Bản dịch
MIL 6.3.10 — CÂU HỎI VỀ HÌNH THỂ VÀ VỊ TRÍ NIẾT BÀN
10. Nibbānarūpasaṇṭhānapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Niết Bàn, Niết Bàn,’ vậy thì có thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn ấy không?”
“Tâu đại vương, Niết Bàn là không có vật đối chiếu. Không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không chấp nhận điều ấy, là việc không có được sự xác định bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận về hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn là pháp có thật. Vậy ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, hãy là vậy. Tôi sẽ giúp cho ngài hiểu bằng lý lẽ. Tâu đại vương, có cái gọi là đại dương không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Có cái đại dương ấy.”
“Tâu đại vương, nếu có ai đó hỏi đại vương như vầy: ‘Tâu đại vương, có bao nhiêu nước ở đại dương? Và các chúng sanh cư ngụ ở đại dương là bao nhiêu?’ Tâu đại vương, được hỏi như vậy, đại vương giải thích cho người ấy như thế nào?”
“Thưa ngài, nếu có ai đó hỏi trẫm như vầy: ‘Tâu đại vương, có bao nhiêu nước ở đại dương? Và các chúng sanh cư ngụ ở đại dương là bao nhiêu?’ Thưa ngài, trẫm sẽ nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, ông hỏi trẫm điều không nên hỏi, câu hỏi ấy là không nên hỏi bởi bất cứ người nào, câu hỏi ấy nên được bỏ qua, đại dương chưa được phân tích bởi các nhà tự nhiên học, không thể ước lượng nước ở đại dương, hoặc các chúng sanh đã đi đến cư ngụ ở nơi ấy.’ Thưa ngài, trẫm sẽ cho người ấy câu trả lời như vậy.”
BJT 2“Tâu đại vương, tại sao ngài lại cho câu trả lời như vậy về đại dương là pháp có thật, sao không tính toán rồi thuật lại cho người ấy rằng: ‘Nước ở đại dương là chừng này, và chúng sanh cư ngụ ở đại dương là chừng này’?”
“Thưa ngài, không thể được. Câu hỏi này là không có thực tế.”
“Tâu đại vương, giống như đại dương đúng là pháp có thật còn không thể tính toán lượng nước hoặc các chúng sanh đã đi đến cư ngụ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với Niết Bàn đúng là pháp có thật, cũng không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước. Tâu đại vương, người có thần thông, đã đạt đến năng lực của ý, có thể tính toán nước ở đại dương, và chúng sanh có chỗ ở tại nơi ấy. Nhưng vị ấy, có thần thông, đã đạt đến năng lực của ý, vẫn không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn.
BJT 3Tâu đại vương, hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa: ‘Không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn, đúng là pháp có thật.’ Tâu đại vương, trong số chư Thiên có hạng gọi là chư Thiên thuộc tập thể vô sắc không?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Được nghe là: ‘Trong số chư Thiên có hạng gọi là chư Thiên thuộc tập thể vô sắc.’”
“Tâu đại vương, phải chăng đối với chư Thiên thuộc tập thể vô sắc ấy, có thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, như thế thì không có chư Thiên thuộc tập thể vô sắc.”
“Thưa ngài, có chư Thiên thuộc tập thể vô sắc. Và đối với các vị ấy, không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước.”
“Tâu đại vương, giống như không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của chư Thiên thuộc tập thể vô sắc, đúng là các chúng sanh có thật. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn, đúng là pháp có thật.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, Niết Bàn là thuần lạc. Và không thể bằng ví dụ, hoặc bằng lý lẽ, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng suy luận để chỉ ra hình thể, hay vị trí, hay tuổi thọ, hay kích thước của Niết Bàn. Thưa ngài, vậy thì có đức tính nào đó của Niết Bàn được liên quan với các thứ khác có thể làm ví dụ so sánh?”
“Tâu đại vương, về phương diện hình thể thì không có. Tuy nhiên, có thể có cái gì đó về phương diện đức tính để chỉ ra làm ví dụ so sánh.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm tiếp nhận việc giải thích từng phần một về đức tính của Niết Bàn như thế nào thì bằng cách mau chóng như thế ấy ngài hãy nói lên, hãy dập tắt sự nóng nảy ở trái tim của trẫm, hãy đưa nó đi bằng làn gió mát lạnh, ngọt ngào của lời nói.”
BJT 5“Tâu đại vương, cây sen có một đức tính được liên quan đến Niết Bàn, nước có hai đức tính, thuốc giải độc có ba đức tính, đại dương có bốn đức tính, vật thực có năm đức tính, bầu trời có mười đức tính, ngọc báu ma-ni có ba đức tính, trầm hương đỏ có ba đức tính, nước trong của bơ lỏng có ba đức tính, đỉnh núi có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Loài sen có một đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ loài sen có một đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như loài sen không bị lấm lem bởi nước. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn không bị lấm lem bởi tất cả các phiền não. Tâu đại vương, loài sen có một đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Nước có hai đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ nước có hai đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như nước mát lạnh có sự làm tắt ngấm sự nóng nực. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn mát lạnh có sự làm tắt ngấm sự nóng nực của tất cả các phiền não. Tâu đại vương, nước có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước xua đi cơn khát của các loài người và thú bị nhọc mệt, bị run rẩy, bị khát, bị thiêu đốt bởi sự nóng bức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn xua đi cơn khát về dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Tâu đại vương, nước có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, nước có hai đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 7“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Thuốc giải độc có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ thuốc giải độc có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như thuốc giải độc là nơi nương tựa của các chúng sanh bị hành hạ bởi thuốc độc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là nơi nương tựa của các chúng sanh bị hành hạ bởi thuốc độc phiền não. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, thuốc giải độc làm chấm dứt các căn bệnh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn làm chấm dứt tất cả các khổ đau. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, thuốc giải độc (đem lại) sự bất tử. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn (đem lại) sự bất tử. Tâu đại vương, thuốc giải độc có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, thuốc giải độc có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Đại dương có bốn đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ đại dương có bốn đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như đại dương là trống không đối với tất cả các xác chết. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là trống không đối với tất cả các xác chết phiền não. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương là rộng lớn, không có bờ này bờ kia, không bị tràn đầy bởi tất cả các dòng sông. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là rộng lớn, không có bờ này bờ kia, không bị tràn đầy bởi tất cả các chúng sanh. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương là nơi cư trú của các sinh vật vĩ đại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là nơi cư trú của các bậc A-la-hán vĩ đại, là các sinh vật vĩ đại không bị ô nhiễm, có các lậu đã cạn kiệt, đã đạt được năng lực, có trạng thái làm chủ. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đại dương được trổ hoa với các bông hoa là những làn sóng vô số kể, đa dạng, trải rộng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được trổ hoa với các bông hoa là sự thanh tịnh, minh, và giải thoát vô số kể, đa dạng, trải rộng. Tâu đại vương, đại dương có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, đại dương có bốn đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Vật thực có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ vật thực có năm đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như vật thực duy trì sự sống của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ thì duy trì sự sống nhờ vào việc tiêu diệt sự già và sự chết. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm tăng trưởng sức mạnh của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm tăng trưởng sức mạnh về thần thông của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm sanh ra sắc đẹp của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm sanh ra sắc đẹp về đức hạnh của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực làm lắng dịu sự buồn bực của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ làm lắng dịu sự buồn bực về mọi phiền não của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vật thực xua đi cơn đói và sự yếu đuối của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đã được chứng ngộ xua đi cơn đói và sự yếu đuối về mọi sự khổ đau của tất cả chúng sanh. Tâu đại vương, vật thực có đức tính thứ năm này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, vật thực có năm đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hư không có mười đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ hư không có mười đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như hư không là không bị sanh, không bị già, không bị chết, không lìa đời, không sanh lên, khó chế ngự, không bị trộm lấy đi, không bị lệ thuộc, là chốn di chuyển của loài chim, không bị chướng ngại, không có nơi tận cùng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là không bị sanh, không bị già, không bị chết, không lìa đời, không sanh lên, khó chế ngự, không bị trộm lấy đi, không bị lệ thuộc, là chốn di chuyển của các bậc Thánh, không bị chướng ngại, không có nơi tận cùng. Tâu đại vương, hư không có mười đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ngọc báu ma-ni có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ ngọc báu ma-ni có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như ngọc báu ma-ni ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn ban cho điều ước muốn. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ngọc báu ma-ni làm cho tươi cười. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn làm cho tươi cười. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ngọc báu ma-ni có lợi ích về ánh sáng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn có lợi ích về ánh sáng. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, ngọc báu ma-ni có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Trầm hương đỏ có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ trầm hương đỏ có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như trầm hương đỏ là khó đạt được. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là khó đạt được. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, trầm hương đỏ có mùi hương tuyệt vời không thể sánh bằng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn có mùi hương tuyệt vời không thể sánh bằng. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, trầm hương đỏ được những người tốt ca tụng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được các bậc Thánh nhân ca tụng. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, trầm hương đỏ có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Nước trong của bơ lỏng có ba đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ nước trong của bơ lỏng có ba đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như nước trong của bơ lỏng được thành tựu màu sắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu màu sắc của đức hạnh. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước trong của bơ lỏng được thành tựu hương thơm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu hương thơm của giới. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, nước trong của bơ lỏng được thành tựu phẩm vị. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thành tựu phẩm vị (giải thoát). Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, nước trong của bơ lỏng có ba đức tính này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Đỉnh núi có năm đức tính được liên quan đến Niết Bàn,’ đỉnh núi có năm đức tính nào được liên quan đến Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giống như đỉnh núi là cao ngất. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là cao ngất. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ nhất này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi là không dao động. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn không dao động. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ nhì này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi là khó trèo lên. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là khó trèo lên đối với tất cả các phiền não. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ ba này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi đối với tất cả các hạt giống là không nẩy mầm được. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn đối với tất cả các phiền não là không nẩy mầm được. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ tư này được liên quan đến Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, đỉnh núi được thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn được thoát ra khỏi sự nuông chiều hay ghét bỏ. Tâu đại vương, đỉnh núi có đức tính thứ năm này được liên quan đến Niết Bàn. Tâu đại vương, đỉnh núi có năm đức tính thứ này được liên quan đến Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hình thể và vị trí của Niết Bàn là thứ mười.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. ‘‘Bhante nāgasena, ‘nibbānaṃ nibbāna’nti yaṃ vadesi, sakkā pana tassa nibbānassa rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitu’’nti? ‘‘Appaṭibhāgaṃ, mahārāja, nibbānaṃ, na sakkā nibbānassa rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitu’’nti. ‘‘Etampāhaṃ, bhante nāgasena, na sampaṭicchāmi, yaṃ atthidhammassa nibbānassa rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā apaññāpanaṃ, kāraṇena maṃ saññāpehī’’ti. ‘‘Hotu, mahārāja, kāraṇena taṃ saññāpessāmi. Atthi, mahārāja, mahāsamuddo nāmā’’ti? ‘‘Āma, bhante, attheso mahāsamuddo’’ti. ‘‘Sace taṃ, mahārāja, koci evaṃ puccheyya ‘kittakaṃ, mahārāja, mahāsamudde udakaṃ, kati pana te sattā, ye mahāsamudde paṭivasantī’ti, evaṃ puṭṭho tvaṃ, mahārāja, kinti tassa byākareyyāsī’’ti? ‘‘Sace maṃ, bhante, koci evaṃ puccheyya ‘kittakaṃ, mahārāja, mahāsamudde udakaṃ, kati pana te sattā, ye mahāsamudde paṭivasantī’ti, tamahaṃ, bhante, evaṃ vadeyyaṃ ‘apucchitabbaṃ maṃ tvaṃ ambho purisa pucchasi, nesā pucchā kenaci pucchitabbā, ṭhapanīyo eso pañho. Avibhatto lokakkhāyikehi mahāsamuddo, na sakkā mahāsamudde udakaṃ pariminituṃ sattā vā ye tattha vāsamupagatāti evāhaṃ bhante tassa paṭivacanaṃ dadeyya’’’nti.
10. "Venerable Nāgasena, when you say, 'Nibbāna, Nibbāna,' is it possible to indicate the form, configuration, age, or measure of that Nibbāna by simile, cause, reason, or method?" "O king, Nibbāna is incomparable; it is not possible to indicate the form, configuration, age, or measure of Nibbāna by simile, cause, reason, or method." "Venerable Nāgasena, I do not accept this: that for something that truly exists, namely Nibbāna, there is no indication of its form, configuration, age, or measure by simile, cause, reason, or method. Convince me with a reason." "Very well, O king, I will convince you with a reason. Is there, O king, something called the great ocean?" "Yes, Venerable, there is that great ocean." "Suppose, O king, someone were to ask you: 'How much water is there in the great ocean, and how many beings dwell in the great ocean?' If questioned thus, O king, how would you answer him?" "If someone were to ask me, Venerable, 'How much water is there in the great ocean, and how many beings dwell in the great ocean?' I would say to him: 'Good sir, you are asking me a question that should not be asked. That is not a question that should be asked by anyone. That question should be set aside. The great ocean is immeasurable by worldly reckoners; it is impossible to measure the water in the great ocean or count the beings who have taken up residence there.' Thus, Venerable, I would give him an answer."
10. “Tâu Đại đức Nāgasena, ngài nói ‘Niết-bàn, Niết-bàn,’ vậy có thể chỉ ra hình sắc, hoặc hình tướng, hoặc tuổi tác, hoặc kích thước của Niết-bàn ấy bằng ví dụ, hoặc bằng lý do, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng phương pháp được không?” “Tâu Đại vương, Niết-bàn là vô song, không thể chỉ ra hình sắc, hoặc hình tướng, hoặc tuổi tác, hoặc kích thước của Niết-bàn bằng ví dụ, hoặc bằng lý do, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng phương pháp được.” “Tâu Đại đức Nāgasena, hạ thần không chấp nhận điều này, rằng một pháp có thật là Niết-bàn lại không thể được trình bày về hình sắc, hoặc hình tướng, hoặc tuổi tác, hoặc kích thước bằng ví dụ, hoặc bằng lý do, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng phương pháp. Xin hãy làm cho hạ thần hiểu rõ bằng một lý do.” “Được rồi, tâu Đại vương, bần tăng sẽ làm cho ngài hiểu rõ bằng một lý do. Tâu Đại vương, có cái gọi là đại dương không?” “Thưa vâng, tâu Đại đức, có đại dương ấy.” “Nếu có người nào đó hỏi ngài rằng: ‘Tâu Đại vương, trong đại dương có bao nhiêu nước, và có bao nhiêu chúng sinh sống trong đại dương?’ Khi được hỏi như vậy, tâu Đại vương, ngài sẽ trả lời người ấy thế nào?” “Nếu có người nào đó hỏi hạ thần rằng: ‘Tâu Đại vương, trong đại dương có bao nhiêu nước, và có bao nhiêu chúng sinh sống trong đại dương?’ thì tâu Đại đức, hạ thần sẽ nói với người ấy như vầy: ‘Này bạn, bạn đã hỏi tôi một điều không nên hỏi. Câu hỏi này không nên được bất cứ ai hỏi. Câu hỏi này nên được gác lại. Đại dương không được các nhà vũ trụ học phân định. Không thể đo lường được lượng nước trong đại dương hay đếm được các chúng sinh cư ngụ ở đó.’ Tâu Đại đức, hạ thần sẽ trả lời người ấy như vậy.”
‘‘Kissa pana, tvaṃ mahārāja, atthidhamme mahāsamudde evaṃ paṭivacanaṃ dadeyyāsi, nanu vigaṇetvā † tassa ācikkhitabbaṃ ‘ettakaṃ mahāsamudde udakaṃ, ettakā ca sattā mahāsamudde paṭivasantī’’ti? ‘‘Na sakkā, bhante, avisayo eso pañho’’ti.
"But why, O king, would you give such an answer regarding the great ocean, which truly exists? Should it not be calculated and declared to him: 'This much water is in the great ocean, and this many beings dwell in the great ocean'?" "It is not possible, Venerable. That question is beyond the scope of calculation."
“Vậy tại sao, tâu Đại vương, ngài lại trả lời như vậy về đại dương, một pháp có thật? Chẳng lẽ không nên đếm rồi nói cho người ấy biết rằng: ‘Trong đại dương có chừng này nước, và có chừng này chúng sinh sống trong đại dương’ sao?” “Thưa không thể được, tâu Đại đức, câu hỏi này vượt quá phạm vi.”
‘‘Yathā, mahārāja, atthidhamme yeva mahāsamudde na sakkā udakaṃ parigaṇetuṃ † sattā vā ye tattha vāsamupagatā, evameva kho, mahārāja, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṃ, vigaṇeyya, mahārāja, iddhimā cetovasippatto mahāsamudde udakaṃ tatrāsaye ca satte, na tveva so iddhimā cetovasippatto sakkuṇeyya nibbānassa rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṃ.
"Just as, O king, in the great ocean, which truly exists, it is impossible to calculate the water or the beings who have taken up residence there, even so, O king, for Nibbāna, which truly exists, it is impossible to indicate its form, configuration, age, or measure by simile, cause, reason, or method. O king, a powerful one who has attained mastery of mind might calculate the water in the great ocean and the beings dwelling there; but even that powerful one who has attained mastery of mind would not be able to indicate the form, configuration, age, or measure of Nibbāna by simile, cause, reason, or method."
“Tâu Đại vương, cũng như đối với đại dương là một pháp có thật mà không thể đếm được lượng nước hay các chúng sinh cư ngụ ở đó, cũng vậy, tâu Đại vương, đối với Niết-bàn là một pháp có thật mà không thể chỉ ra hình sắc, hoặc hình tướng, hoặc tuổi tác, hoặc kích thước bằng ví dụ, hoặc bằng lý do, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng phương pháp được. Tâu Đại vương, một người có thần thông, đã đạt đến sự thuần thục về tâm, có thể đếm được lượng nước trong đại dương và các chúng sinh cư ngụ ở đó, nhưng ngay cả người có thần thông, đã đạt đến sự thuần thục về tâm ấy cũng không thể chỉ ra hình sắc, hoặc hình tướng, hoặc tuổi tác, hoặc kích thước của Niết-bàn bằng ví dụ, hoặc bằng lý do, hoặc bằng nguyên nhân, hoặc bằng phương pháp được.
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitunti. Atthi, mahārāja, devesu arūpakāyikā nāma devā’’ti. ‘‘Āma, bhante, suyyati ‘atthi devesu arūpakāyikā nāma devā’’’ti. ‘‘Sakkā pana, mahārāja, tesaṃ arūpakāyikānaṃ devānaṃ rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitu’’nti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, natthi arūpakāyikā devā’’ti? ‘‘Atthi, bhante, arūpakāyikā devā, na ca sakkā tesaṃ rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitu’’nti. ‘‘Yathā, mahārāja, atthisattānaṃ yeva arūpakāyikānaṃ devānaṃ na sakkā rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṃ, evameva kho, mahārāja, atthidhammasseva nibbānassa na sakkā rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayitu’’nti.
"Furthermore, O king, listen to another reason why it is impossible to indicate the form, configuration, age, or measure of Nibbāna, which truly exists, by simile, cause, reason, or method. O king, are there among the deities those called the formless?" "Yes, Venerable, it is heard that there are among the deities those called the formless." "But, O king, is it possible to indicate the form, configuration, age, or measure of those formless deities by simile, cause, reason, or method?" "No, Venerable." "Then, O king, do the formless deities not exist?" "The formless deities do exist, Venerable, but it is impossible to indicate their form, configuration, age, or measure by simile, cause, reason, or method." "Just as, O king, it is impossible to indicate the form, configuration, age, or measure of those formless deities, who truly exist, by simile, cause, reason, or method, even so, O king, it is impossible to indicate the form, configuration, age, or measure of Nibbāna, which truly exists, by simile, cause, reason, or method."
“Tâu Đại vương, xin hãy nghe thêm một lý do khác nữa về việc không thể chỉ ra hình sắc, hình tướng, tuổi tác, hay kích thước của Niết-bàn, một pháp hiện hữu, bằng ví dụ, bằng nguyên nhân, bằng lý do, hay bằng phương pháp. Tâu Đại vương, trong cõi trời, có các vị trời được gọi là trời Vô Sắc phải không?” “Thưa vâng, bạch Đại đức, trẫm có nghe nói ‘có các vị trời được gọi là trời Vô Sắc trong cõi trời’.” “Vậy, tâu Đại vương, có thể chỉ ra hình sắc, hình tướng, tuổi tác, hay kích thước của các vị trời Vô Sắc ấy bằng ví dụ, bằng nguyên nhân, bằng lý do, hay bằng phương pháp được không?” “Thưa không, bạch Đại đức.” “Nếu vậy, tâu Đại vương, có phải là không có các vị trời Vô Sắc không?” “Thưa có, bạch Đại đức, có các vị trời Vô Sắc, nhưng không thể chỉ ra hình sắc, hình tướng, tuổi tác, hay kích thước của các vị ấy bằng ví dụ, bằng nguyên nhân, bằng lý do, hay bằng phương pháp.” “Tâu Đại vương, cũng như không thể chỉ ra hình sắc, hình tướng, tuổi tác, hay kích thước của các vị trời Vô Sắc, những chúng sanh thực sự hiện hữu, bằng ví dụ, bằng nguyên nhân, bằng lý do, hay bằng phương pháp, thì cũng thế ấy, tâu Đại vương, không thể chỉ ra hình sắc, hình tướng, tuổi tác, hay kích thước của Niết-bàn, một pháp hiện hữu, bằng ví dụ, bằng nguyên nhân, bằng lý do, hay bằng phương pháp.”
‘‘Bhante nāgasena, hotu ekantasukhaṃ nibbānaṃ, na ca sakkā tassa rūpaṃ vā saṇṭhānaṃ vā vayaṃ vā pamāṇaṃ vā opammena vā kāraṇena vā hetunā vā nayena vā upadassayituṃ. Atthi pana, bhante, nibbānassa guṇaṃ aññehi anupaviṭṭhaṃ kiñci opammanidassanamatta’’nti? ‘‘Sarūpato, mahārāja, natthi, guṇato pana sakkā kiñci opammanidassanamattaṃ upadassayitu’’nti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, yathāhaṃ labhāmi nibbānassa guṇatopi ekadesaparidīpanamattaṃ, tathā sīghaṃ brūhi, nibbāpehi me hadayapariḷāhaṃ vinaya sītalamadhuravacanamālutenā’’ti.
"Venerable Nāgasena, let it be that Nibbāna is unalloyed bliss, and that it is impossible to indicate its form, configuration, age, or measure by simile, cause, reason, or method. But, Venerable, is there any quality of Nibbāna shared with other things that can serve as a mere illustration by simile?" "In terms of its intrinsic nature, O king, there is none; but in terms of its qualities, some mere illustration by simile can indeed be indicated." "Excellent, Venerable Nāgasena! Please quickly explain in such a way that I may grasp at least a partial illustration of Nibbāna’s qualities. Extinguish the burning of my heart; dispel it with the breeze of your cool, sweet words."
“Bạch Đại đức Nāgasena, cho rằng Niết-bàn là hạnh phúc tuyệt đối, và cho rằng không thể chỉ ra hình sắc, hình tướng, tuổi tác, hay kích thước của nó bằng ví dụ, bằng nguyên nhân, bằng lý do, hay bằng phương pháp. Nhưng bạch Đại đức, có phẩm chất nào của Niết-bàn mà có thể được thâm nhập bởi những thứ khác, dù chỉ là một chút ví dụ để minh họa không?” “Tâu Đại vương, về bản chất thì không có, nhưng về phẩm chất thì có thể chỉ ra một chút ví dụ để minh họa.” “Lành thay, bạch Đại đức Nāgasena! Xin hãy nhanh chóng nói cho trẫm theo cách mà trẫm có thể nhận được dù chỉ là một phần nhỏ sự soi sáng về phẩm chất của Niết-bàn. Xin hãy dập tắt sự nóng nảy trong tim trẫm, hãy xua tan nó đi bằng ngọn gió của những lời nói mát mẻ và ngọt ngào.”
‘‘Padumassa, mahārāja, eko guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho, udakassa dve guṇā, agadassa tayo guṇā, mahāsamuddassa cattāro guṇā, bhojanassa pañca guṇā, ākāsassa dasa guṇā, maṇiratanassa tayo guṇā, lohitacandanassa tayo guṇā, sappimaṇḍassa tayo guṇā, girisikharassa pañca guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
"O king, one quality of the lotus is found in Nibbāna, two qualities of water, three qualities of an antidote, four qualities of the great ocean, five qualities of food, ten qualities of space, three qualities of a jewel, three qualities of red sandalwood, three qualities of ghee, and five qualities of a mountain peak are found in Nibbāna."
“Tâu Đại vương, một phẩm chất của hoa sen đã thâm nhập vào Niết-bàn. Hai phẩm chất của nước, ba phẩm chất của thuốc, bốn phẩm chất của đại dương, năm phẩm chất của thức ăn, mười phẩm chất của không gian, ba phẩm chất của ngọc báu, ba phẩm chất của gỗ đàn hương đỏ, ba phẩm chất của bơ lỏng, và năm phẩm chất của đỉnh núi đã thâm nhập vào Niết-bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘padumassa eko guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho’ti yaṃ vadesi, katamo padumassa eko guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, padumaṃ anupalittaṃ udakena, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sabbakilesehi anupalittaṃ. Ayaṃ, mahārāja, padumassa eko guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho’’ti.
"Venerable Nāgasena, you said that 'one quality of the lotus is found in Nibbāna.' What is that one quality of the lotus that is found in Nibbāna?" "Just as, O king, the lotus is unstained by water, even so, O king, Nibbāna is unstained by all defilements. This, O king, is the one quality of the lotus that is found in Nibbāna."
“Bạch Đại đức Nāgasena, Ngài nói rằng ‘một phẩm chất của hoa sen đã thâm nhập vào Niết-bàn’. Phẩm chất nào của hoa sen đã thâm nhập vào Niết-bàn vậy?” “Tâu Đại vương, cũng như hoa sen không bị nước làm vấy bẩn, cũng thế ấy, tâu Đại vương, Niết-bàn không bị tất cả các phiền não làm vấy bẩn. Tâu Đại vương, đây là một phẩm chất của hoa sen đã thâm nhập vào Niết-bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘udakassa dve guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame udakassa dve guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, udakaṃ sītalaṃ pariḷāhanibbāpanaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sītalaṃ sabbakilesapariḷāhanibbāpanaṃ. Ayaṃ, mahārāja, udakassa paṭhamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, udakaṃ kilantatasitapipāsitaghammābhitattānaṃ janapasupajānaṃ pipāsāvinayanaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ kāmataṇhābhavataṇhāvibhavataṇhāpipāsāvinayanaṃ. Ayaṃ, mahārāja, udakassa dutiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Ime kho, mahārāja, udakassa dve guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
"Venerable Nāgasena, you said that 'two qualities of water are found in Nibbāna.' What are those two qualities of water that are found in Nibbāna?" "Just as, O king, water is cool and quenches burning heat, even so, O king, Nibbāna is cool and quenches the burning heat of all defilements. This, O king, is the first quality of water that is found in Nibbāna. Furthermore, O king, just as water removes the thirst of people and beasts who are weary, thirsty, parched, and afflicted by heat, even so, O king, Nibbāna removes the thirst for sensual pleasures, the thirst for existence, and the thirst for non-existence. This, O king, is the second quality of water that is found in Nibbāna. These, O king, are the two qualities of water that are found in Nibbāna."
“Bạch Đại đức Nāgasena, Ngài nói rằng ‘hai phẩm chất của nước đã thâm nhập vào Niết-bàn’. Hai phẩm chất nào của nước đã thâm nhập vào Niết-bàn vậy?” “Tâu Đại vương, cũng như nước thì mát mẻ, làm dịu đi sự nóng bức, cũng thế ấy, tâu Đại vương, Niết-bàn thì mát mẻ, làm dịu đi sự nóng bức của tất cả các phiền não. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ nhất của nước đã thâm nhập vào Niết-bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, cũng như nước làm dịu cơn khát của người và vật bị mệt mỏi, khát nước, và bị nắng nóng hành hạ, cũng thế ấy, tâu Đại vương, Niết-bàn làm dịu cơn khát của dục ái, hữu ái, và phi hữu ái. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ hai của nước đã thâm nhập vào Niết-bàn. Tâu Đại vương, đây là hai phẩm chất của nước đã thâm nhập vào Niết-bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘agadassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame agadassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, agado visapīḷitānaṃ sattānaṃ paṭisaraṇaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ kilesavisapīḷitānaṃ sattānaṃ paṭisaraṇaṃ. Ayaṃ, mahārāja, agadassa paṭhamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, agado rogānaṃ antakaro, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sabbadukkhānaṃ antakaraṃ. Ayaṃ, mahārāja, agadassa dutiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, agado amataṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ amataṃ. Ayaṃ, mahārāja, agadassa tatiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Ime kho, mahārāja, agadassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
“Venerable Nāgasena, you said that ‘three qualities of an antidote are found in Nibbāna.’ What are these three qualities of an antidote that are found in Nibbāna?” “Just as, Your Majesty, an antidote is a refuge for beings afflicted by poison, even so, Your Majesty, Nibbāna is a refuge for beings afflicted by the poison of the defilements. This, Your Majesty, is the first quality of an antidote that is found in Nibbāna. Furthermore, Your Majesty, an antidote is an ender of diseases; even so, Your Majesty, Nibbāna is an ender of all suffering. This, Your Majesty, is the second quality of an antidote that is found in Nibbāna. Moreover, Your Majesty, an antidote is deathless; even so, Your Majesty, Nibbāna is the Deathless. This, Your Majesty, is the third quality of an antidote that is found in Nibbāna. These, Your Majesty, are the three qualities of an antidote that are found in Nibbāna.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, Ngài nói rằng ‘ba phẩm chất của thuốc đã thâm nhập vào Niết-bàn’. Ba phẩm chất nào của thuốc đã thâm nhập vào Niết-bàn vậy?” “Tâu Đại vương, cũng như thuốc là nơi nương tựa cho các chúng sanh bị chất độc hành hạ, cũng thế ấy, tâu Đại vương, Niết-bàn là nơi nương tựa cho các chúng sanh bị chất độc phiền não hành hạ. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ nhất của thuốc đã thâm nhập vào Niết-bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, cũng như thuốc chấm dứt các bệnh tật, cũng thế ấy, tâu Đại vương, Niết-bàn chấm dứt tất cả các khổ đau. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ hai của thuốc đã thâm nhập vào Niết-bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, cũng như thuốc là bất tử, cũng thế ấy, tâu Đại vương, Niết-bàn là bất tử. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ ba của thuốc đã thâm nhập vào Niết-bàn. Tâu Đại vương, đây là ba phẩm chất của thuốc đã thâm nhập vào Niết-bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, mahāsamuddo suñño sabbakuṇapehi, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ suññaṃ sabbakilesakuṇapehi. Ayaṃ, mahārāja, mahāsamuddassa paṭhamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, mahāsamuddo mahanto anorapāro, na paripūrati sabbasavantīhi, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ mahantaṃ anorapāraṃ, na pūrati sabbasattehi. Ayaṃ, mahārāja, mahāsamuddassa dutiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, mahāsamuddo mahantānaṃ bhūtānaṃ āvāso, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ mahantānaṃ arahantānaṃ vimalakhīṇāsavabalappattavasībhūtamahābhūtānaṃ āvāso. Ayaṃ, mahārāja, mahāsamuddassa tatiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, mahāsamuddo aparimitavividhavipulavīcipupphasaṃkusumito, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ aparimitavividhavipulaparisuddhavijjāvimuttipupphasaṃkusumitaṃ. Ayaṃ, mahārāja, mahāsamuddassa catuttho guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Ime kho, mahārāja, mahāsamuddassa cattāro guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
“Venerable Nāgasena, as to what you said, ‘four qualities of the great ocean are found in Nibbāna,’ what are these four qualities of the great ocean that are found in Nibbāna?” “Just as, Your Majesty, the great ocean is empty of all corpses, so too, Your Majesty, Nibbāna is empty of all the corpses of the defilements. This, Your Majesty, is the first quality of the great ocean found in Nibbāna. Furthermore, Your Majesty, the great ocean is vast and boundless, not filled by all the rivers; so too, Your Majesty, Nibbāna is vast and boundless, not filled by all beings. This, Your Majesty, is the second quality of the great ocean found in Nibbāna. Moreover, Your Majesty, the great ocean is the abode of great beings; so too, Your Majesty, Nibbāna is the abode of great Arahants—those who are stainless, whose taints are destroyed, who have attained power, and who have become masters, great beings. This, Your Majesty, is the third quality of the great ocean found in Nibbāna. Furthermore, Your Majesty, the great ocean is adorned with countless, varied, and abundant waves and flowers; so too, Your Majesty, Nibbāna is adorned with countless, varied, and abundant blossoms of purified knowledge and liberation. This, Your Majesty, is the fourth quality of the great ocean found in Nibbāna. These, Your Majesty, are the four qualities of the great ocean found in Nibbāna.”
“Bạch ngài Nāgasena, điều ngài nói rằng: ‘Bốn đức tính của biển cả đã đi vào Niết Bàn,’ vậy bốn đức tính nào của biển cả đã đi vào Niết Bàn?” “Tâu Đại vương, ví như biển cả thì trống không các tử thi, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn thì trống không các tử thi phiền não. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ nhất của biển cả đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như biển cả thì rộng lớn, không có bờ bên kia, không thể được làm cho đầy bởi tất cả các dòng sông, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn thì rộng lớn, không có bờ bên kia, không thể được làm cho đầy bởi tất cả chúng sanh. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ hai của biển cả đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như biển cả là trú xứ của các loài hữu tình to lớn, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn là trú xứ của các bậc A-la-hán, là những bậc hữu tình vĩ đại, không còn cấu uế, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã đạt đến năng lực, đã thuần thục. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ ba của biển cả đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như biển cả được điểm tô bởi vô số đóa hoa sóng đa dạng và rộng lớn, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn được điểm tô bởi vô số đóa hoa minh và giải thoát đa dạng, rộng lớn, và thanh tịnh. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ tư của biển cả đã đi vào Niết Bàn. Tâu Đại vương, chính bốn đức tính này của biển cả đã đi vào Niết Bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘bhojanassa pañca guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame bhojanassa pañca guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, bhojanaṃ sabbasattānaṃ āyudhāraṇaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sacchikataṃ jarāmaraṇanāsanato āyudhāraṇaṃ. Ayaṃ, mahārāja, bhojanassa paṭhamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, bhojanaṃ sabbasattānaṃ balavaḍḍhanaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sacchikataṃ sabbasattānaṃ iddhibalavaḍḍhanaṃ. Ayaṃ, mahārāja, bhojanassa dutiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, bhojanaṃ sabbasattānaṃ vaṇṇajananaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sacchikataṃ sabbasattānaṃ guṇavaṇṇajananaṃ. Ayaṃ, mahārāja, bhojanassa tatiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, bhojanaṃ sabbasattānaṃ darathavūpasamanaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sacchikataṃ sabbasattānaṃ sabbakilesadarathavūpasamanaṃ. Ayaṃ, mahārāja, bhojanassa catuttho guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, bhojanaṃ sabbasattānaṃ jighacchādubbalyapaṭivinodanaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sacchikataṃ sabbasattānaṃ sabbadukkhajighacchādubbalyapaṭivinodanaṃ. Ayaṃ, mahārāja, bhojanassa pañcamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Ime kho, mahārāja, bhojanassa pañca guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
“Venerable Nāgasena, as to what you said, ‘five qualities of food are found in Nibbāna,’ what are these five qualities of food that are found in Nibbāna?” “Just as, Your Majesty, food sustains the life of all beings, so too, Your Majesty, Nibbāna, when realized, sustains life by destroying aging and death. This, Your Majesty, is the first quality of food found in Nibbāna. Furthermore, Your Majesty, food increases the strength of all beings; so too, Your Majesty, Nibbāna, when realized, increases the psychic power and strength of all beings. This, Your Majesty, is the second quality of food found in Nibbāna. Moreover, Your Majesty, food generates beauty in all beings; so too, Your Majesty, Nibbāna, when realized, generates the beauty of virtues in all beings. This, Your Majesty, is the third quality of food found in Nibbāna. Additionally, Your Majesty, food alleviates the distress of all beings; so too, Your Majesty, Nibbāna, when realized, pacifies all the distress of the defilements in all beings. This, Your Majesty, is the fourth quality of food found in Nibbāna. Finally, Your Majesty, food dispels the hunger and weakness of all beings; so too, Your Majesty, Nibbāna, when realized, dispels all suffering, hunger, and weakness. This, Your Majesty, is the fifth quality of food found in Nibbāna. These, Your Majesty, are the five qualities of food found in Nibbāna.”
“Bạch ngài Nāgasena, điều ngài nói rằng: ‘Năm đức tính của vật thực đã đi vào Niết Bàn,’ vậy năm đức tính nào của vật thực đã đi vào Niết Bàn?” “Tâu Đại vương, ví như vật thực là sự duy trì mạng sống của tất cả chúng sanh, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn khi được chứng ngộ là sự duy trì mạng sống do sự diệt trừ già và chết. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ nhất của vật thực đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như vật thực làm tăng trưởng sức mạnh cho tất cả chúng sanh, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn khi được chứng ngộ làm tăng trưởng thần thông lực cho tất cả chúng sanh. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ hai của vật thực đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như vật thực làm phát sanh dung sắc cho tất cả chúng sanh, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn khi được chứng ngộ làm phát sanh dung sắc của đức hạnh cho tất cả chúng sanh. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ ba của vật thực đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như vật thực làm lắng dịu sự phiền muộn cho tất cả chúng sanh, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn khi được chứng ngộ làm lắng dịu tất cả sự phiền muộn của phiền não cho tất cả chúng sanh. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ tư của vật thực đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như vật thực xua tan sự đói khát và yếu đuối cho tất cả chúng sanh, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn khi được chứng ngộ xua tan sự đói khát và yếu đuối của tất cả khổ đau cho tất cả chúng sanh. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ năm của vật thực đã đi vào Niết Bàn. Tâu Đại vương, chính năm đức tính này của vật thực đã đi vào Niết Bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘ākāsassa dasa guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame ākāsassa dasa guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, ākāso na jāyati, na jīyati, na mīyati, na cavati, na uppajjati, duppasaho, acorāharaṇo, anissito, vihagagamano, nirāvaraṇo, ananto. Evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ na jāyati, na jīyati, na mīyati, na cavati, na uppajjati, duppasahaṃ, acorāharaṇaṃ, anissitaṃ, ariyagamanaṃ, nirāvaraṇaṃ, anantaṃ. Ime kho, mahārāja, ākāsassa dasa guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
“Venerable Nāgasena, as to what you said, ‘ten qualities of space are found in Nibbāna,’ what are these ten qualities of space that are found in Nibbāna?” “Just as, Your Majesty, space is not born, does not age, does not die, does not pass away, does not arise, is hard to assail, cannot be stolen, is unsupported, is the path of birds, is unobstructed, and is boundless; so too, Your Majesty, Nibbāna is not born, does not age, does not die, does not pass away, does not arise, is hard to assail, cannot be stolen, is unsupported, is the path of the noble ones, is unobstructed, and is boundless. These, Your Majesty, are the ten qualities of space that are found in Nibbāna.”
“Bạch ngài Nāgasena, điều ngài nói rằng: ‘Mười đức tính của hư không đã đi vào Niết Bàn,’ vậy mười đức tính nào của hư không đã đi vào Niết Bàn?” “Tâu Đại vương, ví như hư không thì không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi sanh, khó bị xâm hại, không thể bị trộm cắp, không nương tựa, là đường đi của loài chim, không chướng ngại, và vô tận. Cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn thì không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi sanh, khó bị xâm hại, không thể bị trộm cắp, không nương tựa, là đường đi của bậc Thánh, không chướng ngại, và vô tận. Tâu Đại vương, chính mười đức tính này của hư không đã đi vào Niết Bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, maṇiratanaṃ kāmadadaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ kāmadadaṃ. Ayaṃ, mahārāja, maṇiratanassa paṭhamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, maṇiratanaṃ hāsakaraṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ hāsakaraṃ. Ayaṃ, mahārāja, maṇiratanassa dutiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, maṇiratanaṃ ujjotattakaraṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ ujjotattakaraṃ †. Ayaṃ, mahārāja, maṇiratanassa tatiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Ime kho, mahārāja, maṇiratanassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
“Venerable Nāgasena, as to what you said, ‘three qualities of a wish-fulfilling gem are found in Nibbāna,’ what are these three qualities of a wish-fulfilling gem that are found in Nibbāna?” “Just as, Your Majesty, a wish-fulfilling gem grants wishes, so too, Your Majesty, Nibbāna grants wishes. This, Your Majesty, is the first quality of a wish-fulfilling gem found in Nibbāna. Furthermore, Your Majesty, a wish-fulfilling gem causes delight; so too, Your Majesty, Nibbāna causes delight. This, Your Majesty, is the second quality of a wish-fulfilling gem found in Nibbāna. Moreover, Your Majesty, a wish-fulfilling gem brings illumination; so too, Your Majesty, Nibbāna brings illumination. This, Your Majesty, is the third quality of a wish-fulfilling gem found in Nibbāna. These, Your Majesty, are the three qualities of a wish-fulfilling gem that are found in Nibbāna.”
“Bạch ngài Nāgasena, điều ngài nói rằng: ‘Ba đức tính của ngọc báu đã đi vào Niết Bàn,’ vậy ba đức tính nào của ngọc báu đã đi vào Niết Bàn?” “Tâu Đại vương, ví như ngọc báu thì ban cho các điều mong muốn, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn cũng ban cho các điều mong muốn. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ nhất của ngọc báu đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như ngọc báu thì tạo ra sự hoan hỷ, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn cũng tạo ra sự hoan hỷ. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ hai của ngọc báu đã đi vào Niết Bàn. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như ngọc báu thì tạo ra sự sáng chói, cũng vậy, tâu Đại vương, Niết Bàn cũng tạo ra sự sáng chói. Tâu Đại vương, đây là đức tính thứ ba của ngọc báu đã đi vào Niết Bàn. Tâu Đại vương, chính ba đức tính này của ngọc báu đã đi vào Niết Bàn.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, lohitacandanaṃ dullabhaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ dullabhaṃ. Ayaṃ, mahārāja, lohitacandanassa paṭhamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, lohitacandanaṃ asamasugandhaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ asamasugandhaṃ. Ayaṃ, mahārāja, lohitacandanassa dutiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, lohitacandanaṃ sajjanapasatthaṃ †, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ ariyasajjanapasatthaṃ. Ayaṃ, mahārāja, lohitacandanassa tatiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Ime kho, mahārāja, lohitacandanassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
“Venerable Nāgasena, as to what you said, ‘three qualities of red sandalwood are found in Nibbāna,’ what are these three qualities of red sandalwood that are found in Nibbāna?” “Just as, Your Majesty, red sandalwood is rare, so too, Your Majesty, Nibbāna is rare. This, Your Majesty, is the first quality of red sandalwood found in Nibbāna. Furthermore, Your Majesty, red sandalwood has an unequalled fragrance; so too, Your Majesty, Nibbāna has an unequalled fragrance. This, Your Majesty, is the second quality of red sandalwood found in Nibbāna. Moreover, Your Majesty, red sandalwood is praised by good people; so too, Your Majesty, Nibbāna is praised by the noble and good. This, Your Majesty, is the third quality of red sandalwood found in Nibbāna. These, Your Majesty, are the three qualities of red sandalwood that are found in Nibbāna.”
– Tâu Đại đức Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Ba phẩm chất của gỗ chiên-đàn đỏ đã đi vào trong Nibbāna.’ Vậy ba phẩm chất nào của gỗ chiên-đàn đỏ đã đi vào trong Nibbāna? – Tâu Đại vương, ví như gỗ chiên-đàn đỏ là khó tìm được, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna là khó tìm được. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ nhất của gỗ chiên-đàn đỏ đã đi vào trong Nibbāna. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như gỗ chiên-đàn đỏ có hương thơm không gì sánh bằng, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna có hương thơm không gì sánh bằng. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ nhì của gỗ chiên-đàn đỏ đã đi vào trong Nibbāna. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như gỗ chiên-đàn đỏ được người tốt tán dương, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna được các bậc Thánh nhân, người tốt tán dương. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ ba của gỗ chiên-đàn đỏ đã đi vào trong Nibbāna. Tâu Đại vương, chính ba phẩm chất này của gỗ chiên-đàn đỏ đã đi vào trong Nibbāna.
‘‘Bhante nāgasena, ‘sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, sappimaṇḍo vaṇṇasampanno, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ guṇavaṇṇasampannaṃ. Ayaṃ, mahārāja, sappimaṇḍassa paṭhamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, sappimaṇḍo gandhasampanno, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sīlagandhasampannaṃ. Ayaṃ, mahārāja, sappimaṇḍassa dutiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, sappimaṇḍo rasasampanno, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ rasasampannaṃ. Ayaṃ, mahārāja, sappimaṇḍassa tatiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Ime kho, mahārāja, sappimaṇḍassa tayo guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti.
“Venerable Nāgasena, you have said, ‘Three qualities of ghee are found in Nibbāna.’ What are these three qualities of ghee that are found in Nibbāna?” “Just as, great king, ghee is endowed with color, so too, great king, is Nibbāna endowed with the color of virtues. This, great king, is the first quality of ghee found in Nibbāna. Furthermore, great king, just as ghee is endowed with fragrance, so too, great king, is Nibbāna endowed with the fragrance of morality. This, great king, is the second quality of ghee found in Nibbāna. Furthermore, great king, just as ghee is endowed with taste, so too, great king, is Nibbāna endowed with the taste of liberation. This, great king, is the third quality of ghee found in Nibbāna. These, great king, are the three qualities of ghee found in Nibbāna.”
– Tâu Đại đức Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Ba phẩm chất của bơ lỏng đã đi vào trong Nibbāna.’ Vậy ba phẩm chất nào của bơ lỏng đã đi vào trong Nibbāna? – Tâu Đại vương, ví như bơ lỏng có màu sắc đẹp, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna có màu sắc của các đức hạnh. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ nhất của bơ lỏng đã đi vào trong Nibbāna. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như bơ lỏng có hương thơm, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna có hương thơm của giới hạnh. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ nhì của bơ lỏng đã đi vào trong Nibbāna. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như bơ lỏng có vị ngon, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna có vị ngon. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ ba của bơ lỏng đã đi vào trong Nibbāna. Tâu Đại vương, chính ba phẩm chất này của bơ lỏng đã đi vào trong Nibbāna.
‘‘Bhante nāgasena, ‘girisikharassa pañca guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’ti yaṃ vadesi, katame girisikharassa pañca guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti? ‘‘Yathā, mahārāja, girisikharaṃ accuggataṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ accugataṃ. Ayaṃ, mahārāja, girisikharassa paṭhamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, girisikharaṃ acalaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ acalaṃ. Ayaṃ, mahārāja, girisikharassa dutiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, girisikharaṃ duradhirohaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ duradhirohaṃ sabbakilesānaṃ. Ayaṃ, mahārāja, girisikharassa tatiyo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, girisikharaṃ sabbabījānaṃ avirūhanaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ sabbakilesānaṃ avirūhanaṃ. Ayaṃ, mahārāja, girisikharassa catuttho guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Puna caparaṃ, mahārāja, girisikharaṃ anunayappaṭighavippamuttaṃ, evameva kho, mahārāja, nibbānaṃ anunayappaṭighavippamuttaṃ. Ayaṃ, mahārāja, girisikharassa pañcamo guṇo nibbānaṃ anupaviṭṭho. Ime kho, mahārāja, girisikharassa pañca guṇā nibbānaṃ anupaviṭṭhā’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Venerable Nāgasena, you have said, ‘Five qualities of a mountain peak are found in Nibbāna.’ What are these five qualities of a mountain peak that are found in Nibbāna?” “Just as, great king, a mountain peak is exceedingly high, so too, great king, is Nibbāna exceedingly high. This, great king, is the first quality of a mountain peak found in Nibbāna. Furthermore, great king, a mountain peak is immovable, so too, great king, is Nibbāna immovable. This, great king, is the second quality of a mountain peak found in Nibbāna. Furthermore, great king, a mountain peak is difficult to ascend, so too, great king, is Nibbāna difficult for all defilements to ascend. This, great king, is the third quality of a mountain peak found in Nibbāna. Furthermore, great king, on a mountain peak no seeds can sprout, so too, great king, in Nibbāna no defilements can sprout. This, great king, is the fourth quality of a mountain peak found in Nibbāna. Furthermore, great king, a mountain peak is free from attachment and aversion, so too, great king, is Nibbāna free from attachment and aversion. This, great king, is the fifth quality of a mountain peak found in Nibbāna. These, great king, are the five qualities of a mountain peak found in Nibbāna.” “It is well, Venerable Nāgasena. I accept it just so.”
– Tâu Đại đức Nāgasena, ngài đã nói rằng: ‘Năm phẩm chất của đỉnh núi đã đi vào trong Nibbāna.’ Vậy năm phẩm chất nào của đỉnh núi đã đi vào trong Nibbāna? – Tâu Đại vương, ví như đỉnh núi là rất cao, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna là rất cao. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ nhất của đỉnh núi đã đi vào trong Nibbāna. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như đỉnh núi là bất động, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna là bất động. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ nhì của đỉnh núi đã đi vào trong Nibbāna. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như đỉnh núi là khó trèo lên, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna là khó trèo lên đối với tất cả các phiền não. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ ba của đỉnh núi đã đi vào trong Nibbāna. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như đỉnh núi là nơi không thể nảy mầm đối với tất cả các hạt giống, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna là nơi không thể nảy mầm đối với tất cả các phiền não. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ tư của đỉnh núi đã đi vào trong Nibbāna. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như đỉnh núi được giải thoát khỏi sự ưa thích và ghét bỏ, cũng vậy, tâu Đại vương, Nibbāna được giải thoát khỏi sự ưa thích và ghét bỏ. Tâu Đại vương, đây là phẩm chất thứ năm của đỉnh núi đã đi vào trong Nibbāna. Tâu Đại vương, chính năm phẩm chất này của đỉnh núi đã đi vào trong Nibbāna. – Hay lắm, tâu Đại đức Nāgasena, con xin tiếp nhận điều này đúng là như vậy.
Nibbānarūpasaṇṭhānapañho dasamo.
The Tenth Question on the Form and Appearance of Nibbāna.
Câu hỏi thứ mười về hình thể và tướng trạng của Nibbāna.