi mặt, ông ta bèn đi đến một xứ khác. Về sau, thành phố ấy trở nên thịnh vượng, phát triển, lương thực dồi dào, an ổn, giàu có, yên bình, không có bệnh tật, không có tai ương, và đông đúc dân cư thuộc nhiều chủng tộc khác nhau. Rất nhiều người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, những người quản tượng, kỵ sĩ, người điều khiển xe ngựa, bộ binh, cung thủ, kiếm sĩ, người cầm cờ, người dàn trận, người tiếp lương, các vị vương tử nổi tiếng, những người có thể xông vào phá vỡ hàng ngũ địch, những dũng sĩ như voi chúa, những người rất dũng cảm, những chiến binh mặc áo giáp, các dũng sĩ, con của các nữ tỳ, con của những người làm thuê, các đô vật, người tính toán, đầu bếp, người nấu ăn, thợ hớt tóc, người tắm gội, thợ tiện, người kết hoa, thợ vàng, thợ bạc, thợ chì, thợ thiếc, thợ rèn, thợ đồng, thợ sắt, thợ làm ngọc, thợ dệt, thợ gốm, thợ làm đồ tre, người làm muối, thợ thuộc da, thợ làm xe, thợ làm ngà, thợ bện dây, thợ làm lược, thợ kéo sợi, thợ đan tre, thợ làm cung, thợ làm dây cung, thợ làm tên, họa sĩ, thợ nhuộm, thợ giặt, thợ dệt, thợ may, thợ bạc, người buôn vải, người bán nước hoa, người gánh cỏ, người gánh củi, người làm thuê, người bán lá, người bán rau, người bán củ, người bán cơm, người bán bánh, người bán cá, người bán thịt, người bán rượu, vũ công, diễn viên, người nhảy múa, nhà ảo thuật, người đánh trống, võ sĩ, người hỏa táng, người dọn hoa, thợ đan, thợ săn, kỹ nữ, vũ nữ, nữ tỳ gốm, và những người từ các xứ Sakka, Yavana, Cīna, Vilāta, Ujjenī, Bhārukaccha, Kāsi, Kosala, Aparantaka, Māgadha, Sāketa, Soreyya, Pāveyyaka, Koṭumbara, Māthura, Alasanda, Kasmīra, Gandhāra, và những người từ nhiều vùng khác đến thành phố ấy để sinh sống, khi thấy thành phố mới mẻ, được phân chia hợp lý, không có lỗi lầm, không có khuyết điểm, và đáng ưa thích ấy, họ sẽ suy luận và biết rằng: ‘Ồ, vị kiến trúc sư đã xây dựng thành phố này quả là một người tài giỏi!’ Tâu Đại vương, cũng vậy, Đức Thế Tôn, bậc Vô Song, bậc Vô Song Tuyệt Đối, bậc Vô Đối, bậc Bất Tương Đồng, bậc Vô Lượng, bậc Bất Khả Xứng, bậc Bất Khả Lượng, bậc Bất Khả Trắc, bậc có vô lượng công đức, đã đạt đến tột đỉnh của các công đức, có ý chí vô biên, uy lực vô biên, tinh tấn vô biên, sức mạnh vô biên, đã đạt đến tột đỉnh của các năng lực của một vị Phật, sau khi chiến thắng Ma vương cùng với quân đội, phá tan lưới tà kiến, diệt trừ vô minh, làm phát sinh minh trí, giương cao ngọn đuốc Chánh pháp, chứng đắc quả vị Toàn Giác, đã chiến thắng trong trận chiến và xây dựng nên thành phố Chánh pháp.”
‘‘Bhagavato kho, mahārāja, dhammanagaraṃ sīlapākāraṃ hiriparikhaṃ ñāṇadvārakoṭṭhakaṃ vīriyaaṭṭālakaṃ saddhāesikaṃ satidovārikaṃ paññāpāsādaṃ suttantacaccaraṃ abhidhammasiṅghāṭakaṃ vinayavinicchayaṃ satipaṭṭhānavīthikaṃ, tassa kho pana, mahārāja, satipaṭṭhānavīthiyaṃ evarūpā āpaṇā pasāritā honti. Seyyathīdaṃ, pupphāpaṇaṃ gandhāpaṇaṃ phalāpaṇaṃ agadāpaṇaṃ osadhāpaṇaṃ amatāpaṇaṃ ratanāpaṇaṃ sabbāpaṇa’’nti.
“Great king, the Blessed One’s city of Dhamma has virtue as its rampart, conscience as its moat, knowledge as its gatehouse, energy as its watchtower, faith as its pillar, mindfulness as its doorkeeper, and wisdom as its mansion. The Suttas are its lanes, the Abhidhamma its crossroads, the Vinaya its place of judgment, and the establishments of mindfulness its main streets. And in those main streets of the establishments of mindfulness, great king, such shops are spread out. That is to say: a flower shop, a perfume shop, a fruit shop, an antidote shop, a medicine shop, a shop of the deathless, a jewel shop, and a general store.”
“Tâu Đại vương, thành phố Chánh pháp của Đức Thế Tôn có giới hạnh là thành lũy, có sự hổ thẹn tội lỗi là hào nước, có trí tuệ là cổng thành và pháo đài, có tinh tấn là tháp canh, có đức tin là cột trụ, có chánh niệm là người gác cổng, có trí tuệ là lâu đài, có Kinh Tạng là những con đường nhỏ, có Luận Tạng là các ngã tư, có Luật Tạng là nơi xét xử, có Tứ Niệm Xứ là con đường chính. Tâu Đại vương, trên con đường chính Tứ Niệm Xứ ấy, có những cửa hàng như thế này được bày bán. Đó là: cửa hàng hoa, cửa hàng hương liệu, cửa hàng trái cây, cửa hàng thuốc giải độc, cửa hàng dược phẩm, cửa hàng thuốc trường sinh, cửa hàng châu báu, và cửa hàng bách hóa.”
‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ buddhassa bhagavato pupphāpaṇa’’nti? ‘‘Atthi kho pana, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ārammaṇavibhattiyo akkhātā. Seyyathīdaṃ, aniccasaññā dukkhasaññā anattasaññā asubhasaññā ādīnavasaññā pahānasaññā virāgasaññā nirodhasaññā sabbaloke anabhiratisaññā sabbasaṅkhāresu aniccasaññā ānāpānassati uddhumātakasaññā vinīlakasaññā vipubbakasaññā vicchiddakasaññā vikkhāyitakasaññā vikkhittakasaññā hatavikkhittakasaññā lohitakasaññā puḷavakasaññā aṭṭhikasaññā mettāsaññā karuṇāsaññā muditāsaññā upekkhāsaññā maraṇānussati kāyagatāsati, ime kho, mahārāja, buddhena bhagavatā ārammaṇavibhattiyo akkhātā. Tattha yo koci jarāmaraṇā muccitukāmo, so tesu aññataraṃ ārammaṇaṃ gaṇhāti, tena ārammaṇena rāgā vimuccati, dosā vimuccati, mohā vimuccati, mānato vimuccati, diṭṭhito vimuccati, saṃsāraṃ tarati, taṇhāsotaṃ nivāreti, tividhaṃ malaṃ visodheti, sabbakilese upahantvā amalaṃ virajaṃ suddhaṃ paṇḍaraṃ ajātiṃ ajaraṃ amaraṃ sukhaṃ sītibhūtaṃ abhayaṃ nagaruttamaṃ nibbānanagaraṃ pavisitvā arahatte cittaṃ vimoceti, idaṃ vuccati mahārāja ‘bhagavato pupphāpaṇa’nti.
“Venerable Nāgasena, what is the Blessed Buddha’s flower shop?” “Great king, there are indeed classifications of meditation subjects taught by the Blessed One—the Knower, the Seer, the Arahant, the Perfectly Enlightened One. These are as follows: the perception of impermanence, the perception of suffering, the perception of non-self, the perception of unattractiveness, the perception of danger, the perception of abandoning, the perception of dispassion, the perception of cessation, the perception of non-delight in the whole world, the perception of impermanence in all conditioned things, mindfulness of breathing, the perception of a bloated corpse, the perception of a livid corpse, the perception of a festering corpse, the perception of a split-open corpse, the perception of a gnawed corpse, the perception of a scattered corpse, the perception of a hacked-and-scattered corpse, the perception of a bloody corpse, the perception of a worm-infested corpse, the perception of a skeleton, the perception of loving-kindness, the perception of compassion, the perception of sympathetic joy, the perception of equanimity, mindfulness of death, and mindfulness directed to the body. These, great king, are the classifications of meditation subjects taught by the Blessed Buddha. Therein, whoever wishes to be freed from aging and death takes up one of these meditation subjects. Through that subject, one is freed from lust, freed from hatred, freed from delusion, freed from conceit, freed from wrong views, crosses over saṃsāra, blocks the stream of craving, purifies the threefold stain, and having destroyed all defilements, enters the stainless, dustless, pure, white, unborn, unaging, deathless, blissful, cooled, fearless supreme city—the city of Nibbāna—and liberates the mind in Arahantship. This, great king, is called ‘the Blessed One’s flower shop.’”
“Bạch Đại đức Nāgasena, cửa hàng hoa của Đức Phật, Đức Thế Tôn là gì?” “Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn, bậc Toàn Tri, bậc Toàn Giác, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, đã giảng dạy về các loại đề mục thiền định. Đó là: tưởng về vô thường, tưởng về khổ, tưởng về vô ngã, tưởng về sự bất tịnh, tưởng về sự nguy hại, tưởng về sự từ bỏ, tưởng về sự ly tham, tưởng về sự diệt tận, tưởng về sự không hoan hỷ trong toàn thế gian, tưởng về sự vô thường trong tất cả các pháp hữu vi, niệm hơi thở vào ra, tưởng về tử thi sình trương, tưởng về tử thi xanh bầm, tưởng về tử thi rữa nát, tưởng về tử thi bị cắt đứt, tưởng về tử thi bị loài vật ăn dở, tưởng về tử thi bị vứt tung tóe, tưởng về tử thi bị chặt và vứt tung tóe, tưởng về tử thi đẫm máu, tưởng về tử thi có giòi bọ, tưởng về bộ xương, tưởng về tâm từ, tưởng về tâm bi, tưởng về tâm hỷ, tưởng về tâm xả, niệm về cái chết, và niệm thân. Tâu Đại vương, đây là những đề mục thiền định đã được Đức Phật, Đức Thế Tôn giảng dạy. Trong số đó, bất cứ ai muốn giải thoát khỏi già và chết, người ấy sẽ chọn lấy một trong những đề mục ấy. Nhờ đề mục ấy, người ấy giải thoát khỏi tham, giải thoát khỏi sân, giải thoát khỏi si, giải thoát khỏi ngã mạn, giải thoát khỏi tà kiến. Người ấy vượt qua vòng luân hồi, ngăn chặn dòng ái dục, thanh lọc ba loại cấu uế, diệt trừ tất cả phiền não, và sau khi đi vào thành phố Níp-bàn, thành phố tối thượng, không tỳ vết, không bụi trần, trong sạch, thanh tịnh, không sanh, không già, không chết, an lạc, tịch tịnh, vô úy, người ấy giải thoát tâm trí để chứng đắc quả A-la-hán. Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘cửa hàng hoa của Đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Kammamūlaṃ gahetvāna, āpaṇaṃ upagacchatha;
Ārammaṇaṃ kiṇitvāna, tato muccatha muttiyā’’’ti.
“Take the price, which is your kamma, and go to the shop; purchase a meditation subject, and be freed unto liberation.”
“‘Hãy mang theo vốn liếng là nghiệp, đi đến cửa hàng kia; Hãy mua lấy đề mục thiền định, rồi nhờ đó mà được giải thoát.’”
‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ buddhassa bhagavato gandhāpaṇa’’nti? ‘‘Atthi kho pana, mahārāja, tena bhagavatā sīlavibhattiyo akkhātā, yena sīlagandhena anulittā bhagavato puttā sadevakaṃ lokaṃ sīlagandhena dhūpenti sampadhūpenti, disampi anudisampi anuvātampi paṭivātampi vāyanti ativāyanti, pharitvā tiṭṭhanti. Katamā tā sīlavibhattiyo? Saraṇasīlaṃ pañcaṅgasīlaṃ aṭṭhaṅgasīlaṃ dasaṅgasīlaṃ pañcuddesapariyāpannaṃ pātimokkhasaṃvarasīlaṃ. Idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato gandhāpaṇa’nti. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena –
“Venerable Nāgasena, what is the Blessed One’s perfume shop?” “Great king, there are indeed classifications of virtue taught by the Blessed One. Anointed with that fragrance of virtue, the sons of the Blessed One perfume and thoroughly perfume the world with its devas. That fragrance of virtue wafts and wafts beyond, with the wind and against the wind, pervading and standing firm in all directions and intermediate directions. What are those classifications of virtue? The virtue of the refuges, the fivefold virtue, the eightfold virtue, the tenfold virtue, and the virtue of restraint according to the Pātimokkha, which is comprised of five recitations. This, great king, is called ‘the Blessed One’s perfume shop.’ This was also spoken, great king, by the Blessed One, the god beyond gods:
“Bạch ngài Nāgasena, cửa hàng hương liệu của Đức Phật, Đức Thế Tôn là gì?” “Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng về các loại giới. Các vị con của Đức Thế Tôn, được xông ướp bằng hương giới ấy, làm cho thế gian cùng với chư Thiên được thơm ngát, tỏa ngát hương giới. Hương thơm ấy bay xuôi gió, bay ngược gió, bay khắp các phương, các hướng phụ, lan tỏa và trụ lại. Các loại giới ấy là gì? Là giới quy y, ngũ giới, bát quan trai giới, thập giới, và giới thu thúc trong Biệt giải thoát bao gồm trong năm loại uddesa. Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘cửa hàng hương liệu của Đức Thế Tôn’. Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn, bậc Thiên-nhơn-sư, nói lên rằng:”
‘‘‘Na pupphagandho paṭivātameti, na candanaṃ taggaramallikā vā;
Satañca gandho paṭivātameti, sabbā disā sappuriso pavāyati †.
“The fragrance of a flower does not travel against the wind, nor that of sandalwood, tagara, or jasmine; but the fragrance of the good travels against the wind—a good person pervades all directions.”
“‘Hương hoa không bay ngược chiều gió, hương chiên-đàn, đa-già-la, hay hoa lài cũng vậy. Nhưng hương của người đức hạnh bay ngược chiều gió, bậc chân nhân tỏa hương khắp mọi phương.’”
‘‘‘Candanaṃ tagaraṃ vāpi, uppalaṃ atha vassikī;
Etesaṃ gandhajātānaṃ, sīlagandho anuttaro.
“Sandalwood, tagara, a lotus, or jasmine—among these kinds of fragrances, the fragrance of virtue is unsurpassed.”
“‘Hương chiên-đàn hay đa-già-la, hoặc hoa sen xanh, rồi hoa lài; trong các loại hương ấy, hương giới là vô thượng.’”
‘‘‘Appamatto ayaṃ gandho, yvāyaṃ tagaracandanaṃ;
Yo ca sīlavataṃ gandho, vāti devesu uttamo’’’ti.
“Trifling is this fragrance of tagara and sandalwood; but the fragrance of the virtuous is supreme, blowing even among the gods.”
“‘Hương này, tức hương đa-già-la và chiên-đàn, thật là nhỏ nhoi. Còn hương của người có giới đức, là hương tối thượng, bay đến cả cõi trời.’”
‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ buddhassa bhagavato phalāpaṇa’’nti? ‘‘Phalāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni. Seyyathīdaṃ, sotāpattiphalaṃ sakadāgāmiphalaṃ anāgāmiphalaṃ arahattaphalaṃ suññataphalasamāpatti animittaphalasamāpatti appaṇihitaphalasamāpatti. Tattha yo koci yaṃ phalaṃ icchati, so kammamūlaṃ datvā patthitaṃ phalaṃ kiṇāti. Yadi sotāpattiphalaṃ, yadi sakadāgāmiphalaṃ, yadi anāgāmiphalaṃ, yadi arahattaphalaṃ, yadi suññataphalasamāpattiṃ, yadi animittaphalasamāpattiṃ, yadi appaṇihitaphalasamāpattiṃ. Yathā, mahārāja, kassaci purisassa dhuvaphalo ambo bhaveyya, so na tāva tato phalāni pāteti, yāva kayikā na āgacchanti, anuppatte pana kayike mūlaṃ gahetvā evaṃ ācikkhati ‘ambho purisa eso kho dhuvaphalo ambo, tato yaṃ icchasi, ettakaṃ phalaṃ gaṇhāhi salāṭukaṃ vā dovilaṃ vā kesikaṃ vā āmaṃ vā pakkaṃ vā’ti, so tena attanā dinnamūlena yadi salāṭukaṃ icchati, salāṭukaṃ gaṇhāti, yadi dovilaṃ icchati, dovilaṃ gaṇhāti, yadi kesikaṃ icchati, kesikaṃ gaṇhāti, yadi āmakaṃ icchati, āmakaṃ gaṇhāti, yadi pakkaṃ icchati, pakkaṃ gaṇhāti. Evameva kho, mahārāja, yo yaṃ phalaṃ icchati, so kammamūlaṃ datvā patthitaṃ phalaṃ gaṇhāti, yadi sotāpattiphalaṃ…pe… yadi appaṇihitaphalasamāpattiṃ, idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato phalāpaṇa’nti.
“Venerable Nāgasena, what is the Blessed One’s fruit shop?” “Fruits, great king, have been taught by the Blessed One. Namely: the fruit of stream-entry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, the fruit of Arahantship, the attainment of the fruition of emptiness, the attainment of the fruition of signlessness, and the attainment of the fruition of desirelessness. Therein, whoever desires any fruit, having given the price of kamma, buys the desired fruit—whether it be the fruit of stream-entry, the fruit of once-returning, the fruit of non-returning, the fruit of Arahantship, the attainment of the fruition of emptiness, the attainment of the fruition of signlessness, or the attainment of the fruition of desirelessness. Just as, great king, if a man had a mango tree that bore fruit constantly, he would not pluck the fruits from it until the buyers arrived. But when the buyers have come, having taken the price, he would announce: ‘Good sir, this is a mango tree that bears fruit constantly. From it, take as much fruit as you desire—whether young, half-ripe, fibrous, unripe, or ripe.’ Then, with the price he has given, if he desires young fruit, he takes young fruit; if he desires half-ripe fruit, he takes half-ripe fruit; if he desires fibrous fruit, he takes fibrous fruit; if he desires unripe fruit, he takes unripe fruit; if he desires ripe fruit, he takes ripe fruit. In the same way, great king, whoever desires any fruit, having given the price of kamma, takes the desired fruit—whether it be the fruit of stream-entry... or the attainment of the fruition of desirelessness. This, great king, is called ‘the Blessed One’s fruit shop.’”
“Bạch ngài Nāgasena, cửa hàng quả của Đức Phật, Đức Thế Tôn là gì?” “Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng về các quả. Đó là: quả Dự lưu, quả Nhất lai, quả Bất lai, quả A-la-hán, Không quả định, Vô tướng quả định, Vô nguyện quả định. Trong đó, bất cứ ai muốn quả nào, người ấy dùng nghiệp làm giá tiền để mua quả mình mong muốn. Nếu muốn quả Dự lưu, nếu muốn quả Nhất lai, nếu muốn quả Bất lai, nếu muốn quả A-la-hán, nếu muốn Không quả định, nếu muốn Vô tướng quả định, nếu muốn Vô nguyện quả định. Ví như, tâu Đại vương, có người đàn ông có cây xoài ra quả quanh năm, người ấy không hái quả cho đến khi có người mua đến. Khi người mua đến, người ấy nhận tiền rồi chỉ và nói: ‘Này ông, đây là cây xoài ra quả quanh năm, ông muốn quả nào thì hãy lấy bấy nhiêu, dù là quả non, quả xanh chưa có hột, quả xanh có hột, quả già, hay quả chín.’ Người ấy dùng số tiền đã trả, nếu muốn quả non thì lấy quả non, nếu muốn quả xanh chưa có hột thì lấy quả xanh chưa có hột, nếu muốn quả xanh có hột thì lấy quả xanh có hột, nếu muốn quả già thì lấy quả già, nếu muốn quả chín thì lấy quả chín. Cũng vậy, tâu Đại vương, ai muốn quả nào, người ấy dùng nghiệp làm giá tiền để lấy quả mình mong muốn, nếu là quả Dự lưu… cho đến… nếu là Vô nguyện quả định. Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘cửa hàng quả của Đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Kammamūlaṃ janā datvā, gaṇhanti amatamphalaṃ;
Tena te sukhitā honti, ye kītā amatapphala’’’nti.
“Having given the price of kamma, people obtain the deathless fruit; by that they are happy, those who have purchased the deathless fruit.”
“‘Chúng sanh dùng nghiệp làm giá tiền, để mua lấy quả bất tử. Những ai đã mua được quả bất tử, họ được an lạc nhờ quả ấy.’”
‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ buddhassa bhagavato agadāpaṇa’’nti? ‘‘Agadāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi agadehi so bhagavā sadevakaṃ lokaṃ kilesavisato parimoceti. Katamāni pana tāni agadāni? Yānimāni, mahārāja, bhagavatā cattāri ariyasaccāni akkhātāni. Seyyathīdaṃ, dukkhaṃ ariyasaccaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ, tattha ye keci aññāpekkhā catusaccaṃ dhammaṃ suṇanti, te jātiyā parimuccanti, jarāya parimuccanti, maraṇā parimuccanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti, idaṃ vuccati mahārāja ‘bhagavato agadāpaṇa’nti.
“Venerable Nāgasena, what is the Blessed One’s antidote shop?” “Antidotes, great king, have been taught by the Blessed One, by which antidotes the Blessed One frees the world with its devas from the poison of the defilements. And what are those antidotes? They are, great king, the Four Noble Truths taught by the Blessed One. Namely: the noble truth of suffering, the noble truth of the origin of suffering, the noble truth of the cessation of suffering, and the noble truth of the path leading to the cessation of suffering. Therein, whoever, seeking final knowledge, listens to the teaching of the Four Truths, they are freed from birth, freed from aging, freed from death, and freed from sorrow, lamentation, pain, grief, and despair. This, great king, is called ‘the Blessed One’s antidote shop.’”
“Bạch ngài Nāgasena, cửa hàng thuốc giải độc của Đức Phật, Đức Thế Tôn là gì?” “Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng về các loại thuốc giải độc, nhờ các loại thuốc giải độc ấy mà Đức Thế Tôn giải thoát thế gian cùng với chư Thiên khỏi nọc độc phiền não. Các loại thuốc giải độc ấy là gì? Tâu Đại vương, đó là Tứ Diệu Đế mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng. Đó là: Khổ thánh đế, Tập thánh đế, Diệt thánh đế, và Đạo thánh đế đưa đến sự diệt khổ. Trong đó, những ai có tâm cầu hiểu biết lắng nghe pháp về Tứ đế, họ được giải thoát khỏi sanh, giải thoát khỏi già, giải thoát khỏi chết, giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘cửa hàng thuốc giải độc của Đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Ye keci agadā loke †, visānaṃ paṭibāhakā;
Dhammāgadasamaṃ natthi, etaṃ pivatha bhikkhavo’’’ti.
“Whatever antidotes exist in the world, counteracting poisons, there is no antidote equal to the Dhamma—drink this, monks!”
“‘Bất cứ loại thuốc giải độc nào có trên đời, có thể ngăn trừ các nọc độc, không có loại thuốc nào sánh bằng thuốc giải độc là Chánh pháp. Này các Tỳ khưu, hãy uống thuốc giải độc này.’”
‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ buddhassa bhagavato osadhāpaṇa’’nti? ‘‘Osadhāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi osadhehi so bhagavā devamanusse tikicchati. Seyyathīdaṃ, cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etehi osadhehi bhagavā micchādiṭṭhiṃ vireceti, micchāsaṅkappaṃ vireceti, micchāvācaṃ vireceti, micchākammantaṃ vireceti, micchāājīvaṃ vireceti, micchāvāyāmaṃ vireceti, micchāsatiṃ vireceti, micchāsamādhiṃ vireceti, lobhavamanaṃ kāreti, dosavamanaṃ kāreti, mohavamanaṃ kāreti, mānavamanaṃ kāreti, diṭṭhivamanaṃ kāreti, vicikicchāvamanaṃ kāreti, uddhaccavamanaṃ kāreti, thinamiddhavamanaṃ kāreti, ahirikānottappavamanaṃ kāreti, sabbakilesavamanaṃ kāreti, idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato osadhāpaṇa’nti.
“Venerable Nāgasena, what is the Blessed One’s dispensary?” “Great king, the Blessed One has declared the medicines by which he heals devas and humans. These are: the four foundations of mindfulness, the four right exertions, the four bases of spiritual power, the five faculties, the five powers, the seven factors of enlightenment, and the noble eightfold path. With these medicines, the Blessed One purges wrong view, wrong thought, wrong speech, wrong action, wrong livelihood, wrong effort, wrong mindfulness, and wrong concentration. He induces the vomiting of greed, hatred, delusion, conceit, views, doubt, restlessness, sloth and torpor, shamelessness and lack of moral dread, and all defilements. This, great king, is called ‘the Blessed One’s dispensary.’”
“Bạch ngài Nāgasena, cửa hàng dược phẩm của Đức Phật, Đức Thế Tôn là gì?” “Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã thuyết giảng về các loại dược phẩm, nhờ các loại dược phẩm ấy mà Đức Thế Tôn chữa trị cho chư Thiên và loài người. Đó là: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát thánh đạo. Nhờ các loại dược phẩm này, Đức Thế Tôn tẩy trừ tà kiến, tẩy trừ tà tư duy, tẩy trừ tà ngữ, tẩy trừ tà nghiệp, tẩy trừ tà mạng, tẩy trừ tà tinh tấn, tẩy trừ tà niệm, tẩy trừ tà định; làm cho nôn ra tham, làm cho nôn ra sân, làm cho nôn ra si, làm cho nôn ra mạn, làm cho nôn ra kiến, làm cho nôn ra nghi, làm cho nôn ra trạo cử, làm cho nôn ra hôn trầm thụy miên, làm cho nôn ra vô tàm vô quý, làm cho nôn ra tất cả phiền não. Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘cửa hàng dược phẩm của Đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Ye keci osadhā loke, vijjanti vividhā bahū;
Dhammosadhasamaṃ natthi, etaṃ pivatha bhikkhavo.
“Whatever various and many medicines exist in the world, there is no medicine equal to the Dhamma-medicine. Drink this, O monks!”
“‘Bất cứ loại dược phẩm nào có trên đời, nhiều và đa dạng, không có loại dược phẩm nào sánh bằng dược phẩm là Chánh pháp. Này các Tỳ khưu, hãy uống dược phẩm này.’”
‘‘‘Dhammosadhaṃ pivitvāna, ajarāmaraṇā siyuṃ;
Bhāvayitvā ca passitvā, nibbutā upadhikkhaye’’’ti.
“Having drunk the Dhamma-medicine, they would become ageless and deathless. Having developed and seen, they are extinguished in the exhaustion of the substrata of existence.”
“‘Sau khi uống dược phẩm là Chánh pháp, các vị sẽ trở nên bất lão, bất tử. Sau khi đã tu tập và đã thấy, các vị sẽ tịch tịnh trong sự đoạn tận của các chấp thủ.’”
‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ buddhassa bhagavato amatāpaṇa’’nti? ‘‘Amataṃ kho, mahārāja, bhagavatā akkhātaṃ, yena amatena so bhagavā sadevakaṃ lokaṃ abhisiñci, yena amatena abhisittā devamanussā jātijarābyādhimaraṇasokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimucciṃsu. Katamaṃ taṃ amataṃ? Yadidaṃ kāyagatāsati. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena ‘amataṃ te, bhikkhave, paribhuñjanti, ye kāyagatāsatiṃ paribhuñjantī’ti. Idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato amatāpaṇa’nti.
“Venerable Nāgasena, what is the Blessed One's shop of the Deathless?” “Great king, the Blessed One has declared the Deathless, with which the Blessed One sprinkled the world with its devas. Sprinkled with this Deathless, devas and humans were freed from birth, aging, sickness, death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair. What is that Deathless? It is mindfulness directed to the body. For it has been said, great king, by the Blessed One, the deva beyond devas: ‘Monks, those who partake of mindfulness directed to the body partake of the Deathless.’ This, great king, is called ‘the Blessed One's shop of the Deathless.’”
“Thưa ngài Nāgasena, cửa hàng bất tử của Đức Phật, Đức Thế Tôn là gì?” “Tâu Đại vương, pháp bất tử đã được Đức Thế Tôn tuyên thuyết. Với pháp bất tử ấy, Đức Thế Tôn đã rưới lên thế gian cùng với chư thiên. Được rưới bằng pháp bất tử ấy, chư thiên và loài người đã được giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Pháp bất tử ấy là gì? Chính là niệm thân. Tâu Đại vương, điều này cũng đã được Đức Thế Tôn, bậc Thiên Trung Thiên, nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, những ai thực hành niệm thân, họ được xem là thọ dụng pháp bất tử.’ Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘cửa hàng bất tử của Đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Byādhitaṃ janataṃ disvā, amatāpaṇaṃ pasārayi;
Kammena taṃ kiṇitvāna, amataṃ ādetha bhikkhavo’’’ti.
“Seeing the afflicted populace, he spread forth the shop of the Deathless. Having purchased it through wholesome action, O monks, partake of the Deathless!”
“‘Thấy chúng sanh bị bệnh não, Ngài đã mở ra cửa hàng bất tử; Này các Tỳ khưu, hãy dùng nghiệp lành để mua lấy, rồi hãy thọ dụng pháp bất tử ấy.’”
‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ buddhassa bhagavato ratanāpaṇa’’nti? ‘‘Ratanāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi ratanehi vibhūsitā bhagavato puttā sadevakaṃ lokaṃ virocanti obhāsenti pabhāsenti jalanti pajjalanti uddhaṃ adho tiriyaṃ ālokaṃ dassenti. Katamāni tāni ratanāni? Sīlaratanaṃ samādhiratanaṃ paññāratanaṃ vimuttiratanaṃ vimuttiñāṇadassanaratanaṃ paṭisambhidāratanaṃ bojjhaṅgaratanaṃ.
“Venerable Nāgasena, what is the Blessed One's jewel shop?” “Great king, the Blessed One has declared jewels by which his sons, adorned with these jewels, shine forth, illuminate, radiate, blaze, and burn brightly, showing light upwards, downwards, and across the world with its devas. What are those jewels? The jewel of virtue, the jewel of concentration, the jewel of wisdom, the jewel of liberation, the jewel of the knowledge and vision of liberation, the jewel of the analytical knowledges, and the jewel of the factors of enlightenment.”
“Thưa ngài Nāgasena, cửa hàng châu báu của Đức Phật, Đức Thế Tôn là gì?” “Tâu Đại vương, các châu báu đã được Đức Thế Tôn tuyên thuyết. Được trang hoàng bằng những châu báu ấy, các người con của Đức Thế Tôn làm cho thế gian cùng với chư thiên được rực rỡ, chiếu sáng, tỏa sáng, chói sáng, bừng sáng, và hiển thị ánh sáng ở trên, ở dưới, và các phương ngang. Những châu báu ấy là gì? Châu báu giới, châu báu định, châu báu tuệ, châu báu giải thoát, châu báu giải thoát tri kiến, châu báu vô ngại giải, châu báu thất giác chi.”
‘‘Katamaṃ, mahārāja, bhagavato sīlaratanaṃ? Pātimokkhasaṃvarasīlaṃ indriyasaṃvarasīlaṃ ājīvapārisuddhisīlaṃ paccayasannissitasīlaṃ cūḷasīlaṃ majjhimasīlaṃ mahāsīlaṃ maggasīlaṃ phalasīlaṃ. Sīlaratanena kho, mahārāja, vibhūsitassa puggalassa sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā pihayati pattheti, sīlaratanapiḷandho kho, mahārāja, bhikkhu disampi anudisampi uddhampi adhopi tiriyampi virocati ativirocati †, heṭṭhato avīciṃ uparito bhavaggaṃ upādāya etthantare sabbaratanāni atikkamitvā † abhibhavitvā ajjhottharitvā tiṭṭhati, evarūpāni kho, mahārāja, sīlaratanāni bhagavato ratanāpaṇe pasāritāni, idaṃ vuccati mahārāja ‘bhagavato sīlaratana’nti.
“What, great king, is the Blessed One's jewel of virtue? The virtue of Pātimokkha restraint, the virtue of sense restraint, the virtue of purity of livelihood, the virtue dependent on the proper use of the requisites, the minor virtue, the middle virtue, the great virtue, the virtue of the path, and the virtue of the fruit. For a person adorned with the jewel of virtue, great king, the world with its devas, Māras, and Brahmās, together with the populace of recluses and brahmins, longs for and desires him. A monk adorned with the jewel of virtue, great king, shines and shines exceedingly in all directions and intermediate directions, upwards, downwards, and across. From Avīci below up to the peak of existence above, surpassing, overcoming, and overwhelming all other jewels, he stands. Such, great king, are the jewels of virtue displayed in the Blessed One's jewel shop. This, great king, is called 'the Blessed One's jewel of virtue.'”
“Tâu Đại vương, châu báu giới của Đức Thế Tôn là gì? Là giới thu thúc trong Pātimokkha, giới thu thúc các căn, giới thanh tịnh mạng, giới liên quan đến các vật dụng, tiểu giới, trung giới, đại giới, đạo giới, và quả giới. Tâu Đại vương, đối với người được trang hoàng bằng châu báu giới, thế gian cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, vua chúa và dân chúng đều yêu mến, mong mỏi. Tâu Đại vương, vị Tỳ khưu đeo trang sức châu báu giới thì rực rỡ, vô cùng rực rỡ ở các phương, các phương phụ, phương trên, phương dưới, và phương ngang. Từ địa ngục A-tỳ ở dưới cho đến cõi Hữu Đảnh ở trên, trong khoảng không gian ấy, nó đứng vững, vượt qua, chế ngự, và bao trùm tất cả các châu báu khác. Tâu Đại vương, những châu báu giới như vậy được bày bán trong cửa hàng châu báu của Đức Thế Tôn. Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘châu báu giới của Đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Evarūpāni sīlāni, santi buddhassa āpaṇe;
Kammena taṃ kiṇitvāna, ratanaṃ vo piḷandhathā’ti.
“Such virtues are in the Buddha's shop; having purchased it with wholesome action, adorn yourselves with this jewel.”
“‘Những giới báu như thế, có trong cửa hàng của Đức Phật; Hãy dùng nghiệp lành để mua lấy, rồi hãy trang hoàng cho mình bằng châu báu ấy.’”
‘‘Katamaṃ, mahārāja, bhagavato samādhiratanaṃ? Savitakkasavicāro samādhi, avitakkavicāramatto samādhi, avitakkaavicāro samādhi, suññato samādhi, animitto samādhi, appaṇihito samādhi. Samādhiratanaṃ kho, mahārāja, piḷandhassa bhikkhuno ye te kāmavitakkabyāpādavitakkavihiṃsāvitakkamānuddhaccadiṭṭhivicikicchākilesavatthūni vividhāni ca kuvitakkāni, te sabbe samādhiṃ āsajja vikiranti vidhamanti viddhaṃsanti na saṇṭhanti † na upalimpanti †. Yathā, mahārāja, vāri pokkharapatte vikirati vidhamati viddhaṃsati na saṇṭhāti na upalimpati. Taṃ kissa hetu? Parisuddhattā padumassa. Evameva kho, mahārāja, samādhiratanaṃ piḷandhassa bhikkhuno ye te kāmavitakkabyāpādavitakkavihiṃsāvitakkamānuddhacca diṭṭhivicikicchākilesavatthūni vividhāni ca kuvitakkāni, te sabbe samādhiṃ āsajja vikiranti vidhamanti viddhaṃsanti na saṇṭhanti na upalimpanti. Taṃ kissa hetu? Parisuddhattā samādhissa. Idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato samādhiratana’nti, evarūpāni kho, mahārāja, samādhiratanāni bhagavato ratanāpaṇe pasāritāni.
“Great king, what is the Blessed One’s jewel of concentration? Concentration with initial and sustained application, concentration without initial application but with sustained application, concentration without initial or sustained application, the emptiness concentration, the signless concentration, and the undirected concentration. For a monk adorned with the jewel of concentration, great king, all those various bases of defilement—sensual thoughts, thoughts of ill-will, thoughts of harm, conceit, restlessness, wrong views, and doubt—and various unwholesome thoughts, upon encountering concentration, are scattered, dispersed, and destroyed; they do not settle, they do not adhere. Just as, great king, water on a lotus leaf is scattered, dispersed, and destroyed; it does not settle, it does not adhere. For what reason? Because of the purity of the lotus. In the same way, great king, for a monk adorned with the jewel of concentration, all those various bases of defilement—sensual thoughts, thoughts of ill-will, thoughts of harm, conceit, restlessness, wrong views, and doubt—and various unwholesome thoughts, upon encountering concentration, are scattered, dispersed, and destroyed; they do not settle, they do not adhere. For what reason? Because of the purity of concentration. This, great king, is called ‘the Blessed One’s jewel of concentration.’ Such, great king, are the jewels of concentration displayed in the Blessed One’s jewel shop.”
“Tâu Đại vương, châu báu định của Đức Thế Tôn là gì? Là định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ, không định, vô tướng định, và vô nguyện định. Tâu Đại vương, đối với vị Tỳ khưu đeo trang sức châu báu định, những cấu uế phiền não như dục tầm, sân tầm, hại tầm, mạn, trạo cử, tà kiến, hoài nghi, và các ác tầm khác nhau, tất cả chúng khi gặp định liền bị phân tán, tan rã, tiêu diệt, không thể đứng vững, không thể bám dính. Ví như, tâu Đại vương, nước trên lá sen bị phân tán, tan rã, tiêu diệt, không thể đứng vững, không thể bám dính. Do nguyên nhân gì? Do sự trong sạch của hoa sen. Cũng vậy, tâu Đại vương, đối với vị Tỳ khưu đeo trang sức châu báu định, những cấu uế phiền não như dục tầm, sân tầm, hại tầm, mạn, trạo cử, tà kiến, hoài nghi, và các ác tầm khác nhau, tất cả chúng khi gặp định liền bị phân tán, tan rã, tiêu diệt, không thể đứng vững, không thể bám dính. Do nguyên nhân gì? Do sự trong sạch của định. Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘châu báu định của Đức Thế Tôn’. Tâu Đại vương, những châu báu định như vậy được bày bán trong cửa hàng châu báu của Đức Thế Tôn.”
‘‘‘Samādhiratanamālassa, kuvitakkā na jāyare;
Na ca vikkhipate cittaṃ, etaṃ tumhe piḷandhathā’ti.
“For one wearing the garland of the jewel of concentration, unwholesome thoughts do not arise, nor is the mind scattered. You should adorn yourselves with this.”
“‘Đối với người đeo vòng hoa châu báu định, các ác tầm không sanh khởi; Tâm cũng không bị tán loạn, các ngươi hãy đeo trang sức này.’”
‘‘Katamaṃ, mahārāja, bhagavato paññāratanaṃ? Yāya, mahārāja, paññāya ariyasāvako ‘idaṃ kusala’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘idaṃ akusala’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘idaṃ sāvajjaṃ, idaṃ anavajjaṃ, idaṃ sevitabbaṃ, idaṃ na sevitabbaṃ, idaṃ hīnaṃ, idaṃ paṇītaṃ, idaṃ kaṇhaṃ, idaṃ sukkaṃ, idaṃ kaṇhasukkasappaṭibhāga’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘idaṃ dukkha’nti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṃ pajānāti, ‘ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṃ pajānāti. Idaṃ vuccati mahārāja ‘bhagavato paññāratana’nti.
“Great king, what is the Blessed One’s jewel of wisdom? It is the wisdom by which a noble disciple understands as it truly is: ‘This is wholesome,’ ‘This is unwholesome,’ ‘This is blameworthy,’ ‘This is blameless,’ ‘This should be cultivated,’ ‘This should not be cultivated,’ ‘This is inferior,’ ‘This is superior,’ ‘This is dark,’ ‘This is bright,’ ‘This has dark and bright counterparts,’ ‘This is suffering,’ ‘This is the origin of suffering,’ ‘This is the cessation of suffering,’ and ‘This is the path leading to the cessation of suffering.’ This, great king, is called ‘the Blessed One’s jewel of wisdom.’”
“Tâu Đại vương, châu báu tuệ của Đức Thế Tôn là gì? Tâu Đại vương, đó là trí tuệ mà nhờ đó vị Thánh đệ tử biết như thật: ‘Đây là thiện,’ ‘Đây là bất thiện,’ ‘Đây là có tội,’ ‘Đây là không có tội,’ ‘Điều này nên thực hành,’ ‘Điều này không nên thực hành,’ ‘Đây là thấp kém,’ ‘Đây là cao thượng,’ ‘Đây là đen,’ ‘Đây là trắng,’ ‘Đây là pháp có đối phần đen trắng.’ Vị ấy biết như thật: ‘Đây là khổ,’ ‘Đây là khổ tập,’ ‘Đây là khổ diệt,’ ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt.’ Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘châu báu tuệ của Đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Paññāratanamālassa, na ciraṃ vattate bhavo;
Khippaṃ phasseti † amataṃ, na ca so rocate bhave’ti.
“For one wearing the garland of the jewel of wisdom, existence does not continue for long; quickly he realizes the Deathless, and he does not delight in any state of being.”
“‘Đối với người đeo vòng hoa châu báu tuệ, vòng sanh hữu không kéo dài; Vị ấy mau chóng chứng ngộ pháp bất tử, và không còn ưa thích trong các cõi hữu.’”
‘‘Katamaṃ, mahārāja, bhagavato vimuttiratanaṃ’’? ‘‘Vimuttiratanaṃ † kho, mahārāja, arahattaṃ vuccati, arahattaṃ patto kho, mahārāja, bhikkhu ‘vimuttiratanaṃ piḷandho’ti vuccati. Yathā, mahārāja, puriso muttākalāpamaṇikalāpapavāḷakalāpābharaṇappaṭimaṇḍito † agalutagaratālīsakalohitacandanānulittagatto nāgapunnāgasālasalaḷacampakayūthikātimuttakapāṭaluppalavassikamallikāvicitto sesajane atikkamitvā virocati ativirocati obhāsati pabhāsati sampabhāsati jalati pajjalati abhibhavati ajjhottharati mālāgandharatanābharaṇehi, evameva kho, mahārāja, arahattaṃ patto khīṇāsavo vimuttiratanapiḷandho upādāyupādāya vimuttānaṃ bhikkhūnaṃ atikkamitvā samatikkamitvā virocati ativirocati obhāsati pabhāsati sampabhāsati jalati pajjalati abhibhavati ajjhottharati vimuttiyā. Taṃ kissa hetu? Aggaṃ, mahārāja, etaṃ piḷandhanaṃ sabbapiḷandhanānaṃ, yadidaṃ vimuttipiḷandhanaṃ. Idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato vimuttiratana’nti.
“What, great king, is the Blessed One’s treasure of liberation?” “The treasure of liberation, great king, is called arahantship. A monk who has attained arahantship, great king, is said to be ‘wearing the treasure of liberation.’ Just as, great king, a man adorned with strings of pearls, jewels, and coral, his body anointed with agalloch, tagara, tālīsa, and red sandalwood, splendidly decorated with garlands of nāga, punnāga, sāla, salaḷa, campaka, yūthikā, atimuttaka, pāṭalī, uppala, vassikā, and mallikā flowers, surpassing other people, shines, shines exceedingly, glows, radiates, radiates fully, blazes, blazes intensely, overcomes, and overwhelms with garlands, perfumes, and jeweled ornaments—even so, great king, a monk who has attained arahantship, whose corruptions are destroyed, wearing the treasure of liberation, surpasses and excels those monks liberated with a residue of clinging, and shines, shines exceedingly, glows, radiates, radiates fully, blazes, blazes intensely, overcomes, and overwhelms by means of liberation. For what reason? Because, great king, this is the foremost of all adornments, that is, the adornment of liberation. This, great king, is called ‘the Blessed One’s treasure of liberation.’”
“Tâu Đại vương, bảo vật giải thoát của đức Thế Tôn là gì?” “Tâu Đại vương, quả A-la-hán được gọi là bảo vật giải thoát. Tâu Đại vương, vị tỳ khưu đã chứng đắc quả A-la-hán được gọi là ‘người trang sức bằng bảo vật giải thoát.’ Tâu Đại vương, ví như một người đàn ông được trang điểm bằng các món trang sức là vòng ngọc trai, vòng ngọc báu, vòng san hô, thân mình được thoa xức trầm hương, kỳ nam, tùng hương, và chiên đàn đỏ, được trang hoàng rực rỡ bởi các loại hoa long não, hoa móng rồng, hoa sala, hoa thông, hoa sứ, hoa lài, hoa nhài leo, hoa hàm tiếu, hoa sen xanh, hoa lài mưa, hoa lài thơm, vượt trội hơn những người khác, tỏa sáng, tỏa sáng rực rỡ, chiếu sáng, rạng ngời, rạng ngời hoàn toàn, bừng cháy, bừng cháy mãnh liệt, lấn át, bao trùm bởi vòng hoa, hương thơm, và trang sức quý báu. Cũng vậy, tâu Đại vương, vị A-la-hán đã chứng đắc quả vị, đã đoạn tận các lậu hoặc, được trang sức bằng bảo vật giải thoát, so với các vị tỳ khưu đã giải thoát khác, vị ấy vượt trội hơn, siêu việt hơn, tỏa sáng, tỏa sáng rực rỡ, chiếu sáng, rạng ngời, rạng ngời hoàn toàn, bừng cháy, bừng cháy mãnh liệt, lấn át, bao trùm bởi sự giải thoát. Vì sao vậy? Tâu Đại vương, món trang sức này là tối thượng trong tất cả các món trang sức, đó chính là món trang sức giải thoát. Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘bảo vật giải thoát của đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Maṇimālādharaṃ geha, jano † sāmiṃ udikkhati;
Vimuttiratanamālantu, udikkhanti sadevakā’ti.
“‘People look up to the master of a house wearing a garland of jewels; but gods and humans look up to one wearing the garland of the jewel of liberation.’”
“Người gia chủ đeo vòng ngọc báu, dân chúng đều ngước nhìn; Còn người đeo vòng hoa bảo vật giải thoát, chư Thiên cùng nhân loại đều ngước nhìn.”
‘‘Katamaṃ mahārāja, bhagavato vimuttiñāṇadassanaratanaṃ? Paccavekkhaṇañāṇaṃ, mahārāja, bhagavato vimuttiñāṇadassanaratananti vuccati, yena ñāṇena ariyasāvako maggaphalanibbānāni pahīnakilesāvasiṭṭhakilese ca paccavekkhati.
“What, great king, is the Blessed One’s treasure of the knowledge and vision of liberation?” “The knowledge of reviewing, great king, is called the Blessed One’s treasure of the knowledge and vision of liberation—the knowledge by which a noble disciple reviews the path, the fruits, Nibbāna, abandoned defilements, and the remaining defilements.”
“Tâu Đại vương, bảo vật giải thoát tri kiến của đức Thế Tôn là gì? Tâu Đại vương, trí tuệ quán xét được gọi là bảo vật giải thoát tri kiến của đức Thế Tôn. Nhờ trí tuệ ấy, vị Thánh đệ tử quán xét đạo, quả, Niết-bàn, các phiền não đã đoạn trừ và các phiền não còn sót lại.”
‘‘‘Ye ñāṇena bujjhanti, ariyā katakiccataṃ;
Taṃ ñāṇaratanaṃ laddhuṃ, vāyametha jinorasā’ti.
“‘The noble ones who, through knowledge, understand that what was to be done has been done—strive, O sons of the Conqueror, to attain that treasure of knowledge.’”
“Nhờ trí tuệ nào các bậc Thánh giác ngộ được phận sự đã làm xong, hỡi các con của đấng Chiến Thắng, hãy tinh tấn để chứng đắc bảo vật trí tuệ ấy.”
‘‘Katamaṃ, mahārāja, bhagavato paṭisambhidāratanaṃ? Catasso kho, mahārāja, paṭisambhidāyo atthapaṭisambhidā dhammapaṭisambhidā niruttipaṭisambhidā paṭibhānapaṭisambhidāti. Imehi kho, mahārāja, catūhi paṭisambhidāratanehi samalaṅkato bhikkhu yaṃ yaṃ parisaṃ upasaṅkamati, yadi khattiyaparisaṃ, yadi brāhmaṇaparisaṃ, yadi gahapatiparisaṃ, yadi samaṇaparisaṃ, visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto abhīru acchambhī anutrāsī vigatalomahaṃso parisaṃ upasaṅkamati.
“What, great king, is the Blessed One’s treasure of analytical knowledge?” “There are these four kinds of analytical knowledge, great king: analytical knowledge of meaning, analytical knowledge of the Dhamma, analytical knowledge of language, and analytical knowledge of ready wit. A monk adorned with these four treasures of analytical knowledge, great king, approaches any assembly—whether an assembly of nobles, brahmins, householders, or ascetics—with confidence, unhesitating, fearless, unshaken, untrembling, his hair not standing on end.”
“Tâu Đại vương, bảo vật Vô ngại giải của đức Thế Tôn là gì? Tâu Đại vương, có bốn Vô ngại giải là: Nghĩa vô ngại giải, Pháp vô ngại giải, Từ vô ngại giải, và Biện tài vô ngại giải. Tâu Đại vương, vị tỳ khưu được trang sức đầy đủ bởi bốn bảo vật Vô ngại giải này, khi đi đến bất cứ hội chúng nào, dù là hội chúng Sát-đế-lợi, hội chúng Bà-la-môn, hội chúng gia chủ, hay hội chúng sa-môn, vị ấy đi đến với sự tự tin, không bối rối, không sợ hãi, không kinh hãi, không run sợ, không dựng tóc gáy, vị ấy đi đến hội chúng.”
‘‘Yathā, mahārāja, yodho saṅgāmasūro sannaddhapañcāvudho acchambhito † saṅgāmaṃ otarati, ‘sace amittā dūre bhavissanti usunā pātayissāmi, tato orato bhavissanti sattiyā paharissāmi, tato orato bhavissanti kaṇayena paharissāmi, upagataṃ santaṃ maṇḍalaggena dvidhā chindissāmi, kāyūpagataṃ churikāya vinivijjhissāmī’ti †, evameva kho, mahārāja, catupaṭisambhidāratanamaṇḍito bhikkhu acchambhito parisaṃ upasaṅkamati. Yo koci maṃ atthapaṭisambhide pañhaṃ pucchissati, tassa atthena atthaṃ kathayissāmi, kāraṇena kāraṇaṃ kathayissāmi, hetunā hetuṃ kathayissāmi, nayena nayaṃ kathayissāmi, nissaṃsayaṃ karissāmi, vimatiṃ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇena.
“Just as, great king, a heroic warrior skilled in battle, equipped with five weapons, fearlessly enters the battlefield, thinking: ‘If the enemies are far away, I will strike them down with an arrow; if they are closer, I will hit them with a spear; if they are even closer, I will strike them with a javelin; if one comes right up to me, I will split him in two with my curved sword; if one presses against my body, I will pierce him with a dagger’—so too, great king, a monk adorned with the treasure of the fourfold analytical knowledge fearlessly approaches an assembly. ‘Whoever asks me a question regarding the analytical knowledge of meaning, to them I will explain meaning by meaning, reason by reason, cause by cause, method by method. I will make them free from doubt, dispel their uncertainty, and delight them with my answer to their question.
“Tâu Đại vương, ví như một dũng sĩ thiện chiến nơi sa trường, trang bị năm loại vũ khí, không kinh hãi tiến vào trận địa, (nghĩ rằng): ‘Nếu kẻ địch ở xa, ta sẽ bắn hạ bằng cung tên. Nếu chúng ở gần hơn, ta sẽ đâm bằng giáo. Nếu chúng ở gần hơn nữa, ta sẽ đâm bằng lao. Kẻ nào đến gần, ta sẽ chém làm hai bằng gươm. Kẻ nào áp sát thân, ta sẽ đâm bằng dao găm.’ Cũng vậy, tâu Đại vương, vị tỳ khưu được trang điểm bằng bảo vật bốn Vô ngại giải, không kinh hãi đi đến hội chúng. (Vị ấy nghĩ): ‘Nếu có ai hỏi ta vấn đề về Nghĩa vô ngại giải, ta sẽ giải thích nghĩa bằng nghĩa, nguyên nhân bằng nguyên nhân, duyên cớ bằng duyên cớ, phương pháp bằng phương pháp. Ta sẽ làm cho hết nghi ngờ, sẽ xua tan sự do dự, sẽ làm cho hoan hỷ bằng câu trả lời vấn đề.’”
‘‘Yo koci maṃ dhammapaṭisambhide pañhaṃ pucchissati, tassa dhammena dhammaṃ kathayissāmi, amatena amataṃ kathayissāmi, asaṅkhatena asaṅkhataṃ kathayissāmi, nibbānena nibbānaṃ kathayissāmi, suññatena suññataṃ kathayissāmi, animittena animittaṃ kathayissāmi, appaṇihitena appaṇihitaṃ kathayissāmi, anejena anejaṃ kathayissāmi, nissaṃsayaṃ karissāmi, vimatiṃ vivecessāmi, tosayissāmi pañhāveyyākaraṇena.
“‘Whoever asks me a question regarding the analytical knowledge of the Dhamma, to them I will explain Dhamma by Dhamma, the deathless by the deathless, the unconditioned by the unconditioned, Nibbāna by Nibbāna, emptiness by emptiness, the signless by the signless, the undirected by the undirected, the unagitated by the unagitated. I will make them free from doubt, dispel their uncertainty, and delight them with my answer to their question.
“‘Nếu có ai hỏi ta vấn đề về Pháp vô ngại giải, ta sẽ giải thích pháp bằng pháp, bất tử bằng bất tử, vô vi bằng vô vi, Niết-bàn bằng Niết-bàn, không tánh bằng không tánh, vô tướng bằng vô tướng, vô nguyện bằng vô nguyện, bất động bằng bất động. Ta sẽ làm cho hết nghi ngờ, sẽ xua tan sự do dự, sẽ làm cho hoan hỷ bằng câu trả lời vấn đề.’”
‘‘Yo koci maṃ niruttipaṭisambhide pañhaṃ pucchissati, tassa niruttiyā niruttiṃ kathayissāmi, padena padaṃ kathayissāmi, anupadena anupadaṃ kathayissāmi, akkharena akkharaṃ kathayissāmi, sandhiyā sandhiṃ kathayissāmi, byañjanena byañjanaṃ kathayissāmi, anubyañjanena anubyañjanaṃ kathayissāmi, vaṇṇena vaṇṇaṃ kathayissāmi, sarena saraṃ kathayissāmi, paññattiyā paññattiṃ kathayissāmi, vohārena vohāraṃ kathayissāmi, nissaṃsayaṃ karissāmi, vimatiṃ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇena.
“‘Whoever asks me a question regarding the analytical knowledge of language, to them I will explain language by language, word by word, phrase by phrase, letter by letter, combination by combination, consonant by consonant, secondary consonant by secondary consonant, pronunciation by pronunciation, vowel by vowel, designation by designation, idiom by idiom. I will make them free from doubt, dispel their uncertainty, and delight them with my answer to their question.
“‘Nếu có ai hỏi ta vấn đề về Từ vô ngại giải, ta sẽ giải thích từ nguyên bằng từ nguyên, từ bằng từ, biến cách và hậu tố bằng biến cách và hậu tố, chữ cái bằng chữ cái, sự nối âm bằng sự nối âm, phụ âm bằng phụ âm, nhóm phụ âm bằng nhóm phụ âm, âm tiết bằng âm tiết, nguyên âm bằng nguyên âm, khái niệm bằng khái niệm, cách dùng từ bằng cách dùng từ. Ta sẽ làm cho hết nghi ngờ, sẽ xua tan sự do dự, sẽ làm cho hoan hỷ bằng câu trả lời vấn đề.’”
‘‘Yo koci maṃ paṭibhānapaṭisambhide pañhaṃ pucchissati, tassa paṭibhānena paṭibhānaṃ kathayissāmi, opammena opammaṃ kathayissāmi, lakkhaṇena lakkhaṇaṃ kathayissāmi, rasena rasaṃ kathayissāmi, nissaṃsayaṃ karissāmi, vimatiṃ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇenāti, idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato paṭisambhidāratana’nti.
“‘Whoever asks me a question regarding the analytical knowledge of ready wit, to them I will explain ready wit by ready wit, simile by simile, characteristic by characteristic, function by function. I will make them free from doubt, dispel their uncertainty, and delight them with my answer to their question.’ This, great king, is called ‘the Blessed One’s treasure of analytical knowledge.’”
“‘Nếu có ai hỏi ta vấn đề về Biện tài vô ngại giải, ta sẽ giải thích biện tài bằng biện tài, ví dụ bằng ví dụ, đặc tướng bằng đặc tướng, công năng bằng công năng. Ta sẽ làm cho hết nghi ngờ, sẽ xua tan sự do dự, sẽ làm cho hoan hỷ bằng câu trả lời vấn đề.’ Tâu Đại vương, đây được gọi là ‘bảo vật Vô ngại giải của đức Thế Tôn’.”
‘‘‘Paṭisambhidā kiṇitvāna, ñāṇena phassayeyya yo;
Acchambhito anubbiggo, atirocati sadevake’ti.
“‘Whoever, having acquired the analytical knowledges, would touch them with knowledge—that one, unshaken and undismayed, outshines the world with its gods.’”
“‘Người nào đã mua các Vô ngại giải, và đã chạm đến bằng trí tuệ, người ấy không kinh hãi, không lo âu, tỏa sáng rực rỡ giữa thế giới chư Thiên.’”
‘‘Katamaṃ, mahārāja, bhagavato bojjhaṅgaratanaṃ? Sattime, mahārāja, bojjhaṅgā, satisambojjhaṅgo dhammavicayasambojjhaṅgo vīriyasambojjhaṅgo pītisambojjhaṅgo passaddhisambojjhaṅgo samādhisambojjhaṅgo upekkhāsambojjhaṅgo. Imehi kho, mahārāja, sattahi bojjhaṅgaratanehi paṭimaṇḍito bhikkhu sabbaṃ tamaṃ abhibhuyya sadevakaṃ lokaṃ obhāseti pabhāseti ālokaṃ janeti. Idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato bojjhaṅgaratana’nti.
“What, great king, is the Blessed One’s treasure of the factors of enlightenment? There are these seven factors of enlightenment, great king: the enlightenment factor of mindfulness, the enlightenment factor of investigation of phenomena, the enlightenment factor of energy, the enlightenment factor of rapture, the enlightenment factor of tranquility, the enlightenment factor of concentration, and the enlightenment factor of equanimity. A monk, great king, adorned with these seven treasures of the enlightenment factors, overcomes all darkness and illuminates, brightens, and generates light in the world with its gods. This, great king, is called ‘the Blessed One’s treasure of the factors of enlightenment.’”
– Tâu Đại vương, báu vật giác chi của đức Thế Tôn là gì? – Tâu Đại vương, có bảy giác chi này là: niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, và xả giác chi. Tâu Đại vương, vị tỳ khưu được trang điểm bởi bảy báu vật giác chi này, sau khi đã khắc phục được tất cả bóng tối, làm chói sáng, làm rực rỡ, làm phát sinh ánh sáng cho thế gian cùng với chư Thiên. Tâu Đại vương, điều này được gọi là ‘báu vật giác chi của đức Thế Tôn’.
‘‘‘Bojjhaṅgaratanamālassa, uṭṭhahanti † sadevakā;
Kammena taṃ kiṇitvāna, ratanaṃ vo piḷandhathā’’’ti.
“‘Gods and humans pay homage to one who wears the garland of the jewel of the enlightenment factors. Having purchased that jewel with your deeds, may you all wear it.’”
‘Thế gian cùng với chư Thiên đứng dậy (cung nghinh) người có vòng hoa báu vật giác chi. Sau khi đã mua lấy báu vật ấy bằng nghiệp (thiện), các ngươi hãy trang sức (cho mình).’
‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ buddhassa bhagavato sabbāpaṇa’’nti? ‘‘Sabbāpaṇaṃ kho, mahārāja, bhagavato navaṅgaṃ buddhavacanaṃ sārīrikāni pāribhogikāni cetiyāni saṅgharatanañca. Sabbāpaṇe, mahārāja, bhagavatā jātisampatti pasāritā, bhogasampatti pasāritā, āyusampatti pasāritā, ārogyasampatti pasāritā, vaṇṇasampatti pasāritā, paññāsampatti pasāritā, mānusikasampatti pasāritā, dibbasampatti pasāritā, nibbānasampatti pasāritā. Tattha ye taṃ taṃ sampattiṃ icchanti, te kammamūlaṃ datvā patthitapatthitaṃ sampattiṃ kiṇanti, keci sīlasamādānena kiṇanti, keci uposathakammena kiṇanti, appamattakenapi kammamūlena upādāyupādāya sampattiyo paṭilabhanti. Yathā, mahārāja, āpaṇikassa āpaṇe tilamuggamāse parittakenapi taṇḍulamuggamāsena appakenapi mūlena upādāyupādāya gaṇhanti, evameva kho, mahārāja, bhagavato sabbāpaṇe appamattakenapi kammamūlena upādāyupādāya sampattiyo paṭilabhanti. Idaṃ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato sabbāpaṇa’nti.
“Venerable Nāgasena, what is the Blessed One’s universal shop?” “The universal shop, great king, is the Blessed One’s ninefold Buddha-word, his bodily relics, relics of use, and the jewel of the Sangha. In the universal shop, great king, the Blessed One has spread out the accomplishment of birth, the accomplishment of wealth, the accomplishment of long life, the accomplishment of health, the accomplishment of beauty, the accomplishment of wisdom, the accomplishment of the human state, the accomplishment of the divine state, and the accomplishment of Nibbāna. There, those who desire any particular accomplishment, having given kamma as the price, purchase their desired accomplishment. Some purchase it by undertaking virtue, some by the Uposatha observance, and by acquiring them again and again even with a small amount of kamma as the price, they obtain accomplishments. Just as, great king, in a merchant’s shop, people acquire sesame, mung beans, and lentils again and again with a small amount of rice, mung beans, or lentils, or with a small price, so too, great king, in the Blessed One’s universal shop, people obtain accomplishments by acquiring them again and again even with a small amount of kamma as the price. This, great king, is called ‘the Blessed One’s universal shop.’”
– Kính bạch ngài Nāgasena, cửa hàng tổng hợp của đức Thế Tôn, đức Phật là gì? – Tâu Đại vương, cửa hàng tổng hợp của đức Thế Tôn là chín chi phần của lời Phật dạy, các bảo tháp Xá-lợi, các bảo tháp vật dụng, và Tăng bảo. Tâu Đại vương, ở cửa hàng tổng hợp, đức Thế Tôn đã cho trưng bày sự thành tựu về dòng dõi, đã cho trưng bày sự thành tựu về tài sản, đã cho trưng bày sự thành tựu về tuổi thọ, đã cho trưng bày sự thành tựu về sự không bệnh, đã cho trưng bày sự thành tựu về dung sắc, đã cho trưng bày sự thành tựu về trí tuệ, đã cho trưng bày sự thành tựu (về hạnh phúc) của loài người, đã cho trưng bày sự thành tựu (về hạnh phúc) của chư Thiên, đã cho trưng bày sự thành tựu về Niết Bàn. Ở nơi ấy, những người mong muốn sự thành tựu nào đó, họ trả giá bằng nghiệp rồi mua lấy sự thành tựu đã được mong mỏi. Một số vị mua bằng sự thọ trì giới, một số vị mua bằng nghiệp vụ Bố-tát. Và họ đạt được các sự thành tựu tùy theo giá cả bằng nghiệp dù là nhỏ nhoi. Tâu Đại vương, giống như ở cửa hàng của người bán hàng, người ta mua lấy mè, đậu xanh, đậu muồng tùy theo (giá cả) bằng gạo, đậu xanh, đậu muồng dù là ít ỏi, hoặc bằng giá tiền dù là nhỏ nhoi. Tâu Đại vương, cũng tương tự như thế, ở cửa hàng tổng hợp của đức Thế Tôn, họ đạt được các sự thành tựu tùy theo giá cả bằng nghiệp dù là nhỏ nhoi. Tâu Đại vương, điều này được gọi là ‘cửa hàng tổng hợp của đức Thế Tôn’.
‘‘‘Āyu arogatā vaṇṇaṃ, saggaṃ uccākulīnatā;
Asaṅkhatañca amataṃ, atthi sabbāpaṇe jine.
“Long life, health, beauty, heaven, high birth, the unconditioned, and the deathless—all are in the Victor’s universal shop.”
‘Tuổi thọ, sự không bệnh, dung sắc, cõi trời, dòng dõi cao sang, và trạng thái Vô Vi, Bất Tử có ở cửa hàng tổng hợp của đấng Chiến Thắng.
‘‘‘Appena bahukenāpi, kammamūlena gayhati;
Kiṇitvā saddhāmūlena, samiddhā hotha bhikkhavo’ti.
“With little or much kamma as the price, it is obtained; having purchased it with faith as the price, may you monks prosper.”
‘(Hàng hóa) được mua bằng giá cả là nghiệp, dù ít hay nhiều. Hỡi các tỳ khưu, sau khi đã mua bằng giá cả là đức tin, các ngươi hãy được thành công.’
‘‘Bhagavato kho, mahārāja, dhammanagare evarūpā janā paṭivasanti, suttantikā venayikā ābhidhammikā dhammakathikā jātakabhāṇakā dīghabhāṇakā majjhimabhāṇakā saṃyuttabhāṇakā aṅguttarabhāṇakā khuddakabhāṇakā sīlasampannā samādhisampannā paññāsampannā bojjhaṅgabhāvanāratā vipassakā sadatthamanuyuttā āraññikā rukkhamūlikā abbhokāsikā palālapuñjikā sosānikā nesajjikā paṭipannakā phalaṭṭhā sekkhā phalasamaṅgino sotāpannā sakadāgāmino anāgāmino arahanto tevijjā chaḷabhiññā iddhimanto paññāya pāramiṃgatā satipaṭṭhānasammappadhānaiddhipādaindriyabalabojjhaṅgamaggavarajhānavimokkharū pārūpasantasukhasamāpattikusalā, tehi arahantehi ākulaṃ samākulaṃ ākiṇṇaṃ samākiṇṇaṃ naḷavanasaravanamiva dhammanagaraṃ ahosi. Bhavatīha –
“Great king, in the Blessed One’s city of Dhamma dwell such people: those versed in the Discourses, those versed in the Discipline, those versed in the Abhidhamma, Dhamma speakers, reciters of the Jātakas, reciters of the Long Discourses, reciters of the Middle Length Discourses, reciters of the Connected Discourses, reciters of the Numerical Discourses, reciters of the Minor Discourses, those accomplished in virtue, those accomplished in concentration, those accomplished in wisdom, those devoted to the development of the factors of enlightenment, those who practice insight, those intent on their own true good, forest dwellers, tree-root dwellers, open-air dwellers, those who dwell on a heap of straw, cemetery dwellers, those who do not lie down, those on the path, those established in the fruit, learners, those endowed with the fruit, stream-enterers, once-returners, non-returners, arahants, those with the threefold knowledge, those with the sixfold higher knowledge, those with psychic power, those who have reached the perfection of wisdom, those skilled in the foundations of mindfulness, the right efforts, the bases of psychic power, the faculties, the powers, the factors of enlightenment, the path, excellent absorptions, liberations, and the peaceful, blissful form and formless attainments; with these arahants the city of Dhamma was crowded, packed, filled, and teeming, like a forest of reeds or a thicket of arrows. It is said herein:
– Tâu Đại vương, ở tại thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn có những hạng người như vầy đang trú ngụ: các vị thông thuộc Kinh Tạng, các vị thông thuộc Luật Tạng, các vị thông thuộc Luận Tạng, các vị thuyết pháp, các vị tụng đọc Bổn Sanh, các vị tụng đọc Trường Bộ, các vị tụng đọc Trung Bộ, các vị tụng đọc Tương Ưng Bộ, các vị tụng đọc Tăng Chi Bộ, các vị tụng đọc Tiểu Bộ, các vị thành tựu về giới, các vị thành tựu về định, các vị thành tựu về tuệ, các vị thích thú trong việc tu tập các giác chi, các vị hành thiền minh sát, các vị nỗ lực vì lợi ích của mình, các vị ở trong rừng, các vị ở dưới gốc cây, các vị ở ngoài trời, các vị ở đống rơm, các vị ở nghĩa địa, các vị thực hành hạnh ngồi, các vị đang thực hành, các vị đã chứng quả, các vị hữu học, các vị đã thành tựu quả vị, các vị Nhập Lưu, các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai, các vị A-la-hán, các vị có tam minh, các vị có lục thông, các vị có thần thông, các vị đã đi đến bờ bên kia của trí tuệ, các vị thiện xảo về niệm xứ, chánh cần, như ý túc, quyền, lực, giác chi, đạo lộ, các thiền chứng cao thượng, các sự giải thoát, các thiền sắc giới, vô sắc giới, và các thiền chứng an tịnh và an lạc. Thành phố Chánh Pháp ấy đã trở nên đông đúc, rất đông đúc, chật ních, rất chật ních các vị A-la-hán giống như khu rừng lau, rừng sậy. Ở đây có nói rằng:
‘‘‘Vītarāgā vītadosā, vītamohā anāsavā;
Vītataṇhā anādānā, dhammanagare vasanti te.
“Free from passion, free from aversion, free from delusion, without taints, free from craving, without grasping—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị đã ly tham, đã ly sân, đã ly si, không còn lậu hoặc, đã hết ái dục, không còn chấp thủ, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Āraññikā dhutadharā, jhāyino lūkhacīvarā;
Vivekābhiratā dhīrā, dhammanagare vasanti te.
“Forest dwellers, observers of the ascetic practices, meditators wearing rough robes, the wise who delight in seclusion—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị ở trong rừng, các vị giữ hạnh đầu-đà, các vị hành thiền, các vị có y phục thô sơ, các bậc hiền trí thích thú sự an tịnh, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Nesajjikā santhatikā, athopi ṭhānacaṅkamā;
Paṃsukūladharā sabbe, dhammanagare vasanti te.
“Those who abstain from lying down, those content with any dwelling, and those given to standing and walking; all wearing rag-robes—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị thực hành hạnh ngồi, các vị (hài lòng) với chỗ ở được sắp đặt, và cả các vị đứng và đi kinh hành, tất cả các vị mặc y phấn tảo, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Ticīvaradharā santā, cammakhaṇḍacatutthakā;
Ratā ekāsane viññū, dhammanagare vasanti te.
“Peaceful, wearing the triple robe, with a piece of leather as the fourth; the wise who delight in eating in one sitting—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các bậc hiền thiện mặc tam y, có miếng da làm vật thứ tư, các bậc hiền trí thích thú việc ăn tại một chỗ ngồi, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Appicchā nipakā dhīrā, appāhārā alolupā;
Lābhālābhena santuṭṭhā, dhammanagare vasanti te.
“Of few wishes, prudent, wise, eating sparingly, free from greed, satisfied with gain or lack of gain—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị ít ham muốn, thận trọng, hiền trí, ăn ít, không tham lam, biết hài lòng với sự được lợi và không được lợi, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Jhāyī jhānaratā dhīrā, santacittā samāhitā;
Ākiñcaññaṃ patthayānā, dhammanagare vasanti te.
“Meditators, delighting in meditation, wise, with peaceful minds, composed, aspiring to nothingness—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị hành thiền, các bậc hiền trí thích thú thiền-na, có tâm an tịnh, có sự định tĩnh, các vị mong mỏi Vô Sở Hữu Xứ, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Paṭipannā phalaṭṭhā ca, sekkhā phalasamaṅgino;
Āsīsakā † uttamatthaṃ, dhammanagare vasanti te.
“Those on the path and those established in the fruit, trainees and those possessing the fruit, aspirants for the highest goal—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị đang thực hành và các vị đã chứng quả, các vị hữu học, các vị đã thành tựu quả vị, các vị mong mỏi mục đích tối thượng, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Sotāpannā ca vimalā, sakadāgāmino ca ye;
Anāgāmī ca arahanto, dhammanagare vasanti te.
“Stainless stream-enterers, once-returners, non-returners, and arahants—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị Nhập Lưu không còn cấu uế, và các vị Nhất Lai, và các vị Bất Lai, các vị A-la-hán, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Satipaṭṭhānakusalā, bojjhaṅgabhāvanāratā;
Vipassakā dhammadharā, dhammanagare vasanti te.
“Skilled in the foundations of mindfulness, delighting in the development of the factors of enlightenment, practitioners of insight, bearers of the Dhamma—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị thiện xảo về niệm xứ, các vị thích thú trong việc tu tập các giác chi, các vị hành thiền minh sát, các vị hộ trì Chánh Pháp, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Iddhipādesu kusalā, samādhibhāvanāratā;
Sammappadhānānuyuttā, dhammanagare vasanti te.
“Skilled in the bases of psychic power, delighting in the development of concentration, devoted to the right efforts—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị thiện xảo về các như ý túc, các vị thích thú trong việc tu tập định, các vị nỗ lực thực hành các chánh cần, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Abhiññāpāramippattā, pettike gocare ratā;
Antalikkhamhi caraṇā, dhammanagare vasanti te.
“Having attained the perfection of higher knowledge, delighting in their ancestral resort, traversing the sky—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị đã đạt đến sự toàn hảo về các thắng trí, các vị thích thú trong cảnh giới của người cha, các vị có thể đi lại trong hư không, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Okkhittacakkhū mitabhāṇī, guttadvārā susaṃvutā;
Sudantā uttame damme †, dhammanagare vasanti te.
“With downcast eyes, speaking moderately, with guarded doors, well restrained, well-tamed in the highest discipline—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị có mắt nhìn xuống, nói năng có chừng mực, có các căn được hộ trì, được phòng hộ kỹ lưỡng, được khéo điều phục trong sự chế ngự tối thượng, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.
‘‘‘Tevijjā chaḷabhiññā ca, iddhiyā pāramiṃ gatā;
Paññāya pāramippattā, dhammanagare vasanti te’ti.
“Those with the threefold knowledge and sixfold higher knowledge, having reached the perfection of psychic power, having reached the perfection of wisdom—they dwell in the city of Dhamma.”
‘Các vị có tam minh và lục thông, các vị đã đi đến sự toàn hảo về thần thông, các vị đã đạt đến sự toàn hảo về trí tuệ, các vị ấy sống ở thành phố Chánh Pháp.’
‘‘Ye kho te, mahārāja, bhikkhū aparimitañāṇavaradharā asaṅgā atulaguṇā † atulayasā atulabalā atulatejā dhammacakkānuppavattakā paññāpāramiṃ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammasenāpatino’ti vuccanti.
“Those monks, great king, who possess supreme, immeasurable knowledge, are unattached, of incomparable virtue, incomparable fame, incomparable strength, and incomparable radiance, who keep the wheel of Dhamma rolling and have reached the perfection of wisdom—such monks, great king, are called 'Generals of the Dhamma' in the Blessed One’s city of Dhamma.”
– Tâu Đại vương, những vị tỳ khưu nào là người nắm giữ trí tuệ cao thượng và vô lượng, không còn bị dính mắc, có đức hạnh không thể so sánh, có danh tiếng không thể so sánh, có sức mạnh không thể so sánh, có oai lực không thể so sánh, là người tiếp tục chuyển vận bánh xe Chánh Pháp, đã đi đến sự toàn hảo về trí tuệ, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như vậy được gọi là ‘các vị Tướng quân Chánh Pháp’ ở tại thành phố Chánh Pháp của đức Thế Tôn.
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū iddhimanto adhigatappaṭisambhidāpattavesārajjā gaganacarā durāsadā duppasahā anālambacarā sasāgaramahidharapathavikampako candasūriyaparimajjakā vikubbanādhiṭṭhānābhinīhārakusalā iddhiyā pāramiṃ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘purohitā’ti vuccanti.
“Those monks, great king, who are endowed with psychic power, have attained the analytical knowledges, have attained fearlessness, travel in the sky, are difficult to approach, hard to endure, travel without support, shake the earth together with its oceans and mountains, touch and stroke the moon and sun, and are skilled in transformation, resolution, and projection—having reached the perfection in psychic power—such monks, great king, are called 'chaplains' in the Blessed One's city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu có thần thông, đã chứng đắc các pháp vô ngại giải, đã đạt đến các pháp vô sở úy, có thể đi trên hư không, khó bị tấn công, khó bị áp đảo, có thể đi lại không cần nương tựa, có thể làm rung chuyển trái đất cùng với biển cả và núi non, có thể chạm đến mặt trăng mặt trời, thiện xảo trong việc biến hóa, quyết định và dẫn phát thần thông, đã đạt đến sự toàn hảo về thần thông, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là các vị ‘cố vấn’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhutaṅgamanugatā appicchā santuṭṭhā viññattimanesanajigucchakā piṇḍāya sapadānacārino bhamarāva gandhamanughāyitvā pavisanti vivittakānanaṃ, kāye ca jīvite ca nirapekkhā arahattamanuppattā dhutaṅgaguṇe agganikkhittā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘akkhadassā’ti vuccanti.
“Those monks, great king, who follow the ascetic practices, are of few desires, content, disgusted with soliciting and seeking, wander for alms from house to house, enter secluded forests like bees that, having savored the fragrance, enter, are indifferent to body and life, have attained arahantship, and are foremost in the qualities of asceticism—such monks, great king, are called 'judges' in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu theo hạnh đầu-đà, thiểu dục, tri túc, ghê tởm sự gợi ý và tìm cầu không đúng pháp, đi khất thực theo thứ tự từng nhà, giống như con ong sau khi hút mật hoa liền đi vào khu rừng vắng, không luyến tiếc thân và mạng, đã chứng đắc A-la-hán quả, xem trọng các phẩm hạnh đầu-đà, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là các vị ‘quan tòa’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū parisuddhā vimalā nikkilesā cutūpapātakusalā dibbacakkhumhi pāramiṃ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘nagarajotakā’ti vuccanti.
“Those monks, great king, who are pure, stainless, free from defilements, skilled in the passing away and rebirth of beings, having reached perfection in the divine eye—such monks, great king, are called 'City Illuminators' in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu thanh tịnh, không tỳ vết, không phiền não, thiện xảo về sự sinh tử của chúng sanh, đã đạt đến sự toàn hảo về thiên nhãn, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là các vị ‘làm rạng danh đô thành’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā sithiladhanitadīgharassagarukalahukakkharaparicchedakusalā navaṅgasāsanadharā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammarakkhā’ti vuccanti.
“Those monks, great king, who are learned, versed in the traditions, bearers of the Dhamma, bearers of the Vinaya, bearers of the matrices, skilled in distinguishing lax and tense, long and short, heavy and light, and harsh syllables, and bearers of the ninefold teaching—such monks, great king, are called 'Guardians of the Dhamma' in the Blessed One's city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu đa văn, thông thuộc Thánh điển, trì Pháp, trì Luật, trì các đề mục, thiện xảo trong việc phân biệt các âm mềm, cứng, dài, ngắn, nặng, nhẹ, thô, đã thọ trì giáo pháp chín chi, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là các vị ‘hộ pháp’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū vinayaññū vinayakovidā ṭhānāṭṭhānakusalā † āpattānāpattigarukalahukasatekicchaatekicchavuṭṭhānadesanāniggaha- paṭikammaosāraṇanissāraṇapaṭisāraṇakusalā vinaye pāramiṃ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘rūparakkhā’ti † vuccanti.
“Those monks, great king, who are knowledgeable in the Vinaya, skilled in the Vinaya, clever about what is a case and what is not a case, skilled in offenses and non-offenses, serious and light offenses, curable and incurable offenses, and skilled in the procedures for rising from an offense, confession, censure, remedy, reinstatement, expulsion, and reconciliation—having reached the perfection in the Vinaya—such monks, great king, are called ‘Guardians of Form’ in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu am tường Luật, tinh thông Luật, thiện xảo về trường hợp và phi trường hợp, về việc có tội và không có tội, tội nặng và tội nhẹ, tội có thể cứu chữa và không thể cứu chữa, về việc xuất tội và sám hối, về việc khiển trách, sửa trị, phục quyền, trục xuất, và nhắc nhở, đã đạt đến sự toàn hảo về Luật, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là các vị ‘hộ trì sắc tướng’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū vimuttivarakusumamālabaddhā varapavaramahagghaseṭṭhabhāvamanuppattā bahujanakantamabhipatthitā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘pupphāpaṇikā’ti vuccanti.
“Those monks, great king, who are garlanded with the supreme flower of liberation, have attained the highest, most excellent, supreme, and precious state, beloved and desired by many—such monks, great king, are called 'flower sellers' in the Blessed One's city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu đã kết tràng hoa giải thoát cao quý, đã đạt đến trạng thái cao quý, cao thượng, quý giá, bậc nhất, được nhiều người yêu mến và mong cầu, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là những ‘người bán hoa’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū catusaccābhisamayappaṭividdhā diṭṭhasaccā viññātasāsanā catūsu sāmaññaphalesu tiṇṇavicikicchā paṭiladdhaphalasukhā aññesampi paṭipannānaṃ te phale saṃvibhajanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘phalāpaṇikā’ti vuccanti.
“But those monks, great king, who have penetrated the four noble truths, who have seen the truths, understood the teaching, crossed beyond doubt in regard to the four fruits of recluseship, attained the bliss of the fruits, and who share those fruits with others who are practicing—such monks, great king, are called ‘fruit-sellers’ in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu đã thâm nhập và chứng ngộ Tứ Thánh Đế, đã thấy các chân lý, đã liễu tri giáo pháp, đã vượt qua hoài nghi trong bốn quả Sa-môn, đã đạt được an lạc của quả vị, và cũng phân phát các quả vị ấy cho những người thực hành khác, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là những ‘người bán quả’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū sīlasaṃvaragandhamanulittā † anekavidhabahuguṇadharā kilesamaladuggandhavidhamakā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘gandhāpaṇikā’ti vuccanti.
“But those monks, great king, who are anointed with the fragrance of moral restraint, who possess many and various virtues, and who dispel the foul odor of the defilements—such monks, great king, are called ‘perfume-sellers’ in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu đã thoa hương giới luật và phòng hộ, là những người mang nhiều phẩm hạnh đa dạng, là những người xua tan mùi hôi của cấu uế phiền não, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là những ‘người bán hương’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhammakāmā piyasamudāhārā abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi dhammavararasaṃ pivanti, kāyena vācāya manasā dhammavararasamogāḷhā adhimattapaṭibhānā dhammesu dhammesanappaṭipannā ito vā tato vā yattha yattha appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṃsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā, tattha tattha gantvā taṃ taṃ kathārasaṃ pivanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘soṇḍā pipāsā’ti vuccanti.
“But those monks, great king, who are desirous of the Dhamma, fond of pleasant speech, who greatly rejoice in the higher Dhamma and the higher Discipline, who drink the excellent flavor of the Dhamma whether they have gone to the forest, to the root of a tree, or to an empty dwelling; who are immersed in the excellent flavor of the Dhamma by body, speech, and mind, possessing exceedingly great eloquence, engaged in seeking the Dhamma within the teachings; wherever, here or there, there is talk on fewness of desires, on contentment, on seclusion, on non-association, on the instigation of energy, on virtue, on concentration, on wisdom, on liberation, or on the knowledge and vision of liberation, they go there and drink that flavor of talk—such monks, great king, are called ‘drunkards and tipplers’ in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu ưa thích Pháp, có lời nói khả ái, có niềm hân hoan to lớn trong Thắng Pháp và Thắng Luật, dù đi đến rừng, đến gốc cây, hay đến ngôi nhà trống, họ vẫn uống vị cam lồ của Pháp bảo. Thân, khẩu, ý của họ đã thấm nhuần vị cam lồ của Pháp bảo, có biện tài siêu việt, thực hành việc tìm cầu các pháp trong các pháp. Từ nơi này hay nơi kia, bất cứ nơi nào có câu chuyện về thiểu dục, tri túc, viễn ly, không giao du, tinh tấn, về giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, họ đều đi đến đó và uống hương vị của những câu chuyện ấy. Tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là những ‘người say sưa khát khao’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū pubbarattāpararattaṃ jāgariyānuyogamanuyuttā nisajjaṭṭhānacaṅkamehi rattindivaṃ vītināmenti, bhāvanānuyogamanuyuttā kilesapaṭibāhanāya sadatthappasutā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘nagaraguttikā’ti vuccanti.
“But those monks, great king, who devote themselves to wakefulness in the first and last watches of the night, spending day and night in sitting, standing, and walking; who, devoted to the practice of meditation, are diligent in their own true welfare for the warding off of defilements—such monks, great king, are called ‘city guards’ in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu chuyên tâm tỉnh thức trong canh đầu và canh cuối của đêm, trải qua ngày đêm bằng cách ngồi, đứng, và đi kinh hành, chuyên tâm tu tập, nỗ lực vì lợi ích của bản thân để ngăn trừ phiền não, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là những ‘người canh gác đô thành’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū navaṅgaṃ buddhavacanaṃ atthato ca byañjanato ca nayato ca kāraṇato ca hetuto ca udāharaṇato ca vācenti anuvācenti bhāsanti anubhāsanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammāpaṇikā’ti vuccanti.
“But those monks, great king, who recite, repeat, speak, and discuss the nine-fold word of the Buddha in terms of its meaning and phrasing, its method and reason, its cause and illustration—such monks, great king, are called ‘Dhamma-merchants’ in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu đọc, đọc lại, nói, và nói lại lời Phật dạy gồm chín chi phần, về cả nghĩa và văn, về phương pháp, về nguyên nhân, về lý do, và về ví dụ, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là những ‘người bán Pháp’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhammaratanabhogena āgamapariyattisutabhogena bhogino dhanino niddiṭṭhasarabyañjanalakkhaṇappaṭivedhā viññū pharaṇā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammaseṭṭhino’ti vuccanti.
“But those monks, great king, who are wealthy with the wealth of the Dhamma-jewel, rich with the wealth of the scriptures, learning, and teachings, who have penetrated the characteristics of the essence and the details as taught, who are wise and of pervasive understanding—such monks, great king, are called ‘Dhamma-bankers’ in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu giàu có và sung túc với tài sản là Pháp bảo, với tài sản là Thánh điển, giáo pháp và sở văn, đã thấu triệt các đặc tính của nguyên âm và phụ âm đã được chỉ rõ, là những bậc trí tuệ, có trí tuệ lan tỏa, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là các ‘trưởng giả Pháp’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Ye pana te, mahārāja, bhikkhū uḷāradesanāpaṭivedhā pariciṇṇārammaṇavibhattiniddesā sikkhāguṇapāramippattā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘vissutadhammikā’ti vuccanti.
“But those monks, great king, who have penetrated sublime teachings, who are skilled in the exposition and analysis of well-practiced meditation objects, and who have reached the perfection of the qualities of the training—such monks, great king, are called ‘renowned followers of the Dhamma’ in the Blessed One’s city of Dhamma.”
“Tâu Đại vương, còn những vị tỳ khưu đã thấu triệt những lời thuyết giảng cao siêu, đã chỉ rõ sự phân loại các đối tượng đã được thực hành thuần thục, đã đạt đến sự toàn hảo về các phẩm hạnh của học giới, tâu Đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là những ‘hành giả Pháp danh tiếng’ trong Pháp thành của Đức Thế Tôn.”
‘‘Evaṃ suvibhattaṃ kho, mahārāja, bhagavato dhammanagaraṃ evaṃ sumāpitaṃ evaṃ suvihitaṃ evaṃ suparipūritaṃ evaṃ suvavatthāpitaṃ evaṃ surakkhitaṃ evaṃ sugopitaṃ evaṃ duppasayhaṃ paccatthikehi paccāmittehi, iminā, mahārāja, kāraṇena iminā hetunā iminā nayena iminā anumānena ñātabbaṃ atthi so bhagavāti.
“Thus, great king, the Blessed One’s city of Dhamma is well-divided, well-constructed, well-arranged, well-filled, well-established, well-protected, well-guarded, and difficult for opponents and adversaries to overcome. By this reason, great king, by this cause, by this method, by this inference, it should be known that the Blessed One exists.”
“Tâu Đại vương, Pháp thành của Đức Thế Tôn đã được phân chia tốt đẹp như vậy, được xây dựng tốt đẹp như vậy, được sắp đặt tốt đẹp như vậy, được sung mãn tốt đẹp như vậy, được thiết lập tốt đẹp như vậy, được bảo vệ tốt đẹp như vậy, được canh giữ tốt đẹp như vậy, và khó bị kẻ thù, kẻ đối nghịch xâm phạm như vậy. Tâu Đại vương, do nguyên nhân này, do lý do này, do phương pháp này, do sự suy luận này, nên biết rằng có Đức Thế Tôn ấy.”
‘‘‘Yathāpi nagaraṃ disvā, suvibhattaṃ manoramaṃ;
Anumānena jānanti, vaḍḍhakissa mahattanaṃ.
“Just as, upon seeing a well-planned, delightful city, they know by inference the greatness of the architect;”
“‘Cũng như khi thấy đô thành, được phân chia tốt đẹp, mỹ lệ; người ta có thể suy luận, biết được sự vĩ đại của người thợ xây.”
‘‘‘Tatheva lokanāthassa, disvā dhammapuraṃ varaṃ;
Anumānena jānanti, atthi so bhagavā iti.
“So too, upon seeing the excellent city of Dhamma of the Protector of the World, they know by inference: ‘That Blessed One exists.’”
Cũng như thế, khi thấy được thành phố Chánh pháp cao quý của bậc Lãnh đạo thế gian, người ta biết được bằng cách suy luận rằng: ‘Vị Thế Tôn ấy hiện hữu’.
‘‘‘Anumānena jānanti, ūmiṃ disvāna sāgare;
Yathāyaṃ dissate ūmi, mahanto so bhavissati.
“By inference they know, upon seeing a wave in the ocean: ‘From how this wave appears, that ocean must be great.’”
Người ta biết được bằng cách suy luận, sau khi thấy con sóng ở trong biển cả rằng: ‘Do con sóng này được nhìn thấy, nên biển cả ấy hẳn là to lớn’.
‘‘‘Tathā buddhaṃ sokanudaṃ, sabbatthamaparājitaṃ;
Taṇhakkhayamanuppattaṃ, bhavasaṃsāramocanaṃ.
“So too, the Buddha, dispeller of sorrow, unconquered in every way, who has attained the destruction of craving, the liberator from the round of becoming.”
Cũng thế, (người ta biết được bằng cách suy luận về) đức Phật, là bậc xua tan sầu muộn, là bậc bất khả chiến bại ở khắp mọi nơi, là bậc đã đạt đến sự đoạn tận ái dục, là bậc giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.
‘‘‘Anumānena ñātabbaṃ, ūmiṃ disvā sadevake;
Yathā dhammūmivipphāro, aggo buddho bhavissati.
“By inference it should be known, upon seeing the Dhamma-wave in the world with its devas: ‘From the spreading of this Dhamma-wave, the foremost Buddha must be great.’”
Cần phải được biết bằng cách suy luận, sau khi thấy con sóng (Chánh pháp) ở trong thế giới có chư Thiên rằng: ‘Do sự lan rộng của con sóng Chánh pháp này, đức Phật hẳn là bậc tối thượng’.
‘‘‘Anumānena jānanti, disvā accuggataṃ giriṃ;
Yathā accuggato eso, himavā so bhavissati.
“By inference they know, upon seeing a towering mountain: ‘From its towering height, this must be the Himālaya.’”
Người ta biết được bằng cách suy luận, sau khi thấy ngọn núi rất cao rằng: ‘Do ngọn núi này rất cao, nên nó hẳn là núi Hy-mã-lạp’.
‘‘‘Tathā disvā dhammagiriṃ, sītībhūtaṃ nirūpadhiṃ;
Accuggataṃ bhagavato, acalaṃ suppatiṭṭhitaṃ.
“So too, upon seeing the Dhamma-mountain of the Blessed One—cooled, without attachments, lofty, unshaken, and well-established.”
Cũng thế, sau khi thấy được ngọn núi Chánh pháp của đức Thế Tôn, là ngọn núi mát mẻ, không còn chấp thủ, rất cao, không lay động, và được an lập vững chắc.
‘‘‘Anumānena ñātabbaṃ, disvāna dhammapabbataṃ;
Tathā hi so mahāvīro, aggo buddho bhavissati.
“By inference it should be known, upon seeing the Dhamma-mountain: ‘Indeed, that great hero must be the foremost Buddha.’”
Cần phải được biết bằng cách suy luận, sau khi thấy được ngọn núi Chánh pháp rằng: ‘Vị Đại Anh Hùng ấy hẳn là đức Phật tối thượng’.
‘‘‘Yathāpi gajarājassa, padaṃ disvāna mānusā;
Anumānena jānanti, mahā eso gajo iti.
“Just as people, upon seeing the footprint of a king of elephants, know by inference: ‘This is a great elephant.’”
Cũng như loài người, sau khi thấy dấu chân của voi chúa, biết được bằng cách suy luận rằng: ‘Đây là một con voi lớn’.
‘‘‘Tatheva buddhanāgassa, padaṃ disvā vibhāvino;
Anumānena jānanti, uḷāro so bhavissati.
“Just so, upon seeing the footprint of the Buddha-elephant, discerning ones know by inference: ‘He must be sublime.’”
Cũng như thế, sau khi thấy dấu chân (Chánh pháp) của bậc Long Tượng là đức Phật, bậc có trí tuệ, người ta biết được bằng cách suy luận rằng: ‘Vị ấy hẳn là cao cả’.
‘‘‘Anumānena jānanti, bhīte disvāna kummige;
Migarājassa saddena, bhītāme kummigā iti.
“By inference they know, upon seeing frightened beasts: ‘These beasts are frightened by the roar of the king of beasts.’”
Người ta biết được bằng cách suy luận, sau khi thấy các con nai đang hoảng sợ rằng: ‘Những con nai này hoảng sợ là do tiếng rống của vua loài thú’.
‘‘‘Tatheva titthiye disvā, vitthate bhītamānase;
Anumānena ñātabbaṃ, dhammarājena gajjitaṃ.
“Just so, upon seeing the sectarians agitated and with fearful minds, it should be known by inference that the King of Dhamma has roared.”
Cũng như thế, sau khi thấy các hàng ngoại đạo bị dao động và có tâm hoảng sợ, cần phải được biết bằng cách suy luận rằng: ‘Đức Pháp Vương đã rống lên (tiếng rống sư tử)’.
‘‘‘Nibbutaṃ pathaviṃ disvā, haritapattaṃ mahodikaṃ;
Anumānena jānanti, mahāmeghena nibbutaṃ.
“Seeing the earth cooled, green with foliage and abounding in water, they know by inference: ‘It has been cooled by a great rain cloud.’”
Người ta biết được bằng cách suy luận, sau khi thấy mặt đất đã được mát mẻ, có lá cây xanh tươi, và có nhiều nước rằng: ‘(Mặt đất) đã được làm cho mát mẻ bởi một đám mây lớn’.
‘‘‘Tathevimaṃ janaṃ disvā, āmoditapamoditaṃ;
Anumānena ñātabbaṃ, dhammameghena tappitaṃ.
“Just so, upon seeing these people joyful and delighted, it should be known by inference: ‘They have been satisfied by the rain cloud of Dhamma.’”
Cũng như thế, sau khi thấy những người này đang hoan hỷ và vui mừng, cần phải được biết bằng cách suy luận rằng: ‘(Họ) đã được thỏa mãn bởi đám mây Chánh pháp’.
‘‘‘Laggaṃ disvā bhusaṃ paṅkaṃ, kalaladdagataṃ mahiṃ;
Anumānena jānanti, vārikkhandho mahā gato.
“Seeing thick, sticky mud, the earth covered with mire, they know by inference: ‘A great mass of water has passed by.’”
Người ta biết được bằng cách suy luận, sau khi thấy mặt đất có nhiều bùn lầy và vũng lầy dính bết rằng: ‘Một khối nước lớn đã chảy qua’.
‘‘‘Tathevimaṃ janaṃ disvā, rajapaṅkasamohitaṃ;
Vahitaṃ dhammanadiyā, visaṭṭhaṃ dhammasāgare.
“Just so, seeing these people, deluded by the mud of defilements, carried along by the river of Dhamma, and cast into the ocean of Dhamma;”
Cũng như thế, sau khi thấy những người này, với bụi bặm và bùn nhơ (của phiền não) đã được rửa sạch, được cuốn đi bởi dòng sông Chánh pháp, và được tuôn vào biển cả Chánh pháp.
‘‘‘Dhammāmatagataṃ disvā, sadevakamimaṃ mahiṃ;
Anumānena ñātabbaṃ, dhammakkhandho mahā gato.
“Seeing this world with its devas gone to the Deathless Dhamma, it should be known by inference: ‘A great mass of Dhamma has passed by.’”
Sau khi thấy thế giới này cùng với chư Thiên đã đạt đến Chánh pháp bất tử, cần phải được biết bằng cách suy luận rằng: ‘Một khối Chánh pháp lớn lao đã chảy qua’.
‘‘‘Anumānena jānanti, ghāyitvā gandhamuttamaṃ;
Yathāyaṃ vāyate gandho, hessanti pupphitā dumā.
“By inference they know, having smelled an exquisite fragrance: ‘From how this fragrance wafts, the trees must be in bloom.’”
Người ta biết được bằng cách suy luận, sau khi ngửi được hương thơm cao quý rằng: ‘Do hương thơm này đang lan tỏa, các cây cối hẳn là đang trổ hoa’.
‘‘‘Tathevāyaṃ sīlagandho, pavāyati sadevake;
Anumānena ñātabbaṃ, atthi buddho anuttaro’ti.
“Just so, this fragrance of virtue wafts through the world with its devas; by inference it should be known: ‘There is an unsurpassed Buddha.’”
Cũng như thế, hương thơm của giới hạnh này đang lan tỏa trong thế giới có chư Thiên; cần phải được biết bằng cách suy luận rằng: ‘Có đức Phật vô thượng hiện hữu’.
‘‘Evarūpena kho, mahārāja, kāraṇasatena kāraṇasahassena hetusatena hetusahassena nayasatena nayasahassena opammasatena opammasahassena sakkā buddhabalaṃ upadassayituṃ. Yathā, mahārāja, dakkho mālākāro nānāpuppharāsimhā ācariyānusiṭṭhiyā paccattapurisakārena vicittaṃ mālāguṇarāsiṃ kareyya, evameva kho, mahārāja, so bhagavā vicittapuppharāsi viya anantaguṇo appameyyaguṇo, ahametarahi jinasāsane mālākāro viya pupphaganthako pubbakānaṃ ācariyānaṃ maggenapi mayhaṃ buddhibalenapi asaṅkhyeyyenapi kāraṇena anumānena buddhabalaṃ dīpayissāmi, tvaṃ panettha chandaṃ janehi savanāyā’’ti.
“In such a way, great king, with a hundred reasons and a thousand reasons, a hundred causes and a thousand causes, a hundred methods and a thousand methods, a hundred similes and a thousand similes, it is possible to demonstrate the power of the Buddha. Just as, great king, a skilled garland-maker, from a heap of various flowers, following the instructions of his teacher and through his own personal effort, would make a diverse and beautiful garland, even so, great king, is that Blessed One like a heap of diverse flowers—of endless qualities, of immeasurable qualities. And now, in the Dispensation of the Conqueror, like a garland-maker weaving flowers, I will reveal the Buddha’s power through the path of former teachers, through my own intellectual strength, and through countless reasons and inferences. Therefore, generate your desire to listen.”
Thưa Đại vương, quả thật bằng cách thức như vậy, với hàng trăm lý do, hàng ngàn lý do, với hàng trăm nguyên nhân, hàng ngàn nguyên nhân, với hàng trăm phương pháp, hàng ngàn phương pháp, với hàng trăm ví dụ, hàng ngàn ví dụ, năng lực của đức Phật có thể được trình bày. Thưa Đại vương, ví như người làm tràng hoa khéo léo, từ một đống hoa đa dạng, bằng sự chỉ dạy của thầy và bằng nỗ lực cá nhân, có thể làm ra một chuỗi tràng hoa tuyệt đẹp. Thưa Đại vương, cũng như thế, vị Thế Tôn ấy giống như một đống hoa tuyệt đẹp, có vô lượng đức hạnh, có vô số đức hạnh. Giờ đây, trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, tôi giống như người làm tràng hoa, người kết hoa, bằng con đường của các vị thầy đời trước và cũng bằng năng lực trí tuệ của chính mình, với vô số lý do, bằng cách suy luận, tôi sẽ làm sáng tỏ năng lực của đức Phật. Về điều này, ngài hãy khởi lên ý muốn lắng nghe.
‘‘Dukkaraṃ, bhante nāgasena, aññesaṃ evarūpena kāraṇena anumānena buddhabalaṃ upadassayituṃ, nibbutosmi, bhante nāgasena, tumhākaṃ paramavicittena pañhaveyyākaraṇenā’’ti.
“Venerable Nāgasena, it is difficult for others to demonstrate the Buddha’s power with such reason and inference. I am satisfied, Venerable Nāgasena, by your exceedingly wonderful explanation of the question.”
Thưa ngài Nāgasena, thật khó cho những người khác có thể trình bày năng lực của đức Phật bằng lý do và bằng sự suy luận như vậy. Thưa ngài Nāgasena, tôi đã được an vui bởi lời giải đáp câu hỏi vô cùng tuyệt diệu của ngài.
Anumānapañho paṭhamo.
The First Question on Inference.
Câu hỏi về Suy Luận, chương thứ nhất.