Bản dịch
MIL 6.3.5 — CÂU HỎI VỀ GIẤC MƠ
5. Supinapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, những người nam và nữ ở thế gian này nhìn thấy giấc mơ, tốt đẹp, xấu xa, đã thấy trước đây, chưa thấy trước đây, đã làm trước đây, chưa làm trước đây, bình yên, có sự sợ hãi, ở xa, ở gần. Họ nhìn thấy nhiều loại, hàng ngàn hình dáng. Và cái gọi là giấc mơ ấy là cái gì? Và ai nhìn thấy điều này?”
“Tâu đại vương, cái gọi là giấc mơ ấy là điềm báo hiệu, là cái tiến đến gần lãnh vực của tâm. Tâu đại vương, sáu hạng này nhìn thấy giấc mơ: hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến gió, hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến mật, hạng nhìn thấy giấc mơ liên quan đến đờm, hạng nhìn thấy giấc mơ do chư Thiên đem lại, hạng nhìn thấy giấc mơ do đã được làm thường xuyên, hạng nhìn thấy giấc mơ do điềm báo hiệu. Tâu đại vương, ở đây nhìn thấy giấc mơ nào do điềm báo hiệu, thì chính cái ấy là thật, phần còn lại là giả.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, người nào nhìn thấy giấc mơ do điềm báo hiệu, có phải tâm của người ấy tự đi đến và tìm kiếm điềm báo hiệu ấy, hay là điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm, hay là cái nào khác đi đến và thông báo cho người ấy?”
“Tâu đại vương, không phải tâm của người ấy tự đi đến và xem xét điềm báo hiệu ấy, cũng không phải cái nào nào khác đi đến và thông báo cho người ấy. Khi ấy, chính điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm. Tâu đại vương, giống như tấm gương soi không tự đi đến nơi nào đó và xem xét cái bóng phản chiếu, cũng không phải cái nào khác đem cái bóng phản chiếu lại và áp vào tấm gương soi. Khi ấy, từ nơi nào đó cái bóng phản chiếu đi đến và lại gần lãnh vực của tấm gương soi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải tâm của người ấy tự đi đến và xem xét điềm báo hiệu ấy, cũng không phải cái nào khác đi đến và thông báo. Khi ấy, từ nơi nào đó điềm báo hiệu ấy tiến đến gần lãnh vực của tâm.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, tâm nào đó nhìn thấy giấc mơ, phải chăng tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi’?”
“Tâu đại vương, không phải là tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi.’ Trái lại, khi điềm báo hiệu được sanh lên, thì nó nói cho những cái khác. Sau đó, những cái ấy nói ra ý nghĩa.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy xin ngài chỉ cho thấy lý do.”
“Tâu đại vương, giống như các nốt ruồi, mụt nhọt, ghẻ lở xuất hiện ở cơ thể là đưa đến việc có lợi lộc hay không có lợi lộc, có danh tiếng hay không có danh tiếng, chê trách hay khen ngợi, an lạc hay khổ đau. Tâu đại vương, phải chăng các nốt ruồi, mụt nhọt, ghẻ lở sanh lên sau khi biết được rằng: ‘Chúng tôi sẽ tạo ra sự việc này’?”
“Thưa ngài, không đúng. Ở bất kỳ vị trí nào mà các mụt nhọt sanh lên, sau khi nhìn thấy các mụt nhọt ấy ở chỗ ấy, các nhà tướng số giải thích: ‘Kết quả sẽ là như vầy.’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế tâm nào đó nhìn thấy giấc mơ, không phải là tâm ấy biết được rằng: ‘Kết quả sẽ là như vầy, hoặc là bình yên hoặc là sợ hãi.’ Trái lại, khi điềm báo hiệu được sanh lên, thì nó nói cho những cái khác; sau đó, những cái ấy nói về ý nghĩa.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, người nào nhìn thấy giấc mơ, thì người ấy nhìn thấy trong lúc đang ngủ hay là nhìn thấy trong khi còn thức?”
“Tâu đại vương, người nào nhìn thấy giấc mơ, thì không phải người ấy nhìn thấy trong lúc đang ngủ, cũng không phải nhìn thấy trong khi còn thức, tuy nhiên nhìn thấy giấc mơ ở vào khoảng giữa của giai đoạn đang rơi vào trạng thái ngủ mơ màng nhưng chưa đạt đến luồng tâm hộ kiếp. Tâu đại vương, đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, thì tâm tiến đến luồng tâm hộ kiếp; tâm đã đi vào luồng tâm hộ kiếp thì không vận hành; tâm không vận hành thì không nhận biết an lạc hay khổ đau; trong khi không nhận thức thì không có giấc mơ, khi tâm đang được vận hành thì nhìn thấy giấc mơ.
Tâu đại vương, giống như ở nơi mờ mịt, tối tăm, không có ánh sáng, thì bóng phản chiếu không được nhìn thấy ở gương soi, dầu là vô cùng trong sạch. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi tâm đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, đã đi vào luồng tâm hộ kiếp, và đang được duy trì, thì tâm là không vận hành ở cơ thể; tâm không vận hành thì không nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, tấm gương soi là như thế nào thì cơ thể nên được xem xét như vậy. Sự tối tăm là như thế nào thì trạng thái ngủ mơ màng nên được xem xét như vậy. Ánh sáng là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như khi mặt trời bị che lại bởi băng giá thì ánh sáng không được nhìn thấy; tia sáng mặt trời tuy có hiện hữu nhưng không vận hành; khi tia sáng mặt trời không vận hành thì không có ánh sáng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, thì tâm đi vào luồng tâm hộ kiếp; tâm đã đi vào luồng tâm hộ kiếp thì không vận hành; tâm không vận hành thì không nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, mặt trời là như thế nào thì cơ thể nên được xem xét như vậy. Sự che lại bởi băng giá là như thế nào thì trạng thái ngủ mơ màng nên được xem xét như vậy. Tia sáng mặt trời là như thế nào thì tâm nên được xem xét như vậy.
BJT 5Tâu đại vương, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành trong hai trường hợp: Đối với người đã đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, đã đi vào luồng tâm hộ kiếp, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành; đối với người đã thể nhập thiền diệt, mặc dầu cơ thể đang hiện hữu nhưng tâm không vận hành. Tâu đại vương, đối với người đang tỉnh táo, tâm lao xao, mở ra, năng động, không cố định, điềm báo hiệu không tiến đến gần lãnh vực ở tâm của người có trạng thái như vậy. Tâu đại vương, giống như những ước muốn thầm kín xa lánh người nam cởi mở, năng động, không nghiêm chỉnh, không kín đáo. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nghĩa lý siêu tự nhiên không tiến đến gần lãnh vực của người đang tỉnh táo. Do đó, người đang tỉnh táo không nhìn thấy giấc mơ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như các thiện pháp dự phần vào giác ngộ không tiến đến gần lãnh vực là vị tỳ khưu có sự nuôi mạng bị sứt mẻ, không nết hạnh, có bạn ác, có giới tồi, biếng nhác, có sự tinh tấn thấp kém. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nghĩa lý siêu tự nhiên không tiến đến gần lãnh vực của người đang tỉnh táo.”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, có phải trạng thái ngủ mơ màng là có chặng đầu, chặng giữa, và chặng cuối?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Trạng thái ngủ mơ màng có chặng đầu, có chặng giữa, và có chặng cuối.”
“Chặng đầu là cái nào, chặng giữa là cái nào, và chặng cuối là cái nào?”
“Tâu đại vương, trạng thái nào là sự che đậy, sự bao bọc lại, sự yếu đuối của danh uẩn và sắc uẩn, là trạng thái trì trệ, không sẵn sàng cho hành động của thân; đây là chặng đầu của trạng thái ngủ mơ màng. Tâu đại vương, người nào có được giấc ngủ của con khỉ, ngủ mơ màng một cách lộn xộn (nửa ngủ nửa thức); đây là chặng giữa của trạng thái ngủ mơ màng. Chặng cuối là việc đi vào luồng tâm hộ kiếp. Tâu đại vương, người đã tiến đến gần chặng giữa, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, giống như người nào đó có sự thực hành về tiết chế, có tâm được định tĩnh, có pháp được bền vững, có sự sáng suốt không dao động, sau khi đi sâu vào khu rừng, nơi đã được dứt hẳn sự loạn động và tiếng động, rồi suy nghĩ về ý nghĩa vi tế, và ở nơi ấy, người ấy không rơi vào trạng thái ngủ mơ màng. Ở nơi ấy, được định tĩnh, có tâm chuyên nhất, người ấy thấu hiểu được ý nghĩa vi tế. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tỉnh táo, không đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, tiến đến gần giấc ngủ của con khỉ, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ. Tâu đại vương, sự loạn động và tiếng động là như thế nào thì sự tỉnh táo nên được xem xét như vậy. Khu rừng tách biệt là như thế nào thì việc có được giấc ngủ của con khỉ nên được xem xét như vậy. ‘Người ấy sau khi từ bỏ sự loạn động và tiếng động, sau khi tránh né trạng thái ngủ mơ màng, có được trạng thái trầm tĩnh, thì thấu hiểu được ý nghĩa vi tế’ là như thế nào thì ‘người tỉnh táo, không đạt đến trạng thái ngủ mơ màng, có được giấc ngủ của con khỉ, thì nhìn thấy giấc mơ’ là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về giấc mơ là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. ‘‘Bhante nāgasena, imasmiṃ loke naranāriyo supinaṃ passanti kalyāṇampi pāpakampi, diṭṭhapubbampi adiṭṭhapubbampi, katapubbampi akatapubbampi, khemampi sabhayampi, dūrepi santikepi, bahuvidhānipi anekavaṇṇasahassāni dissanti, kiñcetaṃ supinaṃ nāma, ko cetaṃ passatī’’ti? ‘‘Nimittametaṃ, mahārāja, supinaṃ nāma, yaṃ cittassa āpāta † mupagacchati. Chayime, mahārāja, supinaṃ passanti, vātiko supinaṃ passati, pittiko supinaṃ passati, semhiko supinaṃ passati, devatūpasaṃhārato supinaṃ passati, samudāciṇṇato supinaṃ passati, pubbanimittato supinaṃ passati, tatra, mahārāja, yaṃ pubbanimittato supinaṃ passati, taṃ yeva saccaṃ, avasesaṃ micchā’’ti.
5. “Venerable Nāgasena, in this world, men and women see dreams—good and bad, seen before and not seen before, done before and not done before, safe and fearful, distant and near; and many thousands of varied appearances are seen. What is this thing called a dream, and who sees it?” “It is a sign, great king, called a dream, which enters the mind’s range. Six kinds of people, great king, see dreams: one with a wind disorder sees dreams, one with a bile disorder sees dreams, one with a phlegm disorder sees dreams, one sees dreams through the influence of deities, one through accumulated habit, and one as a premonition. Among these, great king, only the dream seen as a premonition is true; the rest are false.”
5. “Bạch Đại đức Nāgasena, ở trong thế gian này, nam và nữ thấy các giấc mộng, tốt lẫn xấu, đã từng thấy lẫn chưa từng thấy, đã từng làm lẫn chưa từng làm, an ổn lẫn có sự nguy hiểm, ở xa lẫn ở gần, có nhiều loại, có hàng ngàn hình sắc khác nhau được thấy. Cái gọi là giấc mộng này là gì? Và ai là người thấy nó?” “Tâu Đại vương, cái gọi là giấc mộng này là một điềm báo, là cái đi vào phạm vi của tâm. Tâu Đại vương, sáu hạng người này thấy giấc mộng: người bị bệnh phong thấy giấc mộng, người bị bệnh mật thấy giấc mộng, người bị bệnh đàm thấy giấc mộng, thấy giấc mộng do chư thiên mang đến, thấy giấc mộng do sự quen thuộc, thấy giấc mộng do điềm báo trước. Tâu Đại vương, trong số ấy, giấc mộng mà người ta thấy do điềm báo trước, chỉ có cái ấy là thật, phần còn lại là sai lầm.”
‘‘Bhante nāgasena, yo pubbanimittato supinaṃ passati, kiṃ tassa cittaṃ sayaṃ gantvā taṃ nimittaṃ vicināti, taṃ vā nimittaṃ cittassa āpātamupagacchati, añño vā āgantvā tassa ārocetī’’ti? ‘‘Na, mahārāja, tassa cittaṃ sayaṃ gantvā taṃ nimittaṃ vicināti, nāpi añño koci āgantvā tassa āroceti, atha kho taṃ yeva nimittaṃ cittassa āpātamupagacchati. Yathā, mahārāja, ādāso na sayaṃ kuhiñci gantvā chāyaṃ vicināti, nāpi añño koci chāyaṃ ānetvā ādāsaṃ āropeti †, atha kho yato kutoci chāyā āgantvā ādāsassa āpātamupagacchati, evameva kho, mahārāja, na tassa cittaṃ sayaṃ gantvā taṃ nimittaṃ vicināti, nāpi añño koci āgantvā āroceti, atha kho yato kutoci nimittaṃ āgantvā cittassa āpātamupagacchatī’’ti.
“Venerable Nāgasena, when someone sees a dream as a premonition, does their mind itself go and investigate that sign, or does that sign come into the mind’s range, or does someone else come and announce it to them?” “Great king, their mind does not itself go and investigate that sign, nor does anyone else come and announce it to them. Rather, that very sign comes into the mind’s range. Just as, great king, a mirror does not itself go anywhere to seek a reflection, nor does anyone else bring a reflection and place it on the mirror, but a reflection, coming from somewhere, enters the mirror’s range—so too, great king, the mind does not itself go to investigate the sign, nor does anyone else come and announce it, but the sign, coming from somewhere, enters the mind’s range.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, đối với người thấy giấc mộng do điềm báo trước, có phải tâm của vị ấy tự mình đi đến để tìm kiếm điềm báo ấy, hay điềm báo ấy đi vào phạm vi của tâm, hay có người khác đến và nói cho vị ấy biết?” “Tâu Đại vương, không phải tâm của vị ấy tự mình đi đến để tìm kiếm điềm báo ấy, cũng không có người nào khác đến và nói cho vị ấy biết, mà chính điềm báo ấy đi vào phạm vi của tâm. Tâu Đại vương, ví như tấm gương không tự mình đi đến nơi nào để tìm kiếm hình bóng, cũng không có người nào khác mang hình bóng đến rồi đặt lên tấm gương, mà hình bóng từ một nơi nào đó đến và đi vào phạm vi của tấm gương. Tâu Đại vương, cũng giống như thế, không phải tâm của vị ấy tự mình đi đến để tìm kiếm điềm báo ấy, cũng không có người nào khác đến và nói cho vị ấy biết, mà điềm báo từ một nơi nào đó đến và đi vào phạm vi của tâm.”
‘‘Bhante nāgasena, yaṃ taṃ cittaṃ supinaṃ passati, api nu taṃ cittaṃ jānāti ‘evaṃ nāma vipāko bhavissati khemaṃ vā bhayaṃ vā’ti? ‘‘Na hi, mahārāja, taṃ cittaṃ jānāti ‘evaṃvipāko bhavissati khemaṃ vā bhayaṃ vā’ti, nimitte pana uppanne aññesaṃ katheti, tato te atthaṃ kathentī’’ti.
“Venerable Nāgasena, when the mind sees a dream, does that mind know, ‘Such and such will be the result, whether safe or fearful’?” “No, great king, that mind does not know, ‘Such and such will be the result, whether safe or fearful.’ But when a sign arises, it communicates it to others, and then they explain the meaning.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, cái tâm thấy giấc mộng ấy, liệu tâm ấy có biết rằng: ‘Kết quả như thế này sẽ xảy ra, hoặc an ổn hoặc nguy hiểm’ không?” “Tâu Đại vương, không, tâm ấy không biết rằng: ‘Kết quả như thế này sẽ xảy ra, hoặc an ổn hoặc nguy hiểm.’ Nhưng khi điềm báo đã khởi sanh, vị ấy nói lại cho những người khác, rồi sau đó họ giải thích ý nghĩa.”
‘‘Iṅgha, bhante nāgasena, kāraṇaṃ me dassehī’’ti. ‘‘Yathā, mahārāja, sarīre tilakā pīḷakā daddūni uṭṭhahanti lābhāya vā alābhāya vā, yasāya vā ayasāya vā, nindāya vā pasaṃsāya vā, sukhāya vā dukkhāya vā, api nu tā, mahārāja, pīḷakā jānitvā uppajjanti ‘imaṃ nāma mayaṃ atthaṃ nipphādessāmā’’’ti? ‘‘Na hi, bhante, yādise tā okāse pīḷakā sambhavanti, tattha tā pīḷakā disvā nemittakā byākaronti ‘evaṃ nāma vipāko bhavissatī’’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, yaṃ taṃ cittaṃ supinaṃ passati, na taṃ cittaṃ jānāti ‘evaṃ nāma vipāko bhavissati khemaṃ vā bhayaṃ vā’ti, nimitte pana uppanne aññesaṃ katheti, tato te atthaṃ kathentī’’ti.
“Please, Venerable Nāgasena, show me the reason.” “Just as, great king, moles, boils, and skin eruptions arise on the body—whether for gain or loss, for fame or disgrace, for blame or praise, for pleasure or pain—do those boils, great king, arise knowing, ‘We will produce such and such a result’?” “No, venerable sir. When boils appear in such places, those who read signs declare, ‘Such and such a result will occur.’ ” “Just so, great king, the mind that sees a dream does not know, ‘Such and such a result will occur, whether safety or danger.’ But when a sign arises, it speaks to others, and then they explain the meaning.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, xin hãy chỉ cho con một nguyên nhân.” “Tâu Đại vương, ví như ở trên thân, các nốt ruồi, mụn nhọt, bệnh hắc lào nổi lên để báo hiệu sự được lợi hay không được lợi, danh thơm hay tiếng xấu, chê bai hay tán dương, an lạc hay khổ đau. Tâu Đại vương, liệu những mụn nhọt ấy có khởi sanh trong khi biết rằng: ‘Chúng ta sẽ hoàn thành ý nghĩa như thế này’ không?” “Bạch Đại đức, không phải vậy. Ở nơi nào mà các mụn nhọt ấy hiện ra, các nhà tiên tri sau khi thấy các mụn nhọt ở nơi ấy liền giải đoán rằng: ‘Kết quả như thế này sẽ xảy ra.’” “Tâu Đại vương, cũng giống như thế, cái tâm thấy giấc mộng ấy không biết rằng: ‘Kết quả như thế này sẽ xảy ra, hoặc an ổn hoặc nguy hiểm.’ Nhưng khi điềm báo đã khởi sanh, vị ấy nói lại cho những người khác, rồi sau đó họ giải thích ý nghĩa.”
‘‘Bhante nāgasena, yo supinaṃ passati, so niddāyanto, udāhu jāgaranto † passatī’’ti? ‘‘Yo so, mahārāja, supinaṃ passati, na so niddāyanto passati, nāpi jāgaranto passati. Api ca okkante middhe asampatte bhavaṅge etthantare supinaṃ passati. Middhasamārūḷhassa, mahārāja, cittaṃ bhavaṅgagataṃ hoti, bhavaṅgagataṃ cittaṃ nappavattati, appavattaṃ cittaṃ sukhadukkhaṃ nappajānāti, appaṭivijānantassa supino na hoti, pavattamāne citte supinaṃ passati.
“Venerable Nāgasena, when one sees a dream, does one see it while asleep or while awake?” “Great king, one who sees a dream sees it neither while sleeping nor while awake. Rather, one sees a dream in the interval when drowsiness has set in but before reaching the life-continuum. For, great king, when one is overcome by drowsiness, the mind goes to the life-continuum. The mind that has gone to the life-continuum does not function, and a non-functioning mind does not discern pleasure or pain. For one who does not discern, there is no dream. It is only when the mind is active that one sees a dream.”
– Thưa Đại đức Nāgasena, người nằm mộng là thấy mộng trong khi đang ngủ hay trong khi đang thức? – Tâu Đại vương, người nằm mộng không phải thấy mộng trong khi đang ngủ, cũng không phải trong khi đang thức. Mà là, khi sự buồn ngủ đã khởi lên, nhưng chưa đi vào trạng thái hữu phần (bhavaṅga), người ấy thấy mộng trong khoảng thời gian đó. Tâu Đại vương, đối với người bị buồn ngủ xâm chiếm, tâm đã đi vào trạng thái hữu phần. Tâm đã đi vào trạng thái hữu phần thì không hoạt động. Tâm không hoạt động thì không biết được khổ và lạc. Đối với người không nhận biết (khổ và lạc) thì không có giấc mộng. Khi tâm đang hoạt động thì người ấy thấy mộng.
‘‘Yathā, mahārāja, timire andhakāre appabhāse suparisuddhepi ādāse chāyā na dissati, evameva kho, mahārāja, middhasamārūḷhe citte bhavaṅgagate tiṭṭhamānepi sarīre cittaṃ appavattaṃ hoti, appavatte citte supinaṃ na passati. Yathā, mahārāja, ādāso, evaṃ sarīraṃ daṭṭhabbaṃ; yathā andhakāro, evaṃ middhaṃ daṭṭhabbaṃ; yathā āloko, evaṃ cittaṃ daṭṭhabbaṃ.
“Just as, great king, in darkness, in gloom, without light, a reflection is not seen even in a perfectly pure mirror, so too, great king, when one is overcome by drowsiness and the mind has gone to the life-continuum, even while the body remains, the mind is not active. When the mind is not active, one does not see a dream. Great king, the body should be regarded as the mirror; drowsiness should be regarded as the darkness; the mind should be regarded as the light.”
– Tâu Đại vương, ví như trong bóng tối, trong nơi u ám không có ánh sáng, dù tấm gương có trong sạch đến đâu thì hình bóng cũng không hiện ra. Cũng vậy, tâu Đại vương, khi tâm bị sự buồn ngủ xâm chiếm, đã đi vào trạng thái hữu phần, thì dù thân thể vẫn còn đó, tâm vẫn không hoạt động. Khi tâm không hoạt động thì người ấy không thấy mộng. Tâu Đại vương, nên hiểu thân thể ví như tấm gương; nên hiểu sự buồn ngủ ví như bóng tối; nên hiểu tâm ví như ánh sáng.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, mahikotthaṭassa sūriyassa pabhā na dissati santā yeva sūriyarasmi appavattā hoti, appavattāya sūriyarasmiyā āloko na hoti, evameva kho, mahārāja, middhasamārūḷhassa cittaṃ bhavaṅgagataṃ hoti, bhavaṅgagataṃ cittaṃ nappavattati, appavatte citte supinaṃ na passati. Yathā, mahārāja, sūriyo, evaṃ sarīraṃ daṭṭhabbaṃ; yathā mahikottharaṇaṃ, evaṃ middhaṃ daṭṭhabbaṃ; yathā sūriyarasmi, evaṃ cittaṃ daṭṭhabbaṃ.
“Or just as, great king, when the sun is covered by mist, its radiance is not seen; the sun’s rays, though present, are not active, and because the sun’s rays are not active, there is no light. So too, great king, for one overcome by drowsiness, the mind has gone to the life-continuum. The mind that has gone to the life-continuum does not function, and when the mind does not function, one does not see a dream. Great king, the body should be regarded as the sun; the covering of mist should be regarded as drowsiness; the sun’s rays should be regarded as the mind.”
– Lại nữa, tâu Đại vương, ví như ánh sáng của mặt trời bị sương mù bao phủ thì không được nhìn thấy, dù tia nắng mặt trời vẫn hiện hữu nhưng không hoạt động. Khi tia nắng mặt trời không hoạt động thì không có ánh sáng. Cũng vậy, tâu Đại vương, đối với người bị buồn ngủ xâm chiếm, tâm đã đi vào trạng thái hữu phần. Tâm đã đi vào trạng thái hữu phần thì không hoạt động. Khi tâm không hoạt động thì người ấy không thấy mộng. Tâu Đại vương, nên hiểu thân thể ví như mặt trời; nên hiểu sự bao phủ của sương mù ví như sự buồn ngủ; nên hiểu tia nắng mặt trời ví như tâm.
‘‘Dvinnaṃ, mahārāja, santepi sarīre cittaṃ appavattaṃ hoti, middhasamārūḷhassa bhavaṅgagatassa santepi sarīre cittaṃ appavattaṃ hoti, nirodhasamāpannassa santepi sarīre cittaṃ appavattaṃ hoti, jāgarantassa, mahārāja, cittaṃ lolaṃ hoti vivaṭaṃ pākaṭaṃ anibaddhaṃ, evarūpassa citte nimittaṃ āpātaṃ na upeti. Yathā, mahārāja, purisaṃ vivaṭaṃ pākaṭaṃ akiriyaṃ arahassaṃ rahassakāmā parivajjenti, evameva kho, mahārāja, jāgarantassa dibbo attho āpātaṃ na upeti, tasmā jāgaranto supinaṃ na passati. Yathā vā pana, mahārāja, bhikkhuṃ bhinnājīvaṃ anācāraṃ pāpamittaṃ dussīlaṃ kusītaṃ hīnavīriyaṃ kusalā bodhipakkhiyā dhammā āpātaṃ na upenti, evameva kho, mahārāja, jāgarantassa dibbo attho āpātaṃ na upeti, tasmā jāgaranto supinaṃ na passatī’’ti.
“Great king, in two cases, even though the body is present, the mind is not active: for one who is overcome by drowsiness and has gone to the life-continuum, and for one who has attained cessation. But, great king, for one who is awake, the mind is restless, open, evident, and unconfined. For a mind of such a kind, a sign does not come into range. Just as, great king, people who desire secrecy avoid a man who is open, evident, of bad conduct, and unable to keep a secret, so too, great king, for one who is awake, a divine matter does not come into range—that is why one who is awake does not see a dream. Or just as, great king, the wholesome qualities pertaining to enlightenment do not come into range for a monk who is of broken livelihood, of misconduct, with bad friends, unvirtuous, lazy, and lacking energy, so too, great king, for one who is awake, a divine matter does not come into range—that is why one who is awake does not see a dream.”
– Tâu Đại vương, có hai hạng người, dù thân thể vẫn còn đó nhưng tâm không hoạt động: người bị buồn ngủ xâm chiếm, đã đi vào trạng thái hữu phần, dù thân thể vẫn còn đó nhưng tâm không hoạt động; và người đã nhập Diệt tận định (nirodhasamāpatti), dù thân thể vẫn còn đó nhưng tâm không hoạt động. Tâu Đại vương, tâm của người đang thức thì dao động, rộng mở, hiển lộ, không bị ràng buộc. Đối với tâm có trạng thái như vậy, các tướng (nimitta) không đi vào phạm vi của nó. Tâu Đại vương, ví như những người muốn giữ bí mật thường tránh xa người rộng mở, hiển lộ, không có cung cách, không thể giữ kín điều bí mật. Cũng vậy, tâu Đại vương, một sự việc thuộc cõi trời không đi vào phạm vi của người đang thức. Do đó, người đang thức không thấy mộng. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như các pháp thiện thuộc Bồ-đề phần (bodhipakkhiyā dhammā) không đi vào phạm vi của một vị tỳ khưu có sinh kế bất chính, hạnh kiểm xấu xa, bạn bè xấu ác, giới hạnh buông thả, lười biếng, thiếu tinh tấn. Cũng vậy, tâu Đại vương, một sự việc thuộc cõi trời không đi vào phạm vi của người đang thức. Do đó, người đang thức không thấy mộng.
‘‘Bhante nāgasena, atthi middhassa ādimajjhapariyosāna’’nti? ‘‘Āma, mahārāja, atthi middhassa ādimajjhapariyosāna’’nti. ‘‘Katamaṃ ādi, katamaṃ majjhaṃ, katamaṃ pariyosāna’’nti? ‘‘Yo, mahārāja, kāyassa onāho pariyonāho dubbalyaṃ mandatā akammaññatā kāyassa, ayaṃ middhassa ādi; yo, mahārāja, kapiniddāpareto vokiṇṇakaṃ jaggati †, idaṃ middhassa majjhaṃ; bhavaṅgagati pariyosanaṃ. Majjhūpagato, mahārāja, kapiniddāpareto supinaṃ passati. Yathā, mahārāja, koci yatacārī samāhitacitto ṭhitadhammo acalabuddhi pahīnakotūhalasaddaṃ vanamajjhogāhitvā sukhumaṃ atthaṃ cintayati, na ca so tattha middhaṃ okkamati, so tattha samāhito ekaggacitto sukhumaṃ atthaṃ paṭivijjhati, evameva kho, mahārāja, jāgaro na middhasamāpanno, majjhūpagato kapiniddāpareto supinaṃ passati. Yathā, mahārāja, kotūhalasaddo, evaṃ jāgaraṃ daṭṭhabbaṃ; yathā vivittaṃ vanaṃ, evaṃ kapiniddāpareto daṭṭhabbo; yathā so kotūhalasaddaṃ ohāya middhaṃ vivajjetvā majjhattabhūto sukhumaṃ atthaṃ paṭivijjhati, evaṃ jāgaro na middhasamāpanno kapiniddāpareto supinaṃ passatī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Venerable Nāgasena, does drowsiness have a beginning, middle, and end?” “Yes, great king, drowsiness has a beginning, middle, and end.” “What is the beginning, what is the middle, and what is the end?” “The heaviness, oppression, weakness, dullness, and unworkability of the body—this is the beginning of drowsiness. When one, overcome by fitful sleep, dozes intermittently—this is the middle of drowsiness. Reaching the life-continuum is the end. When one is in the middle stage, overcome by fitful sleep, one sees a dream. Just as, great king, someone of disciplined conduct, with a composed mind, established in the Dhamma, and with an unshakeable intellect, having abandoned distracting noise, enters the forest and reflects on a subtle matter without succumbing to drowsiness—remaining composed and with a focused mind, they penetrate that subtle matter—so too, great king, one who is awake and not overcome by drowsiness, when in the middle stage and overcome by fitful sleep, sees a dream. Great king, distracting noise should be regarded as wakefulness, and a secluded forest should be regarded as one overcome by fitful sleep. Just as that person—having given up the distracting noise, avoided drowsiness, and become balanced—penetrates the subtle matter, so too one who is awake, not overcome by drowsiness, but overcome by fitful sleep, sees a dream.” “Excellent, Venerable Nāgasena. So it is; I accept it as such.”
– Thưa Đại đức Nāgasena, sự buồn ngủ có giai đoạn đầu, giai đoạn giữa, và giai đoạn cuối không? – Tâu Đại vương, có, sự buồn ngủ có giai đoạn đầu, giai đoạn giữa, và giai đoạn cuối. – Thế nào là giai đoạn đầu, thế nào là giai đoạn giữa, thế nào là giai đoạn cuối? – Tâu Đại vương, sự nặng nề, sự rất nặng nề, sự yếu ớt, sự chậm chạp, sự không kham nhẫn của thân, đây là giai đoạn đầu của sự buồn ngủ. Tâu Đại vương, khi một người bị trạng thái ngủ của loài khỉ chi phối, thức trong trạng thái tâm thức hỗn tạp, đây là giai đoạn giữa của sự buồn ngủ. Việc đi vào trạng thái hữu phần là giai đoạn cuối. Tâu Đại vương, người đã đạt đến giai đoạn giữa, bị trạng thái ngủ của loài khỉ chi phối, sẽ thấy mộng. Tâu Đại vương, ví như một người có hạnh kiểm được chế ngự, tâm định tĩnh, vững trú trong Pháp, trí tuệ không lay chuyển, sau khi đi vào một khu rừng đã dứt các tiếng ồn ào, suy tư về một ý nghĩa vi tế. Và người ấy không rơi vào giấc ngủ ở đó. Ở đó, với tâm định tĩnh, nhất tâm, người ấy thâm nhập được ý nghĩa vi tế. Cũng vậy, tâu Đại vương, người đang thức, chưa bị giấc ngủ chi phối, đã đạt đến giai đoạn giữa, bị trạng thái ngủ của loài khỉ chi phối, sẽ thấy mộng. Tâu Đại vương, nên hiểu sự thức tỉnh ví như tiếng ồn ào; nên hiểu người bị trạng thái ngủ của loài khỉ chi phối ví như khu rừng vắng lặng. Ví như người kia, sau khi từ bỏ tiếng ồn ào, tránh xa sự buồn ngủ, giữ tâm xả, thâm nhập được ý nghĩa vi tế, cũng vậy, người đang thức, chưa bị giấc ngủ chi phối, bị trạng thái ngủ của loài khỉ chi phối, sẽ thấy mộng. – Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như lời ngài đã dạy.
Supinapañho pañcamo.
Here ends the fifth question on dreams.
Câu hỏi về giấc mộng, phần thứ năm.