Bản dịch
MIL 6.3.12 — CÂU HỎI VỀ NƠI CHỨA ĐỰNG NIẾT BÀN
12. Nibbānasannihitapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải có vị trí ấy ở hướng đông, hay ở hướng nam, hay ở hướng tây, hay ở hướng bắc, hay ở hướng trên, hay ở hướng dưới, hay ở hướng ngang, là nơi Niết Bàn được chứa đựng?”
“Tâu đại vương, không có vị trí ấy ở hướng đông, hay ở hướng nam, hay ở hướng tây, hay ở hướng bắc, hay ở hướng trên, hay ở hướng dưới, hay ở hướng ngang, là nơi Niết Bàn được chứa đựng.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn, như thế thì không có Niết Bàn, và đối với những vị nào mà Niết Bàn ấy đã được chứng ngộ, thì sự chứng ngộ của những vị ấy cũng là sai trái, trẫm sẽ nói lý do của trường hợp này. Thưa ngài Nāgasena, giống như ở trái đất có ruộng sản xuất lúa gạo, có hoa sản xuất ra hương thơm, có lùm cây sản xuất ra hoa, có cây cối sản xuất ra trái, có hầm mỏ sản xuất ra châu báu, bất cứ ai ước muốn vật gì tại nơi đó, thì người ấy đi đến nơi đó rồi mang đi vật ấy. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế nếu có Niết Bàn, thì chỗ sản xuất của Niết Bàn ấy cũng là điều được mong mỏi. Và thưa ngài Nāgasena, chính bởi vì không có chỗ sản xuất của Niết Bàn, vì thế trẫm nói là; ‘Không có Niết Bàn.’ Và đối với những vị nào mà Niết Bàn ấy đã được chứng ngộ, thì sự chứng ngộ của những vị ấy cũng là sai trái.’”
BJT 2“Tâu đại vương, không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Và có Niết Bàn ấy. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối. Tâu đại vương, giống như có cái gọi là ngọn lửa, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của nó. Trong khi cọ xát hai thanh củi với nhau thì đạt được ngọn lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế có Niết Bàn, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như có cái gọi là bảy báu vật, như là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc ma-ni báu, nữ nhân báu, gia chủ báu, tướng quân báu, và không có chỗ chứa đựng của các báu vật ấy. Tuy nhiên, đối với vị Sát-đế-lỵ đã thực hành đúng đắn, do nhờ năng lực của sự thực hành mà các báu vật ấy đi đến (với vị ấy). Tâu đại vương, tương tợ y như thế có Niết Bàn, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì chớ có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Tuy nhiên, có phải có chỗ đứng ấy, mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có chỗ đứng ấy, mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn.”
“Thưa ngài, vậy thì chỗ đứng ấy là chỗ nào mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giới là chỗ đứng. Người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana, ở Cīna hay ở Vilāta, ở Alasanda, ở Nikumba, ở Kāsi hay ở Kosala, ở Kasmīra, ở Gandhāra, ở đỉnh núi, ở thế giới Phạm Thiên, dầu đứng ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.
Tâu đại vương, giống như người đàn ông nào đó, sáng mắt, dầu là ở Saka hay ở Yavana, ở Cīna hay ở Vilāta, ở Alasanda, ở Nikumba, ở Kāsi hay ở Kosala ở Kasmīra, ở Gandhāra, ở đỉnh núi, ở thế giới Phạm Thiên, dầu đứng ở bất cứ nơi đâu đều nhìn thấy bầu không gian. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … dầu đứng ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.
Tâu đại vương, hoặc là giống như dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … đối với người đứng dầu ở bất cứ nơi đâu đều có phương bắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … đối với người đứng dầu ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Niết Bàn đã được ngài giảng giải, sự chứng ngộ Niết Bàn đã được giảng giải, đức hạnh của giới đã được trang bị, sự thực hành đúng đắn đã được chỉ ra, biểu hiện của Chánh Pháp đã được giương cao, lối dẫn vào Chánh Pháp đã được thiết lập, sự ra sức đúng đắn của những vị đã ra sức tốt đẹp là không vô ích. Hỡi vị cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng, trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về nơi chứa đựng Niết Bàn là thứ mười hai.
Phẩm Vessantara là phẩm thứ ba.
(Ở phẩm này có mười hai câu hỏi)
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
12. ‘‘Bhante nāgasena, atthi so padeso puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya uddhaṃ vā adho vā tiriyaṃ vā, yattha nibbānaṃ sannihita’’nti? ‘‘Natthi, mahārāja, so padeso puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya uddhaṃ vā adho vā tiriyaṃ vā, yattha nibbānaṃ sannihita’’nti.
12. “Venerable Nāgasena, is there any region—whether in the eastern direction, the southern direction, the western direction, the northern direction, above, below, or across—where Nibbāna is situated?” “There is no such region, great king, whether in the eastern direction, the southern direction, the western direction, the northern direction, above, below, or across, where Nibbāna is situated.”
12. “Thưa Đại đức Nāgasena, có một nơi nào đó, ở phương đông, phương nam, phương tây, phương bắc, phương trên, phương dưới, hay phương ngang, là nơi Niết-bàn được định vị không?” “Tâu Đại vương, không có một nơi nào, ở phương đông, phương nam, phương tây, phương bắc, phương trên, phương dưới, hay phương ngang, là nơi Niết-bàn được định vị cả.”
‘‘Yadi, bhante nāgasena, natthi nibbānassa sannihitokāso, tena hi natthi nibbānaṃ? Yesañca taṃ nibbānaṃ sacchikataṃ, tesampi sacchikiriyā micchā, kāraṇaṃ tattha vakkhāmi, yathā, bhante nāgasena, mahiyā dhaññuṭṭhānaṃ khettaṃ atthi, gandhuṭṭhānaṃ pupphaṃ atthi, pupphuṭṭhānaṃ gumbo atthi, phaluṭṭhānaṃ rukkho atthi, ratanuṭṭhānaṃ ākaro atthi, tattha yo koci yaṃ yaṃ icchati, so tattha gantvā taṃ taṃ harati, evameva kho, bhante nāgasena, yadi nibbānaṃ atthi, tassa nibbānassa uṭṭhānokāsopi icchitabbo, yasmā ca kho, bhante nāgasena, nibbānassa uṭṭhānokāso natthi, tasmā natthi nibbānanti brūmi, yesañca nibbānaṃ sacchikataṃ, tesampi sacchikiriyā micchā’’ti.
“If, venerable Nāgasena, there is no location where Nibbāna is situated, then does Nibbāna not exist? And for those who have realized Nibbāna, is their realization false? I will state the reason. Venerable Nāgasena, on the earth, there is a field for the arising of grain, a flower for the arising of fragrance, a bush for the arising of flowers, a tree for the arising of fruit, and a mine for the arising of gems. There, whoever desires anything goes and takes it. Similarly, venerable Nāgasena, if Nibbāna exists, a location for its arising should be sought. But since, venerable Nāgasena, there is no location for the arising of Nibbāna, I say Nibbāna does not exist. And for those who have realized Nibbāna, their realization is false.”
“Thưa Đại đức Nāgasena, nếu không có nơi chốn định vị cho Niết-bàn, vậy thì Niết-bàn không tồn tại? Và sự chứng ngộ của những ai đã chứng ngộ Niết-bàn ấy cũng là sai lầm. Con sẽ nói lý do ở đây. Thưa Đại đức Nāgasena, cũng như trên đất có ruộng là nơi sinh ra lúa, có hoa là nơi sinh ra hương, có bụi cây là nơi sinh ra hoa, có cây là nơi sinh ra quả, có mỏ là nơi sinh ra châu báu. Ở đó, bất cứ ai muốn thứ gì, người ấy đi đến đó và lấy thứ ấy. Cũng vậy, thưa Đại đức Nāgasena, nếu Niết-bàn có tồn tại, thì cũng phải mong có một nơi chốn phát sinh của Niết-bàn ấy. Và bởi vì, thưa Đại đức Nāgasena, không có nơi chốn phát sinh của Niết-bàn, cho nên con nói rằng Niết-bàn không tồn tại, và sự chứng ngộ của những ai đã chứng ngộ Niết-bàn cũng là sai lầm.”
‘‘Natthi, mahārāja, nibbānassa sannihitokāso, atthi cetaṃ nibbānaṃ, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṃ sacchikaroti. Yathā pana, mahārāja, atthi aggi nāma, natthi tassa sannihitokāso, dve kaṭṭhāni saṅghaṭṭento aggiṃ adhigacchati. Evameva kho, mahārāja, atthi nibbānaṃ, natthi tassa sannihitokāso, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṃ sacchikaroti.
“There is no location where Nibbāna is situated, great king, yet Nibbāna exists. One who practices rightly realizes Nibbāna through wise attention. Just as, great king, there is such a thing as fire, yet it has no location where it is situated. By rubbing two sticks together, one obtains fire. In the same way, great king, Nibbāna exists, though it has no location where it is situated. One who practices rightly realizes Nibbāna through wise attention.”
“Tâu Đại vương, không có nơi chốn định vị cho Niết-bàn, nhưng Niết-bàn ấy vẫn tồn tại. Người thực hành chân chánh, nhờ tác ý như lý, chứng ngộ được Niết-bàn. Ví như, tâu Đại vương, có thứ gọi là lửa, nhưng không có nơi chốn định vị cho nó. Khi cọ xát hai thanh củi, người ta tạo ra được lửa. Cũng vậy, tâu Đại vương, Niết-bàn có tồn tại, nhưng không có nơi chốn định vị cho nó. Người thực hành chân chánh, nhờ tác ý như lý, chứng ngộ được Niết-bàn.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, atthi satta ratanāni nāma. Seyyathidaṃ, cakkaratanaṃ hatthiratanaṃ assaratanaṃ maṇiratanaṃ itthiratanaṃ gahapatiratanaṃ pariṇāyakaratanaṃ. Na ca tesaṃ ratanānaṃ sannihitokāso atthi, khattiyassa pana sammāpaṭipannassa paṭipattibalena tāni ratanāni upagacchanti. Evameva kho, mahārāja, atthi nibbānaṃ, natthi tassa sannihitokāso, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṃ sacchikarotī’’ti.
“Or just as, great king, there are the seven treasures. Namely: the wheel-treasure, the elephant-treasure, the horse-treasure, the jewel-treasure, the woman-treasure, the householder-treasure, and the counselor-treasure. And there is no location where those treasures are situated, but for a king who practices rightly, those treasures arise by the power of his practice. In the same way, great king, Nibbāna exists, but there is no location where it is situated. One who practices rightly realizes Nibbāna through wise attention.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, có bảy báu vật. Đó là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu, và tướng quân báu. Cũng không có nơi chốn định vị cho các báu vật ấy. Nhưng đối với vị vua Sát-đế-lỵ thực hành chân chánh, nhờ năng lực của sự thực hành mà các báu vật ấy hiện đến. Cũng vậy, tâu Đại vương, Niết-bàn có tồn tại, nhưng không có nơi chốn định vị cho nó. Người thực hành chân chánh, nhờ tác ý như lý, chứng ngộ được Niết-bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, nibbānassa sannihitokāso mā hotu, atthi pana taṃ ṭhānaṃ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṃ sacchikarotī’’ti? ‘‘Āma, mahārāja, atthi taṃ ṭhānaṃ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṃ sacchikarotī’’ti.
“Venerable Nāgasena, let there not be a location where Nibbāna is situated, but is there a standing-place, standing on which one who practices rightly realizes Nibbāna?” “Yes, great king, there is such a standing-place, standing on which one who practices rightly realizes Nibbāna.”
“Thưa Đại đức Nāgasena, cho dù không có nơi chốn định vị cho Niết-bàn, nhưng có một nơi nào đó mà người thực hành chân chánh đứng ở đó để chứng ngộ Niết-bàn không?” “Vâng, tâu Đại vương, có một nơi mà người thực hành chân chánh đứng ở đó để chứng ngộ Niết-bàn.”
‘‘Katamaṃ pana, bhante, taṃ ṭhānaṃ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṃ sacchikarotī’’ti? ‘‘Sīlaṃ, mahārāja, ṭhānaṃ, sīle patiṭṭhito yoniso manasikaronto sakkayavanepi cīnavilātepi alasandepi nigumbepi † kāsikosalepi kasmīrepi gandhārepi nagamuddhanipi brahmalokepi yattha katthacipi ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṃ sacchikaroti. Yathā, mahārāja, yo koci cakkhumā puriso sakayavanepi cīnavilātepi alasandepi nigumbepi kāsikosalepi kasmīrepi gandhārepi nagamuddhanipi brahmalokepi yattha katthacipi ṭhito ākāsaṃ passati, evameva kho, mahārāja, sīle patiṭṭhito yoniso manasikaronto sakayavanepi…pe… yattha katthacipi ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṃ sacchikaroti.
“But what, venerable sir, is that standing-place, standing on which one who practices rightly realizes Nibbāna?” “Virtue, great king, is the standing-place. Established in virtue and applying wise attention, whether in the land of the Sakas and Yavanas, in Cīna or Vilāta, in Alasanda, in Nigumba, in Kāsi or Kosala, in Kashmir, in Gandhāra, on a mountain top, or in the Brahma world—wherever one stands, if one practices rightly, one realizes Nibbāna. Just as, great king, any person with eyes, whether in the land of the Sakas and Yavanas, in Cīna or Vilāta, in Alasanda, in Nigumba, in Kāsi or Kosala, in Kashmir, in Gandhāra, on a mountain top, or in the Brahma world—wherever one stands, sees the sky. In the same way, great king, one established in virtue and applying wise attention, whether in the land of the Sakas and Yavanas... wherever one stands, if one practices rightly, one realizes Nibbāna.”
“Thưa Đại đức, nơi đó là nơi nào, mà người thực hành chân chánh đứng ở đó để chứng ngộ Niết-bàn?” “Tâu Đại vương, giới hạnh chính là nơi đó. An trú trong giới hạnh, tác ý như lý, dù đứng ở bất cứ đâu, tại xứ Sakka hay Yavana, tại Cīna hay Vilāta, tại Alasanda hay Nigumba, tại Kāsi hay Kosala, tại Kasmīra hay Gandhāra, trên đỉnh núi hay trong cõi Phạm thiên, người thực hành chân chánh đều chứng ngộ được Niết-bàn. Ví như, tâu Đại vương, một người có mắt, dù đứng ở bất cứ đâu, tại xứ Sakka hay Yavana, tại Cīna hay Vilāta, tại Alasanda hay Nigumba, tại Kāsi hay Kosala, tại Kasmīra hay Gandhāra, trên đỉnh núi hay trong cõi Phạm thiên, đều có thể thấy được bầu trời. Cũng vậy, tâu Đại vương, người an trú trong giới hạnh, tác ý như lý, dù đứng ở bất cứ đâu… người thực hành chân chánh đều chứng ngộ được Niết-bàn.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, sakayavanepi…pe… yattha katthacipi ṭhitassa pubbadisā atthi, evameva kho, mahārāja, sīle patiṭṭhitassa yoniso manasikarontassa sakkayavanepi…pe… yattha katthacipi ṭhitassa sammāpaṭipannassa atthi nibbānasacchikiriyā’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, desitaṃ tayā nibbānaṃ, desitā nibbānasacchikiriyā, parikkhatā sīlaguṇā, dassitā sammāpaṭipatti, ussāpito dhammaddhajo, saṇṭhapitā dhammanetti, avañjho suppayuttānaṃ sammāpayogo, evametaṃ gaṇivarapavara tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Just as, great king, for one standing anywhere, even in the land of the Sakas and Yavanas, the eastern direction exists; in the same way, great king, for one established in virtue and applying wise attention, for one practicing rightly standing anywhere, even in the land of the Sakas and Yavanas, the realization of Nibbāna exists.” “Excellent, venerable Nāgasena! You have explained Nibbāna, you have explained the realization of Nibbāna, you have elucidated the qualities of virtue, shown the right practice, raised the banner of the Dhamma, and established the guideline of the Dhamma. The right application of those who strive well is not fruitless. O best and foremost of teachers, I accept it as such.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, dù đứng ở bất cứ đâu, tại xứ Sakka hay Yavana… vẫn có phương đông. Cũng vậy, tâu Đại vương, đối với người thực hành chân chánh, an trú trong giới hạnh, tác ý như lý, dù đứng ở bất cứ đâu, tại xứ Sakka hay Yavana… vẫn có sự chứng ngộ Niết-bàn.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, ngài đã thuyết giảng về Niết-bàn, đã thuyết giảng về sự chứng ngộ Niết-bàn, đã phân định các phẩm chất của giới, đã chỉ rõ sự thực hành chân chánh, đã dựng lên ngọn cờ Chánh pháp, đã thiết lập đường lối Chánh pháp. Sự nỗ lực đúng đắn của những người chuyên cần không phải là vô ích. Thưa bậc tối thắng, bậc đứng đầu các giáo đoàn, con xin chấp nhận điều này đúng là như vậy.”
Nibbānasannihitapañho dvādasamo.
The Twelfth Question on the Proximity of Nibbāna.
Câu hỏi về nơi chốn của Niết-bàn, câu thứ mười hai.
Vessantaravaggo tatiyo.
The Vessantara Chapter, the Third.
Phẩm Vessantara, phẩm thứ ba.
Imasmiṃ vagge dvādasa pañhā.
In this chapter, there are twelve questions.
Trong phẩm này có mười hai câu hỏi.