Bản dịch
MIL 6.3.4 — CÂU HỎI VỀ VIỆC HỒI HƯỚNG
4. Pubbapetādisapañha
ĐẾN QUYẾN THUỘC ĐÃ QUÁ VÃNG
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, các thí chủ này sau khi bố thí vật thí, hồi hướng đến các quyến thuộc đã quá vãng rằng: ‘Việc này hãy thành tựu cho những người ấy.’ Phải chăng những người ấy do nhân ấy nhận được quả thành tựu nào đó?”
“Tâu đại vương, một số nhận được, một số không nhận được.”
“Thưa ngài, những ai nhận được, những ai không nhận được?”
“Tâu đại vương, những người đã sanh vào địa ngục không nhận được, những người đã đi đến cõi trời không nhận được, những người đã đi đến bản thể loài thú không nhận được, trong số bốn hạng người đã quá vãng, ba hạng người đã quá vãng không nhận được—là hạng chỉ ăn đồ được mửa ra, hạng bị hành hạ bởi sự đói khát, hạng luôn bị dằn vặt bởi sự khao khát. Hạng người đã quá vãng nhận được là hạng sống nhờ vào sự bố thí của người khác, thậm chí những người ấy ngay trong khi nhớ đến cũng nhận được.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì sự bố thí của các thí chủ đã được làm để hồi hướng đến những người nào, nếu những người ấy không nhận được, thì bị uổng phí, thì không có kết quả?”
“Tâu đại vương, việc bố thí ấy không hẳn là không có kết quả, là không có quả thành tựu. Chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì xin ngài giúp cho trẫm hiểu bắng lý lẽ?”
“Tâu đại vương, ở đây một số người nào đó chuẩn bị cá, thịt, rượu, thức ăn, vật nhai, rồi đi đến nhà của thân quyến. Nếu những thân quyến ấy không thọ nhận quà biếu ấy, phải chăng quà biếu ấy trở nên uổng phí, hoặc bị mất mát?”
“Thưa ngài, không đúng. Vật ấy là thuộc về chính các người chủ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy. Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam đã đi vào nội phòng, trong khi lối đi ra không có ở phía trước thì có thể đi ra bằng cách nào?”
“Thưa ngài, bằng chính lối đã đi vào.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Chúng tôi chấp nhận điều này đúng theo như vậy: ‘Chính các thí chủ thọ hưởng kết quả của việc ấy. Chúng tôi không bàn cãi về lý lẽ ấy.’
BJT 2Thưa ngài Nāgasena, nếu vật thí đã được bố thí của các thí chủ này thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng, và họ thọ hưởng quả thành tựu của việc ấy, như thế thì kẻ nào có sự giết hại mạng sống, là thợ săn, có bàn tay vấy máu, có tâm tư tồi tệ, sau khi giết chết nhiều người, sau khi gây ra hành động tàn bạo, rồi hồi hướng đến các quyến thuộc đã quá vãng rằng: ‘Quả thành tựu của việc làm này của tôi hãy thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng,’ phải chăng quả thành tựu của việc ấy thành tựu đến các quyến thuộc đã quá vãng?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp ấy, cái gì là nhân, cái gì là lý do khiến cho thiện thành tựu, còn bất thiện không thành tựu?”
“Tâu đại vương, câu hỏi ấy là không nên hỏi. Tâu đại vương, xin đại vương chớ (nghĩ rằng): ‘Có người trả lời’ rồi hỏi câu hỏi không thể trả lời được: ‘Tại sao bầu trời không có vật máng lên? Tại sao sông Gaṅgā không chảy về phía thượng nguồn? Tại sao những người này là lưỡng sanh và có hai chân, còn loài thú có bốn chân? Có phải đại vương cũng sẽ hỏi tôi câu hỏi ấy?”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm hỏi ngài không phải vì có ý muốn gây khó khăn. Tuy nhiên, trẫm hỏi nhằm mục đích làm tiêu tan sự nghi ngờ. Nhiều người ở thế gian có sự cầm nắm bằng tay trái, có mắt bị lòa, trẫm hỏi ngài điều ấy là như vầy: ‘Vì điều gì mà những người ấy không thể đạt được cơ hội?’”
“Tâu đại vương, không thể san sẻ nghiệp ác với người đã không làm, với người không tùy hỷ theo. Tâu đại vương, giống như những người chuyển nước đến nơi rất xa bằng ống dẫn nước. Tâu đại vương, phải chăng núi đá rắn chắc to lớn có thể chuyển dịch theo như ý muốn cũng bằng ống dẫn?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện. Tâu đại vương, hoặc là giống như có thể đốt sáng ngọn đèn với dầu. Tâu đại vương, phải chăng có thể đốt sáng ngọn đèn với nước?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện. Tâu đại vương, hoặc là giống như những người nông dân lấy nước từ hồ nước rồi nấu chín gạo. Tâu đại vương, phải chăng có thể lấy nước từ biển cả rồi nấu chín gạo?”
“Thưa ngài, không được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà có thể san sẻ thiện, không thể san sẻ bất thiện? Xin ngài giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ. Trẫm không phải là mù lòa và không có ánh sáng, sau khi lắng nghe trẫm sẽ hiểu.”
“Tâu đại vương, bất thiện là ít ỏi, thiện thì dồi dào. Do tính chất ít ỏi, bất thiện tác động chỉ riêng người tạo tác. Bởi tính chất dồi dào, thiện bao phủ thế gian luôn cả cõi Trời.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như một giọt nước nhỏ nhoi rơi xuống trái đất. Tâu đại vương, phải chăng giọt nước ấy có thể phủ lên luôn cả mười, mười hai do-tuần?”
“Thưa ngài, không đúng. Giọt nước ấy đã rơi xuống ở nơi nào, thì nó tác động chỉ ở nơi ấy thôi.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì tính chất nhỏ nhoi của giọt nước.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế bất thiện là nhỏ nhoi. Do tính chất nhỏ nhoi, nó tác động chỉ riêng người tạo tác, không thể san sẻ. Tâu đại vương, hoặc là giống như đám mây to lớn khổng lồ, trong khi làm hài lòng mặt đất, có thể đổ mưa. Tâu đại vương, phải chăng đám mây to lớn ấy có thể phủ lên khắp nơi?”
“Thưa ngài, đúng vậy. Đám mây to lớn ấy sau khi làm tràn đầy hố, ao, suối, cành cây, hốc, khe, hồ, vũng, giếng, đầm sen, cũng có thể phủ lên luôn cả mười, mười hai do-tuần.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì tính chất to lớn của đám mây.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế thiện thì dồi dào. Do tính chất dồi dào, có thể san sẽ với chư Thiên và loài người.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà bất thiện là ít ỏi, còn thiện là dồi dào hơn?”
“Tâu đại vương, ở đây có ai đó dâng cúng vật thí, thọ trì giới, thực hành việc trai giới, người ấy vui mừng, mừng rỡ, vừa lòng, hài lòng, hoan hỷ, có tâm tịnh tín, hân hoan sanh khởi, đối với vị ấy hỷ sanh lên liên tục, đối với người có tâm hỷ thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa.
Tâu đại vương, giống như ở giếng nước được tràn đầy với nhiều nước, nước có thể đi vào bằng một lối, thoát ra bằng một lối, mặc dầu đang được thoát ra nước cũng vẫn liên tục sanh khởi, không thể nào bị lâm vào sự cạn kiệt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa. Tâu đại vương, nếu một người có thể hướng tâm đến việc thiện đã làm thậm chí cả một trăm năm, khi được liên tục hướng tâm thì thiện phát triển nhiều thêm hơn nữa. Đối với người ấy, thiện ấy có thể san sẻ cho những người mong mỏi như thế ấy. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy thiện là dồi dào hơn.
Tâu đại vương, trái lại người đang làm việc bất thiện thì về sau có sự ân hận; đối với người có sự ân hận, thì tâm thâu hẹp lại, co rút lại, quay trở lại, không trải rộng, buồn rầu, bứt rứt, tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, giống như chút ít nước đang rơi xuống phía bên trên của dòng sông khô cạn có bãi cát lớn lồi lõm uốn cong khúc khuỷu, thì tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đang làm việc bất thiện, tâm thâu hẹp lại, co rút lại, quay trở lại, không trải rộng, buồn rầu, bứt rứt, tiêu tán, cạn kiệt, không phát triển, tác động chỉ ở nơi ấy thôi. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy bất thiện là ít ỏi.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hồi hướng đến quyến thuộc đã quá vãng là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. ‘‘Bhante nāgasena, ime dāyakā dānaṃ datvā pubbapetānaṃ ādisanti † ‘idaṃ tesaṃ pāpuṇātū’ti, api nu te kiñci tatonidānaṃ vipākaṃ paṭilabhantī’’ti? ‘‘Keci, mahārāja, paṭilabhanti, keci nappaṭilabhantī’’ti. ‘‘Ke, bhante, paṭilabhanti, ke nappaṭilabhantī’’ti? ‘‘Nirayūpapannā, mahārāja, nappaṭilabhanti, saggagatā nappaṭilabhanti, tiracchānayonigatā nappaṭilabhanti, catunnaṃ petānaṃ tayo petā nappaṭilabhanti vantāsikā khuppipāsino nijjhāmataṇhikā, labhanti petā paradattūpajīvino, tepi saramānā yeva labhantī’’ti.
4. “Venerable Nāgasena, when donors give a gift and dedicate it to their departed ancestors, saying, ‘May this reach them,’ do those ancestors receive any result from that cause?” “Some, great king, receive it, while others do not.” “Who, venerable sir, receives it, and who does not?” “Those reborn in hell, great king, do not receive it. Those who have gone to heaven do not receive it. Those born in the animal realm do not receive it. Of the four kinds of petas, three do not receive it: the vomit-eaters, those tormented by hunger and thirst, and those consumed by burning thirst. Only the petas who live on what is given by others receive it, and even they receive it only if they are aware of the offering.”
4. – Thưa ngài Nāgasena, các thí chủ này sau khi bố thí đã hồi hướng cho những người đã quá vãng rằng: ‘Nguyện cho vật này đến được với họ.’ Các vị ấy có nhận được quả báo nào có nguồn gốc từ đó hay không? – Tâu Đại vương, có một số nhận được, có một số không nhận được. – Thưa ngài, những ai nhận được, những ai không nhận được? – Tâu Đại vương, những người sanh vào địa ngục không nhận được, những người đã đi đến cõi trời không nhận được, những người đã đi vào loài bàng sanh không nhận được. Trong bốn loại ngạ quỷ, có ba loại ngạ quỷ không nhận được là: vantāsika, khuppipāsina, và nijjhāmataṇhika. Các vị ngạ quỷ paradattūpajīvina thì nhận được, và họ cũng chỉ nhận được khi có sự ghi nhớ.
‘‘Tena hi, bhante nāgasena, dāyakānaṃ dānaṃ visositaṃ † hoti aphalaṃ, yesaṃ uddissa kataṃ yadi te nappaṭilabhantī’’ti? ‘‘Na hi taṃ, mahārāja, dānaṃ aphalaṃ hoti avipākaṃ, dāyakā yeva tassa phalaṃ anubhavantī’’ti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, kāraṇena maṃ saññāpehī’’ti. ‘‘Idha, mahārāja, keci manussā macchamaṃsasurābhattakhajjakāni paṭiyādetvā ñātikulaṃ gacchanti, yadi te ñātakā taṃ upāyanaṃ na sampaṭiccheyyuṃ, api nu taṃ upāyanaṃ visositaṃ gaccheyya vinasseyya vā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, sāmikānaṃ yeva taṃ hotī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, dāyakā yeva tassa phalaṃ anubhavanti. Yathā pana, mahārāja, puriso gabbhaṃ paviṭṭho asati purato nikkhamanamukhe kena nikkhameyyā’’ti. ‘‘Paviṭṭheneva bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, dāyakā yeva tassa phalaṃ anubhavantī’’ti. ‘‘Hotu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmi, dāyakā yeva tassa phalaṃ anubhavanti, na mayaṃ taṃ kāraṇaṃ vilomemāti.
“In that case, Venerable Nāgasena, is the gift of the donors wasted and fruitless if those for whom it was intended do not receive it?” “No, great king, that gift is not fruitless or without result. The donors themselves experience its fruit.” “Then, Venerable Nāgasena, persuade me with a reason.” “Suppose, great king, some people prepare fish, meat, liquor, rice, and savories, and go to their relatives’ household. If those relatives do not accept that present, would that present be wasted or destroyed?” “No, venerable sir, it would still belong to its owners.” “Even so, great king, the donors themselves experience the fruit of that gift. Furthermore, great king, if a man enters a chamber and there is no exit in front, by which way would he exit?” “By the way he entered, venerable sir.” “Even so, great king, the donors themselves experience the fruit of that gift.” “Let it be so, Venerable Nāgasena. I accept it is just as you say: the donors themselves experience its fruit. We do not dispute that reasoning.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, nếu vậy, sự bố thí của các thí chủ sẽ trở nên khô cạn, không có kết quả, nếu những người được hồi hướng cho không nhận được phải không?” “Tâu Đại vương, sự bố thí ấy không phải là không có kết quả, không phải là không có quả báo. Chính các thí chủ sẽ hưởng thụ quả báo của việc ấy.” “Bạch Đại đức Nāgasena, nếu vậy, xin ngài hãy làm cho tôi hiểu rõ bằng một lý do.” “Tâu Đại vương, ở đời này, có những người chuẩn bị cá, thịt, rượu, cơm, và các món ăn vặt rồi đi đến nhà bà con. Nếu những người bà con ấy không nhận món quà đó, thì món quà ấy có bị khô cạn hay bị hủy hoại chăng?” “Bạch Đại đức, không đâu ạ. Món quà ấy vẫn thuộc về chính những người chủ của nó.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, chính các thí chủ sẽ hưởng thụ quả báo của việc ấy. Lại nữa, tâu Đại vương, ví như một người đi vào một căn phòng mà phía trước không có cửa ra, thì người ấy sẽ ra bằng lối nào?” “Bạch Đại đức, bằng chính lối đã đi vào ạ.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, chính các thí chủ sẽ hưởng thụ quả báo của việc ấy.” “Bạch Đại đức Nāgasena, xin hãy là như vậy. Tôi xin chấp nhận điều này như ngài đã nói. Chính các thí chủ sẽ hưởng thụ quả báo của việc ấy, chúng tôi không phản đối lý do đó.”
‘‘Yathā, mahārāja, parittaṃ ekaṃ udakabindu pathaviyaṃ nipateyya, api nu kho taṃ, mahārāja, udakabindu dasapi dvādasapi yojanāni ajjhotthareyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, yattha taṃ udakabindu nipatitaṃ, tattheva pariyādiyatī’’ti. ‘‘Kena kāraṇena, mahārājā’’ti? ‘‘Parittattā, bhante, udakabindussā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, parittaṃ akusalaṃ parittattā kattāraṃ yeva pariyādiyati, na sakkā saṃvibhajituṃ.
“Just as, great king, if a single small drop of water were to fall upon the earth, would that drop of water, great king, cover ten or twelve leagues?” “No, venerable sir. Wherever that drop of water falls, right there it is consumed.” “For what reason, great king?” “Because of the smallness, venerable sir, of the drop of water.” “Even so, great king, what is unwholesome is small, and due to its smallness, it consumes only the doer; it cannot be shared.”
“Tâu Đại vương, ví như một giọt nước nhỏ rơi xuống đất, tâu Đại vương, giọt nước ấy có thể lan ra mười hay mười hai do-tuần không?” “Bạch Đại đức, không thể ạ. Giọt nước ấy rơi xuống chỗ nào thì nó cạn khô ngay tại chỗ đó.” “Vì lý do gì, tâu Đại vương?” “Bạch Đại đức, vì sự nhỏ bé của giọt nước ạ.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, việc ác thì nhỏ bé, vì nhỏ bé nên nó chỉ bao trùm lấy người làm, không thể chia sớt được.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, mahatimahāmegho abhivasseyya tappayanto dharaṇitalaṃ, api nu kho so, mahārāja, mahāmegho samantato otthareyyā’’ti. ‘‘Āma, bhante, pūrayitvā so mahāmegho sobbhasara saritasākhākandarapadaradahataḷāka † udapānapokkharaṇiyo dasapi dvādasapi yojanāni ajjhotthareyyā’’ti. ‘‘Kena kāraṇena, mahārājā’’ti? ‘‘Mahantattā, bhante, meghassā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, kusalaṃ bahukaṃ, bahukattā sakkā devamanussehipi saṃvibhajitu’’nti.
“Just as, great king, a great and mighty rain cloud might pour down, satisfying the surface of the earth, would that great rain cloud, great king, spread everywhere?” “Yes, venerable sir, that great rain cloud, having filled the chasms, lakes, rivers, tributaries, gorges, clefts, pools, ponds, wells, and lotus ponds, would spread over ten or twelve yojanas.” “For what reason, great king?” “Because of the greatness, venerable sir, of the cloud.” “In the same way, great king, what is wholesome is abundant. Because of its abundance, it can be shared with devas and humans.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, ví như một đám mây rất lớn trút mưa xuống, làm thỏa mãn mặt đất, tâu Đại vương, đám mây lớn ấy có lan ra khắp nơi không?” “Bạch Đại đức, có ạ. Đám mây lớn ấy làm đầy các hố, hồ, sông, nhánh sông, khe núi, vực thẳm, hồ chứa, giếng, ao, rồi lan ra mười hay mười hai do-tuần.” “Vì lý do gì, tâu Đại vương?” “Bạch Đại đức, vì sự to lớn của đám mây ạ.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, việc thiện thì to lớn, vì to lớn nên có thể chia sớt được cả với chư thiên và loài người.”
‘‘Bhante nāgasena, kena kāraṇena akusalaṃ thokaṃ kusalaṃ bahutara’’nti? ‘‘Idha, mahārāja, yo koci dānaṃ deti, sīlaṃ samādiyati, uposathakammaṃ karoti, so haṭṭho pahaṭṭho hasito pamudito pasannamānaso vedajāto hoti, tassa aparāparaṃ pīti uppajjati, pītimanassa bhiyyo bhiyyo kusalaṃ pavaḍḍhati.
“Venerable Nāgasena, for what reason is what is unwholesome little, while what is wholesome is much more abundant?” “Here, great king, whoever gives a gift, undertakes virtue, or observes the Uposatha, becomes glad, elated, cheerful, joyous, with a serene mind, and filled with delight. For him, rapture arises again and again; for one with a rapturous mind, what is wholesome grows more and more.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, do nguyên nhân nào mà điều bất thiện thì ít, còn điều thiện thì nhiều hơn?” “Tâu Đại vương, ở đây, người nào thực hành bố thí, thọ trì giới luật, thực hiện phận sự Uposatha, vị ấy được hoan hỷ, rất hoan hỷ, vui cười, phấn khởi, có tâm ý trong sáng, có được sự vui mừng. Đối với vị ấy, hỷ khởi sanh hết lần này đến lần khác. Đối với người có tâm hoan hỷ, điều thiện càng lúc càng tăng trưởng nhiều hơn.
‘‘Yathā, mahārāja, udapāne bahusalilasampuṇṇe ekena desena udakaṃ paviseyya, ekena nikkhameyya, nikkhamantepi aparāparaṃ uppajjati, na sakkā hoti khayaṃ pāpetuṃ. Evameva kho, mahārāja, kusalaṃ bhiyyo bhiyyo pavaḍḍhati. Vassasatepi ce, mahārāja, puriso kataṃ kusalaṃ āvajjeyya, āvajjite āvajjite bhiyyo bhiyyo kusalaṃ pavaḍḍhati. Tassa taṃ kusalaṃ sakkā hoti yathicchakehi saddhiṃ saṃvibhajituṃ, idamettha, mahārāja, kāraṇaṃ, yena kāraṇena kusalaṃ bahutaraṃ.
“Just as, great king, in a well filled with abundant water, water might enter from one side and exit from another, yet even as it exits, more and more arises; it cannot be brought to exhaustion. In the same way, great king, what is wholesome grows ever greater. Even if, great king, a person were to reflect on a wholesome deed done a hundred years ago, with each reflection, what is wholesome grows more and more. That wholesome quality can be shared with whomever one wishes. This, great king, is the reason why what is wholesome is so abundant.”
“Tâu Đại vương, ví như ở một cái giếng đầy nước, nước có thể chảy vào từ một phía và chảy ra từ một phía khác. Dù cho có chảy ra, nước khác vẫn tiếp tục sanh khởi, không thể nào làm cho cạn kiệt được. Tâu Đại vương, cũng giống như thế, điều thiện càng lúc càng tăng trưởng nhiều hơn. Tâu Đại vương, dẫu cho một trăm năm sau, nếu một người suy xét đến việc thiện đã làm, mỗi khi suy xét thì điều thiện lại càng tăng trưởng nhiều hơn. Vị ấy có thể chia sớt điều thiện ấy cùng với những người mình mong muốn. Tâu Đại vương, đây chính là nguyên nhân, do nguyên nhân ấy mà điều thiện thì nhiều hơn.
‘‘Akusalaṃ pana, mahārāja, karonto pacchā vippaṭisārī hoti, vippaṭisārino cittaṃ paṭilīyati paṭikuṭati paṭivattati na sampasārīyati socati tappati hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati. Yathā, mahārāja, sukkhāya nadiyā mahāpuḷināya unnatāvanatāya kuṭilasaṅkuṭilāya uparito parittaṃ udakaṃ āgacchantaṃ hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati. Evameva kho, mahārāja, akusalaṃ karontassa cittaṃ paṭilīyati paṭikuṭati paṭivattati na sampasārīyati socati tappati hāyati khīyati na parivaḍḍhati tattheva pariyādiyati, idamettha, mahārāja, kāraṇaṃ, yena kāraṇena akusalaṃ thoka’’nti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“But, great king, one who does what is unwholesome feels remorse afterward. The mind of one who feels remorse shrinks back, recoils, turns away, and does not expand; it grieves, is tormented, declines, diminishes, does not grow, and is consumed right there. Just as, great king, in a dry, winding, and uneven river with great sandbanks, a small amount of water coming from above declines, diminishes, does not grow, and is consumed right there. In the same way, great king, the mind of one who does what is unwholesome shrinks back, recoils, turns away, and does not expand; it grieves, is tormented, declines, diminishes, does not grow, and is consumed right there. This, great king, is the reason why what is unwholesome is small.” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it just as you have said.”
“Tâu Đại vương, còn người làm điều bất thiện thì sau đó có sự hối hận. Đối với người có sự hối hận, tâm bị co rút, bị thu lại, bị quay đi, không được lan rộng, sầu muộn, bị thiêu đốt, bị suy giảm, bị kiệt quệ, không tăng trưởng, bị tiêu hao ngay tại chỗ. Tâu Đại vương, ví như ở một dòng sông khô cạn, có nhiều bãi cát, chỗ cao chỗ thấp, khúc khuỷu quanh co, một ít nước từ thượng nguồn chảy đến sẽ bị suy giảm, bị kiệt quệ, không tăng trưởng, bị tiêu hao ngay tại chỗ. Tâu Đại vương, cũng giống như thế, tâm của người làm điều bất thiện bị co rút, bị thu lại, bị quay đi, không được lan rộng, sầu muộn, bị thiêu đốt, bị suy giảm, bị kiệt quệ, không tăng trưởng, bị tiêu hao ngay tại chỗ. Tâu Đại vương, đây chính là nguyên nhân, do nguyên nhân ấy mà điều bất thiện thì ít.” “Lành thay, bạch Đại đức Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Pubbapetādisapañho catuttho.
Here ends the Fourth Question concerning Departed Relatives and So On.
Câu hỏi thứ tư về các ngạ quỷ đời trước, v.v... đã kết thúc.