Bản dịch
MIL 6.3.3 — CÂU HỎI VỀ THIỆN HAY BẤT THIỆN MẠNH HƠN
3. Kusalākusalabalavatarapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, cái nào trội hơn, mạnh hơn, thiện hay là bất thiện?”
“Tâu đại vương, thiện là trội hơn, mạnh hơn, bất thiện thì không như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm không chấp nhận lời nói ấy: ‘Thiện là trội hơn, mạnh hơn, bất thiện thì không như vậy.’ Thưa ngài Nāgasena, ở đây được thấy những kẻ giết hại mạng sống, lấy vật chưa được cho, có hành vi sai trái trong các dục, nói lời dối trá, tàn phá làng mạc, quân cướp đường, gian lận, lường gạt, tất cả những kẻ ấy nhận chịu việc bị chặt bàn tay, chặt bàn chân, chặt bàn tay và bàn chân, cắt tai, xẻo mũi, cắt tai và xẻo mũi, (nhúng vào) hũ giấm chua, cạo đầu bôi vôi, đốt lửa ở miệng, thiêu sống, đốt cháy ở bàn tay, lột da thành sợi, mặc y phục vỏ cây, kéo căng thân người ở trên đất, xiên da thịt bằng lưỡi câu, khoét thịt thành đồng tiền, chà xát với chất kiềm, quay tròn ở trên thập tự giá, ngồi ở ghế rơm, rưới bằng dầu sôi, cho những con chó gặm, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu bằng gươm tương xứng với tội ác, những ai làm điều ác ban đêm thì gánh chịu hậu quả ngay trong đêm, những ai làm ban đêm thì gánh chịu trong ngày (kế), những ai làm ban ngày thì gánh chịu ngay trong đêm, những ai đã trải qua hai ba ngày thì gánh chịu hai ba ngày, tất cả những người ấy đều gánh chịu hậu quả ngay trong hiện tại. Thưa ngài Nāgasena, trái lại có phải có người nào đó sau khi bố thí vật thí có cả vật phụ tùng đến một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, hoặc bốn vị, hoặc năm vị, hoặc mười vị, hoặc một trăm vị, hoặc một ngàn vị, hoặc một trăm ngàn vị, thì trở thành người hưởng thụ của cải, hoặc danh tiếng, hoặc an lạc, nhờ vào giới hoặc việc hành trai giới trong thời hiện tại?”
“Tâu đại vương, có bốn người sau khi bố thí vật thí, sau khi thọ trì giới, sau khi thực hiện việc hành trai giới thì đạt đến danh vọng ở thành phố của chư Thiên bằng chính cơ thể thân xác ấy ngay trong thời hiện tại.”
BJT 2“Thưa ngài, ai và ai vậy?”
“Tâu đại vương, đức vua Mandhātā, đức vua Nimi, đức vua Sādhīna, và Càn-thát-bà Guttila.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều ấy rõ ràng là đã trải qua nhiều ngàn đời. Điều ấy cũng là vượt ngoài tầm nhìn của hai chúng ta. Nếu ngài có khả năng, xin ngài hãy nói về cuộc đời đang còn tiếp diễn, vào thời điểm đang còn đức Thế Tôn.”
“Tâu đại vương, thậm chí ở cuộc đời đang còn tiếp diễn, kẻ nô lệ Puṇṇaka sau khi dâng vật thực đến trưởng lão Sāriputta thì đã đạt đến địa vị nhà triệu phú ngay trong ngày ấy, vị ấy hiện nay đã được biết là: ‘Triệu phú Puṇṇaka.’ Hoàng hậu Gopālamātā sau khi bán mái tóc của chính mình, với tám đồng tiền nhận được đã dâng đồ ăn khất thực đến trưởng lão Mahākaccāyana, (cùng với bảy vị khác) và bản thân ngài là vị thứ tám, thì đã đạt được ngôi vị hoàng hậu chánh cung của đức vua Udena ngay trong ngày ấy. Nữ cư sĩ Suppiyā sau khi đã dâng nước xúp nấu với thịt đùi của chính mình đến một vị tỳ khưu bệnh nọ, thì ngay trong ngày thứ nhì vết thương đã được liền lại, có làn da đẹp, đã được hết bệnh.
Mallikādevī, sau khi dâng phần cháo chua của đêm hôm qua đến đức Thế Tôn, đã trở thành hoàng hậu chánh cung của đức vua Kosala ngay trong ngày ấy. Người thợ làm tràng hoa Sumana, sau khi cúng dường đức Thế Tôn với tám nắm hoa nhài, đã đạt được sự thành tựu lớn lao ngay trong ngày ấy. Vị Bà-la-môn Ekasāṭaka (có độc một tấm vải che thân), sau khi cúng dường đức Thế Tôn với tấm vải khoác ngoài, đã đạt được tất cả mỗi thứ tám món ngay trong ngày ấy. Tâu đại vương, tất cả những người này cũng đã hưởng thụ của cải và danh vọng ở thời hiện tại.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, sau khi chọn lựa và tìm kiếm, có phải ngài đã thấy chỉ có sáu người?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy. Thưa ngài Nāgasena, bởi vì chỉ trong một ngày trẫm nhìn thấy mười người nam, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi người nam đang bị đặt trên các giáo nhọn do hậu quả của nghiệp ác. Trẫm nhìn thấy trăm người nam, ngàn người nam đang bị đặt trên các giáo nhọn do hậu quả của nghiệp ác. Thưa ngài Nāgasena, người con trai của vị tướng quân thuộc dòng họ Nanda có tên là Bhaddasāla. Cuộc chiến đấu giữa vị ấy và đức vua Candagutta đã diễn ra ác liệt. Thưa ngài Nāgasena, hơn nữa trong cuộc chiến đấu ấy, đã có tám mươi thây người cụt đầu ở cả hai đoàn quân. Nghe nói khi một cái giỏ đựng đầu được tràn đầy thì có một thây người cụt đầu đứng dậy. Tất cả những người này lâm vào tai họa và bất hạnh do hậu quả của chính nghiệp ác. Thưa ngài Nāgasena, cũng vì lý do này mà trẫm nói rằng: ‘Chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy.’ Thưa ngài Nāgasena, có phải được nghe là trong thời Giáo Pháp của đức Phật này, vật thí không thể sánh bằng đã được bố thí bởi đức vua Kosala?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có được nghe.”
“Thưa ngài Nāgasena, phải chăng đức vua Kosala, sau khi bố thí vật thí không thể sánh bằng ấy, do nhân ấy đã nhận được của cải hay danh vọng hay sự an lạc nào đó trong thời hiện tại?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức vua Kosala, thậm chí sau khi bố thí vật thí không thể sánh bằng có hình thức như thế, do nhân ấy đã không nhận được của cải hay danh vọng hay sự an lạc trong thời hiện tại. Thưa ngài Nāgasena, như thế thì chính bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy.”
BJT 4“Tâu đại vương, vì tính chất nhỏ nhoi nên bất thiện chuyển biến mau chóng. Do tính chất rộng lớn nên thiện chuyển biến cần thời gian dài. Tâu đại vương, điều này nên được quan sát bằng ví dụ. Tâu đại vương, giống như ở xứ sở Aparanta, có giống lúa tên là kumudabhaṇḍikā sau một tháng thì được gặt rồi đem vào trong nhà. Các lúa sāli chín sau năm sáu tháng. Tâu đại vương, vậy thì ở đây có điều gì khác nhau? Giữa lúa kumudabhaṇḍikā và các loại lúa sāli có điều gì là khác biệt?”
“Thưa ngài, vì tính chất nhỏ nhoi của lúa kumudabhaṇḍikā, và tính chất rộng lớn của các lúa sāli. Thưa ngài Nāgasena, các lúa sāli là xứng đáng với đức vua, là thực phẩm của đức vua, còn lúa kumudabhaṇḍikā là thực phẩm của các nô bộc và những người làm công việc.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế vì tính chất nhỏ nhoi nên bất thiện chuyển biến mau chóng. Do tính chất rộng lớn nên thiện chuyển biến cần thời gian dài.”
“Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp ấy cái nào chuyển biến mau chóng, cái ấy ở thế gian gọi là trội hơn, mạnh hơn. Do đó, bất thiện là trội hơn, mạnh hơn, thiện thì không như vậy. Thưa ngài Nāgasena, giống như người lính chiến nào đó, sau khi tiến vào cuộc chiến đấu lớn lao vĩ đại, thì nắm lấy kẻ thù ở nách, lôi đi, rồi mau chóng hơn nữa đưa đến các chủ soái, người lính chiến ấy ở thế gian gọi là dũng sĩ tài năng. Và người thầy thuốc nào nhanh chóng lấy ra mũi tên, xua đi cơn bệnh, người thầy thuốc ấy gọi là thông thạo. Người kế toán nào tính toán vô cùng mau lẹ và nhanh chóng phô bày (kết quả), người kế toán ấy gọi là thông thạo. Người võ sĩ nào nhanh chóng nhấc bổng và vật ngã ngửa đối thủ, người võ sĩ ấy gọi là dũng sĩ tài năng. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế cái nào chuyển biến mau chóng, dầu là thiện hay là bất thiện, cái ấy ở thế gian là trội hơn, mạnh hơn.”
BJT 5“Tâu đại vương, luôn cả hai nghiệp ấy đều được cảm thọ trong tương lai. Tuy nhiên, bất thiện do có tội lỗi nên lập tức chịu cảm thọ trong thời hiện tại. Tâu đại vương, các vị Sát-đế-lỵ trước đây đã thành lập quy định này: ‘Kẻ nào giết hại mạng sống, kẻ ấy xứng đáng hình phạt; kẻ nào lấy vật chưa cho, kẻ nào đi đến vợ người khác, kẻ nào nói lời dối trá, kẻ nào tàn phá xóm làng, kẻ nào cướp giật đường xá, kẻ nào thực hiện việc gian lận và lường gạt, kẻ ấy xứng đáng hình phạt, nên bị giết chết, nên bị chém, nên bị phanh (thây), nên bị trừng phạt.’ Căn cứ vào việc ấy, sau khi cân nhắc xét đoán họ gia hình, giết chết, chém, phanh (thây), và trừng phạt. Tâu đại vương, phải chăng có điều quy định đã được thành lập bởi những ai đó rằng: ‘Người nào bố thí vật thí, hoặc gìn giữ giới, hoặc thực hiện việc hành trai giới, thì người ấy sẽ được ban thưởng tài sản hoặc danh vọng’? Phải chăng sau khi cân nhắc xét đoán về việc ấy, họ ban thưởng tài sản hoặc danh vọng, tương tợ như việc giết chết hoặc giam cầm đối với hành động đã làm của kẻ trộm cướp?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, nếu họ sau khi cân nhắc xét đoán có thể ban thưởng tài sản hoặc danh vọng đến các thí chủ, thì thiện cũng có thể được cảm thọ trong hiện tại. Tâu đại vương, bởi vì họ không cân nhắc về các thí chủ rằng: ‘Chúng ta sẽ ban thưởng tài sản hoặc danh vọng,’ vì thế thiện không được cảm thọ trong hiện tại. Tâu đại vương, vì lý do này bất thiện chịu cảm thọ trong hiện tại, và kẻ ấy cảm nhận cảm thọ trội hơn, mạnh hơn ngay trong tương lai.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Thiếu vắng bậc có sự giác ngộ như là ngài, câu hỏi này đã không khéo được tháo gỡ. Thưa ngài Nāgasena, việc thuộc về thế gian đã được giảng giải bằng cách vượt trên thế gian.”
Câu hỏi về thiện hay bất thiện mạnh hơn là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. ‘‘Bhante nāgasena, katamaṃ adhimattaṃ balavataraṃ kusalaṃ vā akusalaṃ vā’’ti? ‘‘Kusalaṃ, mahārāja, adhimattaṃ balavataraṃ, no tathā akusala’nti. ‘‘Nāhaṃ, bhante nāgasena, taṃ vacanaṃ sampaṭicchāmi ‘kusalaṃ adhimattaṃ balavataraṃ, no tathā akusala’nti, dissanti, bhante nāgasena, idha pāṇātipātino adinnādāyino kāmesumicchācārino musāvādino gāmaghātikā panthadūsakā nekatikā vañcanikā, sabbe te tāvatakena pāpena labhanti hatthacchedaṃ pādacchedaṃ hatthapādacchedaṃ kaṇṇacchedaṃ nāsacchedaṃ kaṇṇanāsacchedaṃ bilaṅgathālikaṃ saṅkhamuṇḍikaṃ rāhumukhaṃ jotimālikaṃ hatthapajjotikaṃ erakavattikaṃ cīrakavāsikaṃ eṇeyyakaṃ baḷisamaṃsikaṃ kahāpaṇikaṃ khārāpatacchikaṃ palighaparivattikaṃ palālapīṭhakaṃ tattenapi telena osiñcanaṃ sunakhehipi khādāpanaṃ jīvasūlāropanaṃ asināpi sīsacchedaṃ, keci rattiṃ pāpaṃ katvā rattiṃ yeva vipākaṃ anubhavanti, keci rattiṃ katvā divā yeva anubhavanti, keci divā katvā divā yeva anubhavanti, keci divā katvā rattiṃ yeva anubhavanti, keci dve tayo divase vītivatte anubhavanti, sabbepi te diṭṭheva dhamme vipākaṃ anubhavanti. Atthi pana, bhante nāgasena, koci ekassa vā dvinnaṃ vā tiṇṇaṃ vā catunnaṃ vā pañcannaṃ vā dasannaṃ vā satassa vā sahassassa vā satasahassassa vā saparivāraṃ dānaṃ datvā diṭṭhadhammikaṃ bhogaṃ vā yasaṃ vā sukhaṃ vā anubhavitā sīlena vā uposathakammena vā’’ti?
3. “Venerable Nāgasena, which is exceedingly more powerful—the wholesome or the unwholesome?” “The wholesome, great king, is exceedingly more powerful; not so the unwholesome.” “I do not accept that statement, Venerable Nāgasena, that ‘the wholesome is exceedingly more powerful; not so the unwholesome.’ For, Venerable Nāgasena, we see here those who kill living beings, take what is not given, engage in sexual misconduct, speak falsely—village destroyers, road robbers, deceivers, fraudsters—all of them, for such evil deeds, receive punishments such as having their hands cut off, feet cut off, both hands and feet cut off, ears cut off, nose cut off, both ears and nose cut off, the ‘gruel-pot,’ the ‘shaved-conch,’ ‘Rāhu’s mouth,’ the ‘fire-garland,’ the ‘hand-torch,’ the ‘straw-strips,’ the ‘bark-garment,’ the ‘antelope,’ the ‘flesh-hook,’ the ‘coin-flesh,’ the ‘lye-pickle,’ the ‘turning-pin,’ the ‘straw-mattress,’ being sprinkled with hot oil, being fed to dogs, being impaled alive, or having their heads cut off with a sword. Some commit evil at night and experience the result that very night; some commit evil at night and experience the result by day; some commit evil by day and experience the result that very day; some commit evil by day and experience the result by night; some experience the result after two or three days have passed. All of them experience the result in this very life. But, Venerable Nāgasena, is there anyone who, having given a gift with retinue to one, two, three, four, five, ten, a hundred, a thousand, or a hundred thousand people, experiences in this very life wealth, fame, or happiness—or who does so through virtue or the observance of the Uposatha?”
3. “Bạch Đại đức Nāgasena, điều nào có năng lực mạnh mẽ hơn, là thiện hay bất thiện?” “Tâu Đại vương, thiện có năng lực mạnh mẽ hơn, bất thiện không như vậy.” “Bạch Đại đức Nāgasena, trẫm không chấp nhận lời nói ấy: ‘Thiện có năng lực mạnh mẽ hơn, bất thiện không như vậy’. Bạch Đại đức Nāgasena, ở đời này, người ta thấy có những kẻ sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, cướp làng, chặn đường, lừa đảo, gian dối. Tất cả những kẻ ấy vì tội ác chừng ấy mà phải chịu chặt tay, chặt chân, chặt tay chân, cắt tai, cắt mũi, cắt tai mũi, hình phạt nồi cháo sôi, hình phạt đầu cạo trọc như vỏ ốc, hình phạt miệng Rāhu, hình phạt vòng hoa lửa, hình phạt đuốc tay, hình phạt áo cỏ lau, hình phạt áo vỏ cây, hình phạt con nai, hình phạt móc câu thịt, hình phạt cắt thịt bằng đồng tiền, hình phạt rắc nước tro kiềm, hình phạt xoay chốt cửa, hình phạt ngồi trên đống rơm, bị dội dầu sôi, bị chó ăn thịt, bị xiên cọc nhọn lúc còn sống, bị chém đầu bằng gươm. Có kẻ ban đêm làm điều ác, ngay trong đêm liền chịu quả báo. Có kẻ ban đêm làm, ban ngày liền chịu quả báo. Có kẻ ban ngày làm, ban ngày liền chịu quả báo. Có kẻ ban ngày làm, ban đêm liền chịu quả báo. Có kẻ sau hai ba ngày trôi qua mới chịu quả báo. Tất cả họ đều chịu quả báo ngay trong hiện tại. Bạch Đại đức Nāgasena, có ai do cúng dường có vật tùy tùng đến một người, hay hai, hay ba, hay bốn, hay năm, hay mười, hay một trăm, hay một ngàn, hay một trăm ngàn người, hoặc do giữ giới, hoặc do thọ Bát quan trai mà được hưởng tài sản, danh vọng, hay hạnh phúc ngay trong hiện tại không?”
‘‘Atthi, mahārāja, cattāro purisā dānaṃ datvā sīlaṃ samādiyitvā uposathakammaṃ katvā diṭṭheva dhamme teneva sarīradehena tidasapure samanuppattā’’ti †. ‘‘Ko ca ko ca bhante’’ti? ‘‘Mandhātā, mahārāja, rājā, nimi rājā, sādhīno rājā, guttilo ca gandhabbo’’ti.
“There are, great king, four men who, having given gifts, undertaken virtue, and performed the Uposatha observance, in this very life, arose in the city of the Thirty-three with that very body.” “And who are they, venerable sir?” “King Mandhātā, great king, King Nimi, King Sādhīna, and the gandhabba Guttila.”
“Tâu Đại vương, có bốn người do cúng dường, thọ trì giới luật, thực hành ngày Bát quan trai mà ngay trong hiện tại, với chính thân xác ấy, đã sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba.” “Bạch Đại đức, đó là những ai?” “Tâu Đại vương, đó là vua Mandhātā, vua Nimi, vua Sādhīna, và nhạc sĩ Guttila.”
‘‘Bhante nāgasena, anekehi taṃ bhavasahassehi antaritaṃ, dvinnampetaṃ amhākaṃ † parokkhaṃ, yadi samatthosi vattamānake bhave bhagavato dharamānakāle kathehī’’ti? ‘‘Vattamānakepi, mahārāja, bhave puṇṇako dāso therassa sāriputtassa bhojanaṃ datvā tadaheva seṭṭhiṭṭhānaṃ ajjhupagato, so etarahi puṇṇako seṭṭhīti paññāyi, gopālamātā devī attano kese vikkiṇitvā laddhehi aṭṭhahi kahāpaṇehi therassa mahākaccāyanassa attaṭṭhamakassa piṇḍapātaṃ datvā tadaheva rañño candapajjotassa † aggamahesiṭṭhānaṃ pattā. Suppiyā upāsikā aññatarassa gilānabhikkhuno attano ūrumaṃsena paṭicchādanīyaṃ datvā dutiyadivase yeva rūḷhavaṇā sañchavī † arogā jātā. Mallikā devī bhagavato ābhidosikaṃ kummāsapiṇḍaṃ datvā tadaheva rañño kosalassa aggamahesī jātā. Sumano mālākāro aṭṭhahi sumanapupphamuṭṭhīhi bhagavantaṃ pūjetvā taṃ divasaṃ yeva mahāsampattiṃ patto. Ekasāṭako brāhmaṇo uttarasāṭakena bhagavantaṃ pūjetvā taṃ divasaṃ yeva sabbaṭṭhakaṃ labhi, sabbepete, mahārāja, diṭṭhadhammikaṃ bhogañca yasañca anubhaviṃsū’’ti.
“Venerable Nāgasena, that is separated by many thousands of existences, and this matter is beyond the sight of both of us. If you are able, speak of what happened in the present existence, during the time the Blessed One was living.” “Even in the present existence, great king, the slave Puṇṇaka, after giving food to the Elder Sāriputta, attained the position of a banker that very day. He is now known as Puṇṇaka the Banker. Queen Gopālamātā sold her own hair and with the eight coins she received, gave almsfood to the Elder Mahākaccāyana, he being the eighth among them. That very day, she attained the position of chief queen of King Candapajjota. The laywoman Suppiyā gave her own thigh flesh for a meat dish for a certain sick monk, and on the second day her wound was healed, her skin was clear, and she became free from illness. Queen Mallikā gave the Blessed One a lump of sour gruel from the previous evening, and that very day she became the chief queen of the King of Kosala. The garland-maker Sumana, having honored the Blessed One with eight handfuls of jasmine flowers, attained great prosperity that very day. The brahmin with a single robe, having honored the Blessed One with his upper robe, received the ‘all-eights’ that very day. All of these, great king, experienced wealth and fame in this very life.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, việc ấy đã cách xa nhiều ngàn kiếp, và đối với cả hai chúng ta đều là điều không thấy được. Nếu ngài có thể, xin hãy kể những việc xảy ra trong đời hiện tại, vào thời Đức Thế Tôn còn tại thế.” “Tâu Đại vương, ngay trong đời hiện tại, người nô lệ Puṇṇaka sau khi cúng dường vật thực đến Trưởng lão Sāriputta, ngay trong ngày hôm ấy đã đạt được địa vị trưởng giả, và hiện nay được biết đến là trưởng giả Puṇṇaka. Hoàng hậu Gopālamātā sau khi bán tóc của mình lấy được tám đồng kahāpaṇa, đã cúng dường vật thực đến Trưởng lão Mahākaccāyana cùng bảy vị khác, ngay trong ngày hôm ấy đã đạt được địa vị chánh hậu của vua Candapajjota. Nữ cư sĩ Suppiyā sau khi dâng thịt đùi của mình làm món ăn cho một vị tỳ-khưu bị bệnh, ngay ngày hôm sau vết thương đã lành, da dẻ mịn màng, trở nên khỏe mạnh. Hoàng hậu Mallikā sau khi cúng dường bánh bột lúa mạch cũ đến Đức Thế Tôn, ngay trong ngày hôm ấy đã trở thành chánh hậu của vua xứ Kosala. Người làm tràng hoa Sumana sau khi cúng dường tám nắm hoa lài đến Đức Thế Tôn, ngay trong ngày hôm ấy đã đạt được tài sản lớn. Vị Bà-la-môn Ekasāṭaka sau khi cúng dường chiếc y trên đến Đức Thế Tôn, ngay trong ngày hôm ấy đã nhận được tất cả các vật phẩm mỗi thứ tám món. Tâu Đại vương, tất cả những người này đều đã hưởng được tài sản và danh vọng ngay trong hiện tại.”
‘‘Bhante nāgasena, vicinitvā pariyesitvā cha jane yeva addasāsī’’ti. ‘‘Āma, mahārājā’’ti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, akusalaṃ yeva adhimattaṃ balavataraṃ, no tathā kusalaṃ. Ahañhi, bhante nāgasena, ekadivasaṃ yeva dasapi purise passāmi pāpassa kammassa vipākena sūlesu āropente, vīsampi tiṃsampi cattālīsampi paññāsampi purisasatampi purisasahassampi passāmi pāpassa kammassa vipākena sūlesu āropente. Nandakulassa, bhante nāgasena, bhaddasālo nāma senāpatiputto ahosi. Tena ca raññā candaguttena saṅgāmo samupabyūḷho ahosi. Tasmiṃ kho pana, bhante nāgasena, saṅgāme ubhato balakāye asītikabandharūpāni ahesuṃ, ekasmiṃ kira sīsakabandhe paripāte † ekaṃ kabandharūpaṃ uṭṭhahati, sabbepete pāpasseva kammassa vipākena anayabyasanaṃ āpannā. Imināpi, bhante nāgasena, kāraṇena bhaṇāmi akusalaṃ yeva adhimattaṃ balavataraṃ, no tathā kusala’’nti.
“Venerable Nāgasena, having investigated and searched, have you found only six people?” “Yes, great king.” “In that case, Venerable Nāgasena, the unwholesome is indeed exceedingly more powerful, not so the wholesome. For I, Venerable Nāgasena, in a single day see ten men being impaled on stakes as the result of an evil deed; I see twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, even a thousand men being impaled on stakes as the result of an evil deed. Venerable Nāgasena, of the Nanda king, there was a general’s son named Bhaddasāla. King Candagutta waged war against him. In that battle, Venerable Nāgasena, in the armies on both sides there were eighty headless trunks. It is said that when one body fell, a headless trunk would rise. All of these met with ruin and disaster as the result of an evil deed. For this reason too, Venerable Nāgasena, I say that the unwholesome is indeed exceedingly more powerful, not so the wholesome.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, ngài đã tìm kiếm và tra cứu mà chỉ thấy được có sáu người thôi sao?” “Thưa vâng, tâu Đại vương.” “Nếu vậy, bạch Đại đức Nāgasena, bất thiện quả thật có năng lực mạnh mẽ hơn, thiện không như vậy. Bạch Đại đức Nāgasena, chính trẫm chỉ trong một ngày đã thấy mười người, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn người bị xiên cọc do quả báo của ác nghiệp. Bạch Đại đức Nāgasena, có một người con của vị tướng quân tên là Bhaddasāla thuộc dòng dõi Nanda. Người này đã giao chiến với vua Candagutta. Bạch Đại đức Nāgasena, trong trận chiến ấy, ở cả hai bên quân đội có tám mươi thân người không đầu. Tương truyền rằng khi một thân không đầu ngã xuống thì một thân không đầu khác lại đứng lên. Tất cả những người ấy đều gặp phải tai họa bất hạnh do quả báo của ác nghiệp. Bạch Đại đức Nāgasena, cũng vì lý do này, trẫm nói rằng bất thiện quả thật có năng lực mạnh mẽ hơn, thiện không như vậy.”
‘‘Suyyati, bhante nāgasena, imasmiṃ buddhasāsane kosalena raññā asadisadānaṃ dinna’’nti? ‘‘Āma, mahārāja, suyyatī’’ti. ‘‘Api nu kho, bhante nāgasena, kosalarājā taṃ asadisaṃ dānaṃ datvā tatonidānaṃ kañci diṭṭhadhammikaṃ bhogaṃ vā yasaṃ vā sukhaṃ vā paṭilabhī’’ti †? ‘‘Na hi, mahārājā’’ti. ‘‘Yadi, bhante nāgasena, kosalarājā evarūpaṃ anuttaraṃ dānaṃ datvāpi na labhi † tatonidānaṃ kañci diṭṭhadhammikaṃ bhogaṃ vā yasaṃ vā sukhaṃ vā, tena hi, bhante nāgasena, akusalaṃ yeva adhimattaṃ balavataraṃ, no tathā kusala’’nti.
“Venerable Nāgasena, is it heard that in this Dispensation of the Buddha, the King of Kosala gave an unequalled gift?” “Yes, great king, it is heard.” “But, Venerable Nāgasena, did the King of Kosala, after giving that unequalled gift, gain any wealth, fame, or happiness in this very life as a result?” “No, great king.” “If, Venerable Nāgasena, the King of Kosala gave such an unsurpassed gift and yet gained no wealth, fame, or happiness in this very life from it, then surely, Venerable Nāgasena, the unwholesome is exceedingly more powerful, not so the wholesome.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, có nghe nói rằng trong giáo pháp của Đức Phật này, vua xứ Kosala đã thực hiện cuộc bố thí vô song không?” “Thưa vâng, tâu Đại vương, có nghe nói vậy.” “Bạch Đại đức Nāgasena, có phải vua xứ Kosala sau khi thực hiện cuộc bố thí vô song ấy, do nhân duyên đó đã nhận được tài sản, danh vọng, hay hạnh phúc nào ngay trong hiện tại không?” “Thưa không, tâu Đại vương.” “Bạch Đại đức Nāgasena, nếu vua xứ Kosala sau khi thực hiện một cuộc bố thí vô thượng như vậy mà cũng không nhận được tài sản, danh vọng, hay hạnh phúc nào do nhân duyên đó ngay trong hiện tại, thì như vậy, bạch Đại đức Nāgasena, bất thiện quả thật có năng lực mạnh mẽ hơn, thiện không như vậy.”
‘‘Parittattā, mahārāja, akusalaṃ khippaṃ pariṇamati, vipulattā kusalaṃ dīghena kālena pariṇamati, upamāyapi, mahārāja, etaṃ upaparikkhitabbaṃ. Yathā, mahārāja, aparante janapade kumudabhaṇḍikā nāma dhaññajāti māsalūnā † antogehagatā hoti, sālayo chappañcamāsehi pariṇamanti, kiṃ panettha, mahārāja, antaraṃ ko viseso kumudabhaṇḍikāya ca sālīnañcā’’ti? ‘‘Parittattā, bhante, kumudabhaṇḍikāya, vipulattā ca sālīnaṃ. Sālayo, bhante nāgasena, rājārahā rājabhojanaṃ, kumudabhaṇḍikā dāsakammakarānaṃ bhojana’’nti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, parittattā akusalaṃ khippaṃ pariṇamati, vipulattā kusalaṃ dīghena kālena pariṇamatī’’ti.
“Great king, because of its insignificance, the unwholesome ripens quickly; because of its greatness, the wholesome ripens over a long time. This matter, great king, should be examined by way of a simile. Just as, great king, in a border country, a type of grain called kumudabhaṇḍikā is harvested in a month and brought into the house, while fine rice ripens in five or six months. What, great king, is the interval here, what is the difference between kumudabhaṇḍikā and fine rice?” “Venerable sir, it is because of the insignificance of kumudabhaṇḍikā and the greatness of fine rice. Fine rice, Venerable Nāgasena, is fit for a king, a royal food, while kumudabhaṇḍikā is food for slaves and workers.” “Even so, great king, because of its insignificance, the unwholesome ripens quickly; because of its greatness, the wholesome ripens over a long time.”
– Tâu Đại vương, do vì nhỏ nhoi nên việc bất thiện mau chóng trổ quả, do vì to lớn nên việc thiện cần thời gian dài mới trổ quả. Tâu Đại vương, điều này cũng nên được xem xét qua ví dụ. Ví như, tâu Đại vương, ở xứ Aparanta có loại lúa tên là kumudabhaṇḍikā, gặt trong một tháng là đã được đem vào nhà, còn lúa sāli thì phải năm sáu tháng mới chín. Tâu Đại vương, ở đây có sự khác biệt nào, có sự đặc biệt nào giữa lúa kumudabhaṇḍikā và lúa sāli? – Thưa ngài, do vì sự nhỏ nhoi của lúa kumudabhaṇḍikā, và do vì sự to lớn của lúa sāli. Thưa ngài Nāgasena, lúa sāli xứng đáng cho đức vua, là vật thực của đức vua, còn lúa kumudabhaṇḍikā là vật thực của hàng tôi tớ và người làm công. – Cũng vậy, tâu Đại vương, do vì nhỏ nhoi nên việc bất thiện mau chóng trổ quả, do vì to lớn nên việc thiện cần thời gian dài mới trổ quả.
‘‘Yaṃ tattha, bhante nāgasena, khippaṃ pariṇamati, taṃ nāma loke adhimattaṃ balavataraṃ, tasmā akusalaṃ balavataraṃ, no tathā kusalaṃ. Yathā nāma, bhante nāgasena, yo koci yodho mahatimahāyuddhaṃ pavisitvā paṭisattuṃ upakacchake gahetvā ākaḍḍhitvā khippataraṃ sāmino upaneyya, so yodho loke samattho sūro nāma. Yo ca bhisakko khippaṃ sallaṃ uddharati rogamapaneti, so bhisakko cheko nāma. Yo gaṇako sīghasīghaṃ gaṇetvā khippaṃ dassayati, so gaṇako cheko nāma. Yo mallo khippaṃ paṭimallaṃ ukkhipitvā uttānakaṃ pāteti, so mallo samattho sūro nāma. Evameva kho, bhante nāgasena, yaṃ khippaṃ pariṇamati kusalaṃ vā akusalaṃ vā, taṃ loke adhimattaṃ balavatara’’nti.
"Venerable Nāgasena, whatever ripens quickly, that is considered exceedingly powerful in the world. Therefore, the unwholesome is exceedingly more powerful; not so the wholesome. Just as, Venerable Nāgasena, any warrior who enters a great battle, seizes an enemy by the waist, drags him, and quickly brings him before his lord—such a warrior is called capable and heroic in the world. And a physician who quickly extracts a dart and removes a disease is called skilled. An accountant who swiftly calculates and quickly shows the result is called skilled. A wrestler who quickly lifts his opponent and throws him on his back is called a capable hero. In the same way, Venerable Nāgasena, whatever ripens quickly, whether wholesome or unwholesome, that is exceedingly powerful in the world."
– Thưa ngài Nāgasena, trong trường hợp ấy, cái gì mau chóng trổ quả thì cái ấy được gọi là có mãnh lực hơn, có sức mạnh hơn ở trên đời. Do đó, việc bất thiện có sức mạnh hơn, việc thiện thì không như vậy. Ví như, thưa ngài Nāgasena, người lính nào đi vào trận chiến lớn, tóm lấy địch thủ ở vùng nách rồi kéo đi, và mau chóng dâng lên cho chủ của mình, người lính ấy được gọi là người có khả năng, là bậc anh hùng ở trên đời. Vị thầy thuốc nào mau chóng nhổ được mũi tên, trừ được bệnh tật, vị thầy thuốc ấy được gọi là người khéo léo. Người kế toán nào tính toán rất nhanh và mau chóng trình bày, người kế toán ấy được gọi là người khéo léo. Người đô vật nào mau chóng nhấc bổng đối thủ và vật ngửa ra, người đô vật ấy được gọi là người có khả năng, là bậc anh hùng. Cũng vậy, thưa ngài Nāgasena, cái gì mau chóng trổ quả, là thiện hay bất thiện, cái ấy có mãnh lực hơn, có sức mạnh hơn ở trên đời.
‘‘Ubhayampi taṃ, mahārāja, kammaṃ samparāyavedanīyameva, api ca kho akusalaṃ sāvajjatāya khaṇena diṭṭhadhammavedanīyaṃ hoti, pubbakehi, mahārāja, khattiyehi ṭhapito eso niyamo ‘yo pāṇaṃ hanati, so daṇḍāraho…pe… yo adinnaṃ ādiyati…pe… yo paradāraṃ gacchati…pe… yo musā bhaṇati…pe… yo gāmaṃ ghāteti…pe… yo panthaṃ dūseti…pe… yo nikatiṃ karoti…pe… yo vañcanaṃ karoti, so daṇḍāraho vadhitabbo chettabbo bhettabbo hantabbo’ti. Taṃ te upādāya vicinitvā vicinitvā daṇḍenti vadhenti chindanti bhindanti hananti ca, api nu, mahārāja, atthi kehici ṭhapito niyamo ‘yo dānaṃ vā deti, sīlaṃ vā rakkhati, uposathakammaṃ vā karoti, tassa dhanaṃ vā yasaṃ vā dātabba’nti; api nu taṃ vicinitvā vicinitvā dhanaṃ vā yasaṃ vā denti, corassa katakammassa vadhabandhanaṃ viyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Yadi, mahārāja, dāyakānaṃ vicinitvā vicinitvā dhanaṃ vā yasaṃ vā dadeyyuṃ, kusalampi diṭṭhadhammavedanīyaṃ bhaveyya, yasmā ca kho, mahārāja, dāyake na vicinanti ‘dhanaṃ vā yasaṃ vā dassāmā’ti, tasmā kusalaṃ na diṭṭhadhammavedanīyaṃ. Iminā, mahārāja, kāraṇena akusalaṃ diṭṭhadhammavedanīyaṃ, samparāyeva so adhimattaṃ balavataraṃ vedanaṃ vedayatī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, tavādisena buddhimantena vinā neso pañho sunibbeṭhiyo, lokikaṃ, bhante nāgasena, lokuttarena viññāpita’’nti.
“Both kinds of kamma, great king, are to be experienced in a future life. However, unwholesome kamma, due to its blameworthiness, can be experienced instantly in this very life. For, great king, this rule was established by former rulers: ‘Whoever kills a living being deserves punishment… whoever takes what is not given… whoever commits adultery… whoever speaks falsely… whoever destroys a village… whoever molests the highway… whoever deceives… whoever cheats—such a one deserves punishment, to be killed, cut, broken, or struck.’ Taking that as a basis, they investigate thoroughly and then punish, kill, cut, break, and strike. But, great king, has any rule been established by anyone that says, ‘Whoever gives a gift, observes moral virtue, or performs the Uposatha observance—to them wealth or fame should be given’? Do they investigate thoroughly and then bestow wealth or fame, as they do with the execution and imprisonment of a thief for a deed he has committed?” “No, venerable sir.” “If, great king, they were to investigate and then bestow wealth or fame upon donors, wholesome kamma too would be experienced in this very life. But because, great king, they do not investigate donors, thinking, ‘We shall give them wealth or fame,’ wholesome kamma is not experienced in this very life. For this reason, great king, unwholesome kamma is experienced in this very life, and in a future life, he who did it experiences an exceedingly more powerful feeling.” “Excellent, venerable Nāgasena! Without one as wise as you, this question could not be well resolved. The worldly, venerable Nāgasena, has been explained by means of the supramundane.”
– Tâu Đại vương, cả hai nghiệp ấy đều phải được cảm nhận ở đời sau, tuy nhiên việc bất thiện do có tội lỗi nên trong khoảnh khắc có thể được cảm nhận ở hiện tại. Tâu Đại vương, các vị vua đời trước đã thiết lập quy luật này rằng: ‘Người nào sát sanh, người ấy đáng bị trừng phạt... người nào lấy của không cho... người nào đi đến với vợ người... người nào nói dối... người nào phá hoại làng mạc... người nào làm hư con đường... người nào làm điều gian trá... người nào làm điều lừa đảo, người ấy đáng bị trừng phạt, đáng bị xử tử, đáng bị chặt, đáng bị chém, đáng bị đánh đập.’ Do dựa vào điều ấy, sau khi đã điều tra, họ trừng phạt, xử tử, chặt, chém, và đánh đập. Tâu Đại vương, có quy luật nào được ai đó thiết lập rằng: ‘Người nào thực hành bố thí, hoặc giữ gìn giới luật, hoặc thực hành phận sự Uposatha, tài sản hoặc danh vọng nên được ban cho người ấy’ hay không? Sau khi đã điều tra, họ có ban cho tài sản hoặc danh vọng giống như việc xử tử và trói buộc đối với tên trộm đã phạm tội hay không? – Thưa ngài, không có. – Tâu Đại vương, nếu sau khi đã điều tra, họ ban cho tài sản hoặc danh vọng đến những người thí chủ thì việc thiện cũng có thể được cảm nhận ở hiện tại. Tâu Đại vương, do vì họ không điều tra những người thí chủ rằng: ‘Chúng ta sẽ ban cho tài sản hoặc danh vọng,’ cho nên việc thiện không được cảm nhận ở hiện tại. Tâu Đại vương, do vì lý do này nên việc bất thiện được cảm nhận ở hiện tại, còn ở đời sau người ấy cảm nhận cảm thọ có mãnh lực hơn, có sức mạnh hơn. – Lành thay, thưa ngài Nāgasena, nếu không có bậc trí tuệ như ngài thì câu hỏi này không thể được giải đáp tốt đẹp. Thưa ngài Nāgasena, ngài đã dùng pháp siêu thế để giải thích về việc thế gian.
Kusalākusalabalavatarapañho tatiyo.
The Third Question on the Greater Strength of the Wholesome and Unwholesome.
Câu hỏi về thiện và bất thiện, cái nào mạnh hơn, là câu thứ ba.