Bản dịch
MIL 6.3.7 — CÂU HỎI VỀ ĐIỀU KỲ DIỆU Ở BẢO THÁP
7. Cetiyapāṭihāriyapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có điều kỳ diệu ở bảo tháp của tất cả các vị đã viên tịch Niết Bàn, hay là của chỉ một số vị?”
“Tâu đại vương, có (điều kỳ diệu ở bảo tháp) của một số vị, không có của một số vị.”
“Thưa ngài, có (điều kỳ diệu ở bảo tháp) của những vị nào? Không có của những vị nào?”
“Tâu đại vương, do sự chú nguyện của một hạng nào đó trong ba hạng mà có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn. Của ba hạng nào?
Tâu đại vương, ở đây vị A-la-hán, vì lòng thương tưởng đến chư Thiên và loài người, ngay trong khi đang còn tồn tại chú nguyện rằng: ‘Hãy có thần thông ở bảo tháp tên như vầy.’ Do năng lực chú nguyện của vị ấy nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp. Như vậy, do năng lực chú nguyện của vị A-la-hán nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, vị Thiên nhân vì lòng thương tưởng đến loài người nên phô bày điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn (nghĩ rằng): ‘Do điều kỳ diệu này, Chánh Pháp sẽ được duy trì lâu dài, và loài người, được tịnh tín, sẽ tăng trưởng về thiện pháp.’ Như vậy, do sự chú nguyện của chư Thiên nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, người nữ hoặc là người nam, có đức tin, được tịnh tín, sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, đạt được tánh giác, sau khi suy nghĩ đúng đường lối, sau khi quyết định rồi đem vật thơm, hoặc tràng hoa, hoặc vải vóc, hoặc bất cứ vật gì để ở ngôi bảo tháp (nguyện rằng): ‘Hãy là có tên như vầy.’ Như vậy, do năng lực quyết định của loài người nên có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn. Tâu đại vương, do năng lực chú nguyện của một hạng nào đó trong ba hạng mà có điều kỳ diệu ở bảo tháp của vị đã viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, nếu không có sự chú nguyện của ba hạng ấy, thì không có điều kỳ diệu ở bảo tháp dầu là của bậc Lậu Tận, có sáu thắng trí, đã đạt đến năng lực của tâm. Tâu đại vương, thậm chí khi không có điều kỳ diệu, thì nên nhìn xem nết hạnh vô cùng trong sạch, nên tin cậy, nên đi đến kết luận, nên tin tưởng rằng: ‘Người con trai này của đức Phật đã khéo viên tịch Niết Bàn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về điều kỳ diệu ở bảo tháp là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. ‘‘Bhante nāgasena, sabbesaṃ parinibbutānaṃ cetiye pāṭihīraṃ hoti, udāhu ekaccānaṃ yeva hotī’’ti? ‘‘Ekaccānaṃ, mahārāja, hoti, ekaccānaṃ na hotī’’ti. ‘‘Katamesaṃ, bhante, hoti, katamesaṃ na hotī’’ti? ‘‘Tiṇṇannaṃ, mahārāja, aññatarassa adhiṭṭhānā parinibbutassa cetiye pāṭihīraṃ hoti. Katamesaṃ tiṇṇannaṃ? Idha, mahārāja, arahā devamanussānaṃ anukampāya tiṭṭhantova adhiṭṭhāti ‘evaṃnāma cetiye pāṭihīraṃ hotū’ti, tassa adhiṭṭhānavasena cetiye pāṭihīraṃ hoti, evaṃ arahato adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṃ hoti.
7. “Venerable Nāgasena, do miracles occur at the shrines of all who have attained final Nibbāna, or only at the shrines of some?” “At the shrines of some, great king, they occur; at the shrines of some, they do not.” “At whose shrines do they occur, venerable sir, and at whose do they not?” “A miracle occurs at the shrine of one who has attained final Nibbāna due to the resolve of one of three types of beings. Which three? Here, great king, an Arahant, out of compassion for gods and humans, resolves while still living: ‘Let a miracle of such a kind occur at the shrine.’ Due to that resolve, a miracle occurs at the shrine. Thus, due to the resolve of an Arahant, a miracle occurs at the shrine of one who has attained final Nibbāna.
7. “Tâu Đại đức Nāgasena, có phải sự mầu nhiệm xảy ra ở bảo tháp của tất cả các vị đã nhập Niết-bàn, hay chỉ xảy ra ở bảo tháp của một số vị thôi?” “Tâu Đại vương, ở một số vị thì có, ở một số vị thì không.” “Tâu Đại đức, ở bảo tháp của những vị nào thì có, và của những vị nào thì không?” “Tâu Đại vương, sự mầu nhiệm xảy ra ở bảo tháp của vị đã nhập Niết-bàn là do sự chú nguyện của một trong ba hạng người. Ba hạng người nào? Này Đại vương, ở đây, vị A-la-hán do lòng bi mẫn đối với chư thiên và nhân loại, ngay khi còn tại thế đã chú nguyện rằng: ‘Mong rằng sự mầu nhiệm như thế này sẽ xảy ra ở bảo tháp.’ Do năng lực chú nguyện của vị ấy mà sự mầu nhiệm xảy ra ở bảo tháp. Như vậy, do năng lực chú nguyện của vị A-la-hán mà sự mầu nhiệm xảy ra ở bảo tháp của vị đã nhập Niết-bàn.
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, devatā manussānaṃ anukampāya parinibbutassa cetiye pāṭihīraṃ dassenti ‘iminā pāṭihīrena saddhammo niccasampaggahito bhavissati, manussā ca pasannā kusalena abhivaḍḍhissantī’ti, evaṃ devatānaṃ adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṃ hoti.
“Furthermore, great king, deities, out of compassion for humans, display miracles at the shrine of one who has attained final Nibbāna, thinking: ‘Through this miracle, the true Dhamma will be constantly upheld, and humans, being inspired, will grow in what is wholesome.’ Thus, due to the resolve of deities, a miracle occurs at the shrine of one who has attained final Nibbāna.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, chư thiên do lòng bi mẫn đối với nhân loại, biểu hiện sự mầu nhiệm ở bảo tháp của vị đã nhập Niết-bàn với ý nghĩ rằng: ‘Nhờ sự mầu nhiệm này, Diệu pháp sẽ được thường xuyên xiển dương, và nhân loại sẽ hoan hỷ, tăng trưởng các điều thiện.’ Như vậy, do năng lực chú nguyện của chư thiên mà sự mầu nhiệm xảy ra ở bảo tháp của vị đã nhập Niết-bàn.
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, itthī vā puriso vā saddho pasanno paṇḍito byatto medhāvī buddhisampanno yoniso cintayitvā gandhaṃ vā mālaṃ vā dussaṃ vā aññataraṃ vā kiñci adhiṭṭhahitvā cetiye ukkhipati ‘evaṃnāma hotū’ti, tassapi adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṃ hoti, evaṃ manussānaṃ adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṃ hoti.
“Furthermore, great king, a woman or a man who is faithful, devout, wise, skilled, intelligent, and endowed with wisdom, having reflected wisely, makes a resolve and offers at a shrine incense, flowers, cloth, or some other thing, thinking: ‘May it be thus.’ Due to that person’s resolve also, a miracle occurs at the shrine of one who has attained final Nibbāna. Thus, due to the resolve of humans, a miracle occurs at the shrine of one who has attained final Nibbāna.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, một người nữ hay một người nam có tín tâm, hoan hỷ, là bậc trí, thông thái, sáng suốt, có đầy đủ trí tuệ, sau khi suy xét như lý, chú nguyện rồi dâng cúng lên bảo tháp hoặc hương, hoặc hoa, hoặc vải, hoặc một vật gì khác với ý nghĩ rằng: ‘Mong rằng sự việc sẽ được như thế này!’ Do năng lực chú nguyện của người ấy mà sự mầu nhiệm cũng xảy ra ở bảo tháp của vị đã nhập Niết-bàn. Như vậy, do năng lực chú nguyện của con người mà sự mầu nhiệm xảy ra ở bảo tháp của vị đã nhập Niết-bàn.
‘‘Imesaṃ kho, mahārāja, tiṇṇannaṃ aññatarassa adhiṭṭhānavasena parinibbutassa cetiye pāṭihīraṃ hoti.
“It is due to the resolve of one of these three types of beings, great king, that a miracle occurs at the shrine of one who has attained final Nibbāna.”
“Tâu Đại vương, chính do năng lực chú nguyện của một trong ba hạng người này mà sự mầu nhiệm xảy ra ở bảo tháp của vị đã nhập Niết-bàn.
‘‘Yadi, mahārāja, tesaṃ adhiṭṭhānaṃ na hoti, khīṇāsavassapi chaḷabhiññassa cetovasippattassa cetiye pāṭihīraṃ na hoti, asatipi, mahārāja, pāṭihīre caritaṃ disvā suparisuddhaṃ okappetabbaṃ niṭṭhaṃ gantabbaṃ saddahitabbaṃ ‘suparinibbuto ayaṃ buddhaputto’’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Great king, if there is no resolve from them, a miracle does not occur even at the shrine of one who has destroyed the corruptions, possesses the six higher knowledges, and has attained mastery of mind. Even in the absence of a miracle, great king, having seen the perfectly pure conduct, one should be confident, come to a conclusion, and have faith: ‘This son of the Buddha has completely attained Nibbāna.’” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it as you have stated.”
“Tâu Đại vương, nếu không có sự chú nguyện của họ, thì sự mầu nhiệm cũng không xảy ra ở bảo tháp của cả vị đã đoạn tận lậu hoặc, có sáu thắng trí, đã đạt đến tâm tự tại. Tâu Đại vương, dù không có sự mầu nhiệm, khi thấy được hạnh kiểm hoàn toàn trong sạch, người ta nên tin tưởng, nên đi đến kết luận, nên có đức tin rằng: ‘Vị Phật tử này đã khéo nhập Niết-bàn.’” “Lành thay, tâu Đại đức Nāgasena, con xin thọ nhận y như lời ngài dạy.”
Cetiyapāṭihāriyapañho sattamo.
The seventh question on miracles at shrines.
Câu hỏi về sự mầu nhiệm ở bảo tháp, chương thứ bảy.