Bản dịch
MIL 6.3.9 — CÂU HỎI VỀ TÍNH CHẤT KHÔNG BỊ XEN LẪN KHỔ
9. Ekantasukhanibbānapañha
CỦA NIẾT BÀN
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải Niết Bàn là thuần lạc, hay bị xen lẫn khổ?”
“Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ.”
“Thưa ngài, chúng tôi không tin lời nói ấy: ‘Niết Bàn là thuần lạc.’ Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp này chúng tôi đối lập lại như vầy: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’ Và chúng tôi chấp nhận lý do ở đây rằng: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’ Lý do ở đây là điều nào?
Thưa ngài Nāgasena, đối với những người tầm cầu Niết Bàn thì sự khổ hạnh, sự hành xác của thân và của tâm được nhìn thấy, sự thận trọng trong việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, sự chống chọi lại cơn buồn ngủ, sự chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, sự dứt bỏ tài sản, lúa gạo, thân quyến, và bạn bè yêu quý. Những người nào ở thế gian được lạc thú, được cung phụng lạc thú, những người ấy, thậm chí tất cả, làm cho các giác quan được thích thú, được quen thuộc với năm loại dục; làm cho mắt được thích thú, được quen thuộc với sắc có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho tai được thích thú, được quen thuộc với thinh có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của tiếng ca tiếng đàn, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho mũi được thích thú, được quen thuộc với hương có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của bông hoa, trái cây, lá cây, vỏ cây, rễ cây, lõi cây, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho lưỡi được thích thú, được quen thuộc với vị có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, của vật nhai, vật ăn, vật nhấm nháp, vật uống, vật nếm, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho thân được thích thú, được quen thuộc với xúc có biểu hiện tốt đẹp, nhiều loại, trơn tru, mịn màng, mềm mại, êm dịu, làm hài lòng, làm thích ý; làm cho ý được thích thú, được quen thuộc với các suy nghĩ và chú tâm, nhiều loại, thiện và ác, đẹp và xấu, làm hài lòng, làm thích ý.
Còn ngài thì tiêu diệt, phá hoại, chặt đứt, bẻ gãy, ngăn chặn, ngưng lại việc làm cho quen thuộc ấy của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vì thế, thân cũng bị bực bội, tâm cũng bị bực bội, khi thân bị bực bội thì cảm nhận thọ khổ thuộc thân, khi tâm bị bực bội thì cảm nhận thọ khổ thuộc tâm. Chẳng phải du sĩ ngoại đạo Māgandiya trong lúc chê trách đức Thế Tôn cũng đã nói như vầy: ‘Sa-môn Gotama có sự hành hạ chúng sinh.’ Ở đây, điều này là lý do mà với lý do ấy trẫm nói rằng: ‘Niết Bàn bị xen lẫn khổ.’”
BJT 2“Tâu đại vương, Niết Bàn hẳn nhiên không bị xen lẫn khổ. Niết Bàn là thuần lạc. Tâu đại vương, còn điều mà ngài đã nói rằng: ‘Niết Bàn là khổ,’ khổ ấy không gọi là Niết Bàn. Tuy nhiên, điều đó là phần xảy ra trước của việc chứng ngộ Niết Bàn, điều ấy là sự tìm kiếm Niết Bàn. Tâu đại vương, Niết Bàn quả là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tôi sẽ nói về lý do của trường hợp ấy. Tâu đại vương, đối với các vị vua, có phải có lạc của vương quyền?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có lạc của vương quyền.”
“Tâu đại vương, phải chăng lạc của vương quyền ấy bị xen lẫn khổ?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao khi biên thùy dấy loạn, nhằm việc ngăn chận những kẻ sống ở vùng biên thùy ấy, các vị vua ấy, được tùy tùng bởi các quan đại thần, tướng lãnh, nhân công, binh lính, ra đi viễn chinh, bị quấy nhiễu bởi ruồi muỗi gió nắng, chạy khắp ở mặt đất bằng phẳng và gồ ghề, rồi tiến hành trận chiến lớn, và có sự hoài nghi về mạng sống?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy không gọi là lạc của vương quyền. Điều đó là phần xảy ra trước của việc tầm cầu lạc của vương quyền. Thưa ngài Nāgasena, các vị vua, sau khi tầm cầu vương quyền một cách cực khổ, thì hưởng thụ lạc của vương quyền. Thưa ngài Nāgasena, lạc của vương quyền không bị xen lẫn khổ là như vậy; lạc của vương quyền ấy là cái khác, khổ là cái khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tuy nhiên, những người nào tầm cầu Niết Bàn thì họ khiến cho thân và tâm khốn khổ, thận trọng về việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, chống chọi lại cơn buồn ngủ, chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, buông bỏ thân xác và mạng sống; sau khi tầm cầu Niết Bàn một cách cực khổ, thì hưởng thụ Niết Bàn, thuần lạc. Ngay khi các kẻ đối nghịch bị tiêu diệt, các vị vua hưởng thụ lạc của vương quyền. Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ, là như vậy; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.
BJT 3Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa: ‘Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.’ Tâu đại vương, có cái gọi là lạc của nghề nghiệp đối với các vị thầy về nghề nghiệp?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái gọi là lạc của nghề nghiệp đối với các vị thầy về nghề nghiệp.”
“Tâu đại vương, phải chăng lạc của nghệ thuật ấy bị xen lẫn khổ?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao đối với các vị thầy thì những người (học trò) ấy khiến cho thân khốn khổ với việc đảnh lễ, đứng dậy, mang nước lại, quét nhà, cung cấp gỗ chà răng, nước rửa mặt, với việc dọn dẹp rác rưởi, thoa bóp, tắm rửa, chăm sóc bàn chân, với việc hành xử thuận theo tâm của người khác sau khi buông tâm của mình, với việc ngủ một cách khổ cực, với thức ăn không đều đặn?”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy không gọi là lạc của nghề nghiệp. Điều đó là phần xảy ra trước của việc tầm cầu nghề nghiệp. Thưa ngài Nāgasena, các vị thầy, sau khi tầm cầu nghề nghiệp một cách cực khổ, thì hưởng thụ lạc của nghề nghiệp. Thưa ngài Nāgasena, như vậy lạc của nghề nghiệp là cái khác, khổ là cái khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ. Tuy nhiên, những người nào tầm cầu Niết Bàn thì họ khiến cho thân và mạng sống khốn khổ, thận trọng về việc đứng đi ngồi nằm và thức ăn, chống chọi lại cơn buồn ngủ, chế ngự đối với các đối tượng của giác quan, buông bỏ thân xác và mạng sống; sau khi tầm cầu Niết Bàn một cách cực khổ, thì hưởng thụ Niết Bàn, thuần lạc, tợ như các vị thầy hưởng thụ lạc của nghề nghiệp. Tâu đại vương, Niết Bàn là thuần lạc, không bị xen lẫn khổ, là như vậy; Niết Bàn là cái khác, khổ là cái khác.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về tính chất không bị xen lẫn khổ
của Niết Bàn là thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. ‘‘Bhante nāgasena, kiṃ ekantasukhaṃ nibbānaṃ, udāhu dukkhena missa’’nti? ‘‘Ekantasukhaṃ, mahārāja, nibbānaṃ, dukkhena amissa’’nti.
9. Venerable Nāgasena, is Nibbāna exclusively blissful, or is it mixed with suffering?" "Nibbāna is exclusively blissful, great king; it is unmixed with suffering."
9. “Thưa ngài Nāgasena, có phải Niết-bàn là hoàn toàn an lạc, hay là có pha trộn với sự khổ?” “Tâu Đại vương, Niết-bàn là hoàn toàn an lạc, không có pha trộn với sự khổ.”
‘‘Na mayaṃ taṃ, bhante nāgasena, vacanaṃ saddahāma ‘ekantasukhaṃ nibbāna’nti, evamettha mayaṃ, bhante nāgasena, paccema ‘nibbānaṃ dukkhena missa’nti, kāraṇañcettha upalabhāma ‘nibbānaṃ dukkhena missa’nti. Katamaṃ ettha kāraṇaṃ? Ye te, bhante nāgasena, nibbānaṃ pariyesanti, tesaṃ dissati kāyassa ca cittassa ca ātāpo paritāpo ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhārapariggaho middhassa ca uparodho āyatanānañca paṭipīḷanaṃ dhanadhaññapiyañātimittappajahanaṃ. Ye keci loke sukhitā sukhasamappitā, te sabbepi pañcahi kāmaguṇehi āyatane ramenti brūhenti, manāpikamanāpikabahuvidhasubhanimittena rūpena cakkhuṃ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikagītavāditabahuvidhasubhanimittena saddena sotaṃ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikapupphaphalapattatacamūlasārabahuvidhasubhanimittena gandhena ghānaṃ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikakhajjabhojjaleyyapeyyasāyanīyabahuvidhasubhanimittena rasena jivhaṃ ramenti bruhenti, manāpikamanāpikasaṇhasukhumamudumaddavabahuvidhasubhanimittena phassena kāyaṃ ramenti brūhenti, manāpikamanāpikakalyāṇapāpakasubhāsubhabahuvidhavitakkamanasikārena manaṃ ramenti brūhenti. Tumhe taṃ cakkhusotaghānajivhākāyamanobrūhanaṃ hanatha upahanatha, chindatha upacchindatha, rundhatha uparundhatha. Tena kāyopi paritapati, cittampi paritapati, kāye paritatte kāyikadukkhavedanaṃ vediyati, citte paritatte cetasikadukkhavedanaṃ vedayati. Nanu māgaṇḍiyopi † paribbājako bhagavantaṃ garahamāno evamāha ‘bhūnahu † samaṇo gotamo’ti. Idamettha kāraṇaṃ, yenāhaṃ kāraṇena brūmi ‘nibbānaṃ dukkhena missa’’’nti.
“Venerable Nāgasena, we do not accept the statement that ‘Nibbāna is exclusively blissful.’ Instead, venerable Nāgasena, we believe that ‘Nibbāna is mixed with suffering,’ and we have found a reason for this. What is the reason? Those who seek Nibbāna, venerable Nāgasena, are seen to endure the ardor and torment of body and mind, restraint in standing, walking, sitting, lying down, and eating, the suppression of sloth, the affliction of the sense faculties, and the abandonment of wealth, grain, loved ones, relatives, and friends. All those in the world who are happy and endowed with happiness delight and nourish their sense faculties with the five strands of sensual pleasure. They delight and nourish the eye with various kinds of agreeable and delightful beautiful signs in the form of sights; they delight and nourish the ear with various kinds of agreeable and delightful beautiful signs in the form of sounds of song and music; they delight and nourish the nose with various kinds of agreeable and delightful beautiful signs in the form of scents of flowers, fruits, leaves, bark, roots, and heartwood; they delight and nourish the tongue with various kinds of agreeable and delightful beautiful signs in the form of tastes of hard and soft foods, things to be licked, drunk, and savored; they delight and nourish the body with various kinds of agreeable and delightful beautiful signs in the form of tangible sensations that are smooth, subtle, soft, and gentle; they delight and nourish the mind by attending to various kinds of agreeable and delightful, wholesome and unwholesome, beautiful and unbeautiful thoughts. But you strike and destroy, cut off and sever, obstruct and block this nourishment of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. Because of this, the body is tormented and the mind is tormented. When the body is tormented, one feels bodily painful feeling. When the mind is tormented, one feels mental painful feeling. Did not Māgaṇḍiya the wanderer, reviling the Blessed One, say, ‘The ascetic Gotama is a destroyer of growth’? This is the reason why I say, ‘Nibbāna is mixed with suffering.’”
“Thưa ngài Nāgasena, chúng tôi không tin lời nói ấy: ‘Niết-bàn là hoàn toàn an lạc.’ Thưa ngài Nāgasena, về điều này, chúng tôi tin rằng: ‘Niết-bàn có pha trộn với sự khổ.’ Và về điều này, chúng tôi nhận thấy có lý do: ‘Niết-bàn có pha trộn với sự khổ.’ Lý do ở đây là gì? Thưa ngài Nāgasena, những vị nào tìm cầu Niết-bàn, nơi các vị ấy được thấy có sự nỗ lực, sự khổ nhọc của thân và của tâm, sự kiểm soát trong việc đi, đứng, ngồi, nằm, ăn uống, sự ngăn ngừa cơn buồn ngủ, sự đè nén các căn, sự từ bỏ tài sản, của cải, người thân, quyến thuộc, bạn bè. Bất cứ ai ở đời được an lạc, được hưởng thụ sự an lạc, tất cả những người ấy đều làm cho các căn vui thích, tăng trưởng với năm dục lạc. Họ làm cho mắt vui thích, tăng trưởng với các sắc tướng đẹp đẽ, đáng yêu, đa dạng, tốt lành. Họ làm cho tai vui thích, tăng trưởng với các âm thanh du dương, đáng yêu, đa dạng, tốt lành của tiếng hát, tiếng nhạc. Họ làm cho mũi vui thích, tăng trưởng với các mùi hương thơm tho, đáng yêu, đa dạng, tốt lành của hoa, quả, lá, vỏ cây, rễ cây, lõi cây. Họ làm cho lưỡi vui thích, tăng trưởng với các vị ngon, đáng yêu, đa dạng, tốt lành của các món ăn, thức uống, vật để nếm, vật để liếm. Họ làm cho thân vui thích, tăng trưởng với các xúc chạm êm ái, đáng yêu, đa dạng, tốt lành, mịn màng, mềm mại, nhẹ nhàng. Họ làm cho ý vui thích, tăng trưởng với các sự suy tư, tác ý đa dạng, tốt xấu, hay dở, đáng yêu, không đáng yêu. Còn các ngài thì hủy diệt, phá hoại, cắt đứt, tận diệt, ngăn chặn, cản trở sự tăng trưởng của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý ấy. Do đó, thân cũng bị khổ não, tâm cũng bị khổ não. Khi thân bị khổ não, vị ấy cảm thọ khổ vedanā về thân. Khi tâm bị khổ não, vị ấy cảm thọ khổ vedanā về tâm. Chẳng phải du sĩ Māgaṇḍiya khi chỉ trích Đức Thế Tôn cũng đã nói như vầy sao: ‘Sa-môn Gotama là người hủy diệt sự tồn tại’? Đây là lý do, do lý do này mà tôi nói rằng: ‘Niết-bàn có pha trộn với sự khổ.’”
‘‘Na hi, mahārāja, nibbānaṃ dukkhena missaṃ, ekantasukhaṃ nibbānaṃ. Yaṃ pana tvaṃ, mahārāja, brūsi ‘nibbānaṃ dukkha’nti, netaṃ dukkhaṃ nibbānaṃ nāma, nibbānassa pana sacchikiriyāya pubbabhāgo eso, nibbānapariyesanaṃ etaṃ, ekantasukhaṃ yeva, mahārāja, nibbānaṃ, na dukkhena missaṃ. Ettha kāraṇaṃ vadāmi. Atthi, mahārāja, rājūnaṃ rajjasukhaṃ nāmā’’ti? ‘‘Āma, bhante, atthi rājūnaṃ rajjasukha’’nti. ‘‘Api nu kho taṃ, mahārāja, rajjasukhaṃ dukkhena missa’’nti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Kissa pana te, mahārāja, rājāno paccante kupite tesaṃ paccantanissitānaṃ paṭisedhāya amaccehi pariṇāyakehi bhaṭehi balatthehi parivutā pavāsaṃ gantvā ḍaṃsamakasavātātapapaṭipīḷitā samavisame paridhāvanti, mahāyuddhañca karonti, jīvitasaṃsayañca pāpuṇantī’’ti? ‘‘Netaṃ, bhante nāgasena, rajjasukhaṃ nāma, rajjasukhassa pariyesanāya pubbabhāgo eso, dukkhena, bhante nāgasena, rājāno rajjaṃ pariyesitvā rajjasukhaṃ anubhavanti, evaṃ, bhante nāgasena, rajjasukhaṃ dukkhena amissaṃ, aññaṃ taṃ rajjasukhaṃ, aññaṃ dukkha’’nti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ekantasukhaṃ nibbānaṃ, na dukkhena missaṃ. Ye pana taṃ nibbānaṃ pariyesanti, te kāyañca cittañca ātāpetvā ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhāraṃ pariggahetvā middhaṃ uparundhitvā āyatanāni paṭipīḷetvā kāyañca jīvitañca pariccajitvā dukkhena nibbānaṃ pariyesitvā ekantasukhaṃ nibbānaṃ anubhavanti, nihatapaccāmittā viya rājāno rajjasukhaṃ. Evaṃ, mahārāja, ekantasukhaṃ nibbānaṃ, na dukkhena missaṃ, aññaṃ nibbānaṃ, aññaṃ dukkhanti.
“Great king, Nibbāna is not mixed with suffering; Nibbāna is exclusively blissful. As for what you say, great king, ‘Nibbāna is suffering,’ that suffering is not what is called Nibbāna. Rather, that is the preliminary stage for the realization of Nibbāna; that is the quest for Nibbāna. Nibbāna, great king, is exclusively blissful, not mixed with suffering. I will state the reason for this. Great king, is there for kings such a thing as the happiness of kingship?” “Yes, venerable sir, there is for kings the happiness of kingship.” “But, great king, is that happiness of kingship mixed with suffering?” “No, venerable sir.” “Then why, great king, when the border regions are in revolt, do kings, surrounded by ministers, counselors, soldiers, and troops, go on campaigns to suppress those who dwell in the borderlands, and, afflicted by gadflies, mosquitoes, wind, and sun, run about on even and uneven ground, engage in great battles, and risk their lives?” “Venerable Nāgasena, that is not what is called the happiness of kingship; that is the preliminary stage of the quest for the happiness of kingship. Venerable Nāgasena, it is by suffering that kings seek kingship and then experience the happiness of kingship. Thus, venerable Nāgasena, the happiness of kingship is not mixed with suffering. The happiness of kingship is one thing, suffering is another.” “Even so, great king, Nibbāna is exclusively blissful, not mixed with suffering. But those who seek Nibbāna, having tormented body and mind, exercised restraint in standing, walking, sitting, lying down, and eating, suppressed sloth, afflicted the sense faculties, and relinquished body and life, seek Nibbāna through suffering and then experience the exclusively blissful Nibbāna, just as kings, having defeated their enemies, experience the happiness of kingship. Thus, great king, Nibbāna is exclusively blissful, not mixed with suffering. Nibbāna is one thing, suffering is another.”
“Tâu Đại vương, Niết-bàn không có pha trộn với sự khổ, Niết-bàn là hoàn toàn an lạc. Tâu Đại vương, còn điều mà ngài nói là ‘sự khổ’ thì đó không phải là Niết-bàn. Trái lại, đó là giai đoạn đầu của việc chứng ngộ Niết-bàn, đó là sự tìm cầu Niết-bàn. Tâu Đại vương, Niết-bàn chỉ là hoàn toàn an lạc, không có pha trộn với sự khổ. Tôi sẽ nói lý do về điều này. Tâu Đại vương, có thứ gọi là sự an lạc của vương quyền của các vị vua không?” “Thưa ngài, có sự an lạc của vương quyền của các vị vua.” “Tâu Đại vương, vậy sự an lạc của vương quyền ấy có pha trộn với sự khổ không?” “Thưa ngài, không có.” “Vậy tại sao, tâu Đại vương, khi biên địa có giặc nổi lên, các vị vua ấy, để dẹp loạn những kẻ ở biên địa, được các vị quan, tướng lĩnh, binh lính, quân đội vây quanh, lại phải đi xa, chịu đựng sự hành hạ của muỗi, mòng, gió, nắng, phải chạy trên đất bằng, đất không bằng, phải giao chiến trong các trận đánh lớn, và phải đối mặt với nguy cơ mất mạng?” “Thưa ngài Nāgasena, đó không phải là sự an lạc của vương quyền. Đó là giai đoạn đầu của việc tìm cầu sự an lạc của vương quyền. Thưa ngài Nāgasena, các vị vua sau khi đã dùng sự khổ để tìm cầu vương quyền rồi mới hưởng thụ sự an lạc của vương quyền. Như vậy, thưa ngài Nāgasena, sự an lạc của vương quyền không có pha trộn với sự khổ. Sự an lạc của vương quyền là một chuyện, sự khổ là chuyện khác.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, Niết-bàn là hoàn toàn an lạc, không có pha trộn với sự khổ. Còn những vị nào tìm cầu Niết-bàn, các vị ấy sau khi đã làm cho thân và tâm khổ nhọc, kiểm soát việc đi, đứng, ngồi, nằm, ăn uống, ngăn ngừa cơn buồn ngủ, đè nén các căn, từ bỏ thân và mạng sống, đã dùng sự khổ để tìm cầu Niết-bàn rồi mới hưởng thụ Niết-bàn hoàn toàn an lạc, giống như các vị vua sau khi đã đánh bại kẻ thù rồi hưởng thụ sự an lạc của vương quyền. Như vậy, tâu Đại vương, Niết-bàn là hoàn toàn an lạc, không có pha trộn với sự khổ. Niết-bàn là một chuyện, sự khổ là chuyện khác.”
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi ekantasukhaṃ nibbānaṃ, na dukkhena missaṃ, aññaṃ dukkhaṃ, aññaṃ nibbānanti. Atthi, mahārāja, ācariyānaṃ sippavantānaṃ sippasukhaṃ nāmā’’ti? ‘‘Āma, bhante, atthi ācariyānaṃ sippavantānaṃ sippasukha’’nti. ‘‘Api nu kho taṃ, mahārāja, sippasukhaṃ dukkhena missa’’nti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Kissa pana te, mahārāja, ācariyā † ācariyānaṃ abhivādanapaccuṭṭhānena udakāharaṇagharasammajjanadantakaṭṭhamukhodakānuppadānena ucchiṭṭhapaṭiggahaṇaucchādananahāpanapādaparikammena sakacittaṃ nikkhipitvā paracittānuvattanena dukkhaseyyāya visamabhojanena kāyaṃ ātāpentī’’ti? ‘‘Netaṃ, bhante nāgasena, sippasukhaṃ nāma, sippapariyesanāya pubbabhāgo eso, dukkhena, bhante nāgasena, ācariyā sippaṃ pariyesitvā sippasukhaṃ anubhavanti, evaṃ, bhante nāgasena, sippasukhaṃ dukkhena amissaṃ, aññaṃ taṃ sippasukhaṃ, aññaṃ dukkha’’nti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ekantasukhaṃ nibbānaṃ, na dukkhena missaṃ. Ye pana taṃ nibbānaṃ pariyesanti, te kāyañca cittañca ātāpetvā ṭhānacaṅkamanisajjāsayanāhāraṃ pariggahetvā middhaṃ uparundhitvā āyatanāni paṭipīḷetvā kāyañca jīvitañca pariccajitvā dukkhena nibbānaṃ pariyesitvā ekantasukhaṃ nibbānaṃ anubhavanti, ācariyā viya sippasukhaṃ. Evaṃ, mahārāja, ekantasukhaṃ nibbānaṃ, na dukkhena missaṃ, aññaṃ dukkhaṃ, aññaṃ nibbāna’’nti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Furthermore, great king, listen to another reason why Nibbāna is exclusively blissful, not mixed with suffering—suffering is one thing, and Nibbāna is another. Great king, is there for skilled teachers such a thing as the happiness of their craft?” “Yes, venerable sir, there is for skilled teachers the happiness of their craft.” “But, great king, is that happiness of their craft mixed with suffering?” “No, venerable sir.” “Then why, great king, do those teachers torment their bodies by paying homage and rising up for their own teachers, by fetching water, sweeping the house, and offering tooth-wood and water for the face, by accepting leftovers, by anointing, bathing, and massaging the feet, by setting aside their own will and complying with the will of another, by sleeping uncomfortably, and by eating irregular meals?” “Venerable Nāgasena, that is not what is called the happiness of a craft; that is the preliminary stage of the quest for a craft. Venerable Nāgasena, it is by suffering that teachers seek a craft and then experience the happiness of that craft. Thus, venerable Nāgasena, the happiness of a craft is not mixed with suffering. The happiness of the craft is one thing, suffering is another.” “Even so, great king, Nibbāna is exclusively blissful, not mixed with suffering. But those who seek Nibbāna, having tormented body and mind, exercised restraint in standing, walking, sitting, lying down, and eating, suppressed sloth, afflicted the sense faculties, and relinquished body and life, seek Nibbāna through suffering and then experience the exclusively blissful Nibbāna, just as teachers experience the happiness of their craft. Thus, great king, Nibbāna is exclusively blissful, not mixed with suffering. Suffering is one thing, and Nibbāna is another.” “Excellent, venerable Nāgasena! I accept it just as you have stated.”
“Tâu Đại vương, xin hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa về việc Niết-bàn là an lạc tuyệt đối, không pha trộn với khổ đau, rằng khổ đau là một pháp và Niết-bàn là một pháp khác. Tâu Đại vương, có phải là có cái gọi là sự an lạc của nghề nghiệp đối với các vị thầy có tay nghề không?” “Thưa vâng, tâu Đại đức, có sự an lạc của nghề nghiệp đối với các vị thầy có tay nghề.” “Vậy tâu Đại vương, sự an lạc của nghề nghiệp ấy có pha trộn với khổ đau không?” “Thưa không, tâu Đại đức.” “Vậy tại sao, tâu Đại vương, các vị thầy ấy lại phải làm cho thân thể mệt nhọc bằng cách đảnh lễ, đứng dậy chào đón các vị thầy của mình, bằng cách lấy nước, quét nhà, dâng tăm xỉa răng và nước rửa mặt, bằng cách nhận đồ ăn thừa, xoa bóp, tắm rửa, chăm sóc chân tay, bằng cách gạt bỏ ý riêng mà chiều theo ý người khác, bằng cách ngủ nghỉ trong khổ sở, ăn uống không điều độ?” “Tâu Đại đức Nāgasena, điều ấy không phải là sự an lạc của nghề nghiệp. Đó là giai đoạn đầu của việc tìm cầu nghề nghiệp. Tâu Đại đức Nāgasena, các vị thầy đã phải chịu khổ đau để tìm cầu nghề nghiệp rồi sau đó mới hưởng được sự an lạc của nghề nghiệp. Như vậy, tâu Đại đức Nāgasena, sự an lạc của nghề nghiệp không pha trộn với khổ đau, sự an lạc của nghề nghiệp là một pháp, và khổ đau là một pháp khác.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, Niết-bàn là an lạc tuyệt đối, không pha trộn với khổ đau. Những người tìm cầu Niết-bàn ấy, sau khi đã làm cho thân và tâm mệt nhọc, đã kiểm soát việc đi, đứng, ngồi, nằm, ăn uống, đã ngăn trừ cơn buồn ngủ, đã chế ngự các căn, đã từ bỏ thân và mạng, đã chịu khổ đau để tìm cầu Niết-bàn, rồi mới hưởng được Niết-bàn là an lạc tuyệt đối, giống như các vị thầy hưởng được sự an lạc của nghề nghiệp. Như vậy, tâu Đại vương, Niết-bàn là an lạc tuyệt đối, không pha trộn với khổ đau, khổ đau là một pháp và Niết-bàn là một pháp khác.” “Lành thay, tâu Đại đức Nāgasena, hạ thần xin chấp nhận điều này đúng là như vậy.”
Ekantasukhanibbānapañho navamo.
The Ninth Question on Nibbāna as Exclusively Blissful.
Câu hỏi về Niết-bàn là an lạc tuyệt đối, câu thứ chín.