Bản dịch
MIL 6.3.2 — CÂU HỎI VỀ VIỆC HÀNH KHỔ HẠNH
2. Dukkarakārikapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, toàn bộ tất cả các đức Bồ Tát đều thực hiện việc hành khổ hạnh, hay là việc hành khổ hạnh đã được chỉ riêng Bồ Tát Gotama thực hiện?”
“Tâu đại vương, không có việc hành khổ hạnh đối với tất cả các đức Bồ Tát. Việc hành khổ hạnh đã được chỉ riêng Bồ Tát Gotama thực hiện.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu như vậy thì việc có sự khác biệt giữa các vị Bồ Tát với các vị Bồ Tát là không hợp lý.”
“Tâu đại vương, sự khác biệt giữa các vị Bồ Tát với các vị Bồ Tát là bởi bốn sự kiện. Bởi bốn sự kiện nào? Sự khác biệt về dòng dõi, sự khác biệt về khoảng thời gian, sự khác biệt về tuổi thọ, sự khác biệt về kích thước. Tâu đại vương, sự khác biệt giữa các vị Bồ Tát với các vị Bồ Tát là bởi bốn sự kiện này.
Tâu đại vương, tất cả các vị Bồ Tát không có sự khác biệt về vóc dáng, về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát, về bốn pháp tự tín, về mười Như Lai lực, về sáu trí không phổ thông (đến các vị Thinh Văn), về mười bốn trí của vị Phật, về mười tám pháp của vị Phật, và toàn bộ các đức hạnh của vị Phật. Tất cả chư Phật đều là đồng đẳng về các pháp của vị Phật.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, nếu tất cả chư Phật đều là đồng đẳng về các pháp của vị Phật, thì vì lý do gì mà việc hành khổ hạnh đã được chỉ riêng Bồ Tát Gotama thực hiện?”
“Tâu đại vương, khi trí chưa được chín muồi, khi sự giác ngộ chưa được chín muồi thì đức Bồ Tát Gotama đã ra đi theo hạnh xuất ly. Trong khi đang làm chín muồi trí chưa được chín muồi thì đức Bồ Tát đã thực hiện các việc hành khổ hạnh.”
“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì mà đức Bồ Tát, khi trí chưa được chín muồi, khi sự giác ngộ chưa được chín muồi, lại ra đi theo hạnh xuất ly? Chẳng phải là nên làm chín muồi trí trước, khi trí đã được chín muồi thì sẽ ra đi?”
“Tâu đại vương, đức Bồ Tát sau khi nhìn thấy hậu cung bị lộn xộn, đã có sự ân hận, khi vị ấy có sự ân hận, sự không còn hứng thú đã khởi lên. Sau khi nhận ra tâm không còn hứng thú đã được sanh khởi, một vị Thiên tử nào đó thuộc nhóm của Ma Vương (nghĩ rằng): ‘Đây quả là lúc để xua đi tâm không còn hứng thú,’ rồi đã đứng ở không trung và nói lời nói này: ‘Thưa ngài, thưa ngài, xin ngài chớ bất mãn. Vào ngày thứ bảy kể từ hôm nay, bánh xe báu thuộc cõi trời có ngàn căm, có bánh xe, có trục, được đầy đủ mọi bộ phận, sẽ hiện ra cho ngài. Và các báu vật di chuyển ở trên đất và ngự ở trên trời cũng sẽ tự động di chuyển đến với ngài, mệnh lệnh từ miệng của một mình ngài sẽ vận hành ở bốn châu lục và hai ngàn đảo nhỏ phụ thuộc, ngài sẽ có hơn một ngàn con trai, là những dũng sĩ có dáng vóc và chi thể của người anh hùng, có sự nghiền nát đạo quân đối phương. Được tháp tùng bởi những người con trai ấy, được thành tựu bảy báu vật, ngài sẽ lãnh đạo bốn châu lục.’
Tâu đại vương, giống như cái cọc sắt bị đốt lửa nguyên ngày, đang được nung nóng toàn bộ, rồi xuyên vào lỗ tai, tâu đại vương, lời nói ấy đã đi vào lỗ tai của đức Bồ Tát tương tợ y như thế. Tóm lại, vị ấy lúc bình thường vốn đã bị bất mãn, vì lời nói của vị Thiên nhân ấy, đã bị dao động, đã bị chấn động, đã đạt đến trạng thái chấn động với mức độ nhiều hơn nữa.
Tâu đại vương, hoặc là giống như khối lửa to lớn khổng lồ đang cháy sáng, được bỏ thêm củi khác vào thì có thể cháy sáng thêm hơn nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Bồ Tát lúc bình thường vốn đã bị bất mãn, vì lời nói của vị Thiên nhân ấy, đã bị dao động, đã bị chấn động, đã đạt đến trạng thái chấn động với mức độ nhiều hơn nữa.
Tâu đại vương, hoặc là giống như đại địa cầu, bình thường đã bị ẩm ướt, có những vùng cỏ xanh mới mọc, có nước tưới lên, trở thành lầy lội, có thể trở nên lầy lội hơn với mức độ nhiều hơn khi có cơn mưa lớn lại đổ xuống lần nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Bồ Tát lúc bình thường vốn đã bị bất mãn, vì lời nói của vị Thiên nhân ấy, đã bị dao động, đã bị chấn động, đã đạt đến trạng thái chấn động với mức độ nhiều hơn nữa.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, nếu vào ngày thứ bảy bánh xe báu thuộc cõi trời sanh lên cho đức Bồ Tát, có phải khi bánh xe báu thuộc cõi trời được sanh lên thì đức Bồ Tát sẽ quay trở lui lại?”
“Tâu đại vương, bởi vì vào ngày thứ bảy bánh xe báu thuộc cõi trời không sanh lên cho đức Bồ Tát, thì vị Thiên nhân ấy đã nói lời nói dối nhằm khêu gợi lòng tham. Tâu đại vương, nếu vào ngày thứ bảy bánh xe báu thuộc cõi trời sanh lên, thì đức Bồ Tát sẽ không quay trở lui. Vì lý do gì? Tâu đại vương, đức Bồ Tát đã nắm giữ chắc chắn rằng: ‘Là vô thường,’ đã nắm giữ chắc chắn rằng: ‘Là khổ não, là vô ngã,’ đã đạt đến sự cạn kiệt về chấp thủ.
Tâu đại vương, giống như nước từ hồ nước Anotatta chảy vào sông Gaṅgā, từ sông Gaṅgā chảy vào đại dương, từ đại dương đi vào miệng của lòng trái đất, phải chăng nước ấy từ miệng của lòng trái đất có thể quay trở lui lại rồi chảy vào đại dương, từ đại dương chảy vào sông Gaṅgā, từ sông Gaṅgā chảy vào lại hồ Anotatta?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế pháp thiện đã được đức Bồ Tát làm cho chín muồi trong bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp vì lý do của lần hiện hữu này. Vị ấy đấy, có lần hiện hữu sau cùng đã được đạt đến, có trí giác ngộ đã được chín muồi, sau sáu năm sẽ trở thành đức Phật, đấng Toàn Tri, nhân vật cao cả ở thế gian. Tâu đại vương, có phải đức Bồ Tát có thể quay trở lại vì lý do bánh xe báu?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Tâu đại vương, thêm nữa đại địa cầu với rừng với núi có thể lật ngược lại, nhưng đức Bồ Tát không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được phẩm vị Chánh Đẳng Giác. Tâu đại vương, nếu nước của sông Gaṅgā cũng có thể chảy ngược dòng, nhưng đức Bồ Tát không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được phẩm vị Chánh Đẳng Giác. Tâu đại vương, nếu đại dương, với sự chứa đựng lượng nước vô hạn, cũng có thể khô cạn như là nước ở dấu chân bò, nhưng đức Bồ Tát không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được phẩm vị Chánh Đẳng Giác. Tâu đại vương, nếu núi chúa Sineru cũng có thể đổ vỡ thành trăm mảnh, nhưng đức Bồ Tát không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được phẩm vị Chánh Đẳng Giác. Tâu đại vương, nếu mặt trăng và mặt trời luôn cả các vì sao cũng có thể rơi xuống như là cục đất rơi xuống mặt đất, nhưng đức Bồ Tát không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được phẩm vị Chánh Đẳng Giác. Tâu đại vương, nếu bầu trời cũng có thể cuộn tròn như là chiếc chiếu, nhưng đức Bồ Tát không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được phẩm vị Chánh Đẳng Giác. Vì lý do gì? Vì trạng thái đã được phá vỡ đối với tất cả các sự trói buộc.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, có bao nhiêu sự trói buộc ở thế gian?”
“Tâu đại vương, đây là mười sự trói buộc ở thế gian, bị trói buộc bởi những sự trói buộc này chúng sanh không thể ra đi, sau khi ra đi rồi cũng quay trở lui.
Mười sự trói buộc nào?
Tâu đại vương, mẹ là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, cha là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, vợ là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, các con là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, thân quyến là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, bạn bè là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, tài sản là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, lợi lộc và sự tôn vinh là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, quyền uy là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, năm loại dục là sự trói buộc ở thế gian.
Tâu đại vương, đây là mười sự trói buộc ở thế gian, bị trói buộc bởi những sự trói buộc này chúng sanh không thể ra đi, sau khi ra đi rồi cũng quay trở lui. Mười sự trói buộc ấy của đức Bồ Tát đã bị chặt đứt, đã bị tách ra, đã bị phá vỡ. Tâu đại vương, vì thế đức Bồ Tát không quay trở lui.”
BJT 5“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Bồ Tát, khi tâm không còn hứng thú đã được sanh khởi, do lời nói của vị Thiên nhân mà ra đi theo hạnh xuất ly vào lúc trí chưa được chín muồi, vào lúc sự giác ngộ chưa được chín muồi, và do việc hành khổ hạnh đã được thực hiện thì vị ấy có được điều gì? Chẳng lẽ sự chín muồi của trí sẽ được tu tập bởi người đang mong đợi nhờ vào tất cả các loại vật thực?”
“Tâu đại vương, mười hạng người này ở thế gian bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến.
Mười hạng nào? Tâu đại vương, người nữ là góa phụ ở thế gian bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến.
- Tâu đại vương, người yếu đuối,
- Tâu đại vương, người không bạn bè và thân quyến,
- Tâu đại vương, người ham ăn,
- Tâu đại vương, người chưa sống ở nhà của thầy giáo,
- Tâu đại vương, người có bạn ác,
- Tâu đại vương, người thấp kém về tài sản,
- Tâu đại vương, người thấp kém về tánh hạnh,
- Tâu đại vương, người thấp kém về nghiệp,
- Tâu đại vương, người thấp kém về sự gắng sức ở thế gian bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến.
Tâu đại vương, đây là mười hạng người ở thế gian bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến.
Tâu đại vương, trong khi nhớ lại mười trường hợp này, đức Bồ Tát có ý tưởng như vầy đã sanh khởi: ‘Ta chớ có trở thành người thấp kém về nghiệp, thấp kém về sự gắng sức, bị chư Thiên và loài người chê trách. Tốt hơn ta nên là chủ nhân của nghiệp, nên sống không xao lãng, có sự tôn trọng nghiệp, có sự làm chủ đối với nghiệp, có thói quen ở nghiệp, có hành trang là nghiệp, có chỗ ngụ ở trong nghiệp’ Tâu đại vương, đức Bồ Tát trong khi làm chín muồi trí đã thực hiện việc hành khổ hạnh như thế.”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, đức Bồ Tát, trong khi thực hiện việc hành khổ hạnh, đã nói như vầy: ‘Do việc hành khổ hạnh nhức nhối này, ta không chứng đắc các pháp thượng nhân, pháp đặc biệt thuộc về trí tuệ và sự thấy biết xứng đáng bậc Thánh; có thể có đạo lộ khác đưa đến sự giác ngộ?’ Có phải vào lúc ấy đức Bồ Tát đã có sự mất mát về trí nhớ liên quan đến đạo lộ?”
“Tâu đại vương, đây là hai mươi lăm pháp làm tâm yếu đuối, tâm bị chúng làm yếu đuối không được tập trung đúng đắn để diệt trừ các lậu hoặc.
Hai mươi lăm pháp nào? Tâu đại vương, sự giận dữ làm tâm yếu đuối, tâm bị nó làm yếu đuối không được tập trung đúng đắn để diệt trừ các lậu hoặc. Tâu đại vương, sự thù hằn, gièm pha, ác ý, ganh tỵ, bỏn xẻn, xảo trá, bội bạc, bướng bỉnh, hung hăng, ngã mạn, kiêu căng, đam mê, xao lãng, dã dượi buồn ngủ, uể oải, lười biếng, bạn xấu, các sắc, các thinh, các hương, các vị, các xúc, sự đói, sự khát, sự không hứng thú làm tâm yếu đuối, tâm bị nó làm yếu đuối không được tập trung đúng đắn để diệt trừ các lậu hoặc. Tâu đại vương, đây là hai mươi lăm pháp làm tâm yếu đuối, tâm bị chúng làm yếu đuối không được tập trung đúng đắn để diệt trừ các lậu hoặc.
Tâu đại vương, hơn nữa thân thể của đức Bồ Tát đã bị kiệt quệ vì sự đói khát, khi thân thể bị kiệt quệ tâm không được tập trung đúng đắn để diệt trừ các lậu hoặc. Tâu đại vương, trong bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp, đức Bồ Tát đã theo đuổi sự chứng ngộ về bốn Chân Lý Cao Thượng ở những kiếp sống ấy. Vậy thì tại sao ở lần hiện hữu cuối cùng của vị ấy, kiếp sống của sự chứng ngộ, lại có sự mất mát về trí nhớ liên quan đến đạo lộ? Tâu đại vương, thêm nữa đức Bồ Tát đã có ý tưởng sanh khởi rằng: ‘Có thể có đạo lộ khác đưa đến giác ngộ?’ Tâu đại vương, quả là trước đây, đức Bồ Tát, vào lúc một tháng tuổi, ở nơi công trường của người cha và dòng Sakya, tại bóng mát của cây mận đỏ, tại chiếc giường lộng lẫy, đã ngồi, xếp chân vào thế kiết già, sau khi tách ly hẳn các dục, tách ly các bất thiện pháp, đạt đến và an trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ lạc sanh lên do sự tách ly.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy. Trong khi làm chín muồi trí tuệ, đức Bồ Tát đã thực hiện việc hành khổ hạnh.”
Câu hỏi về việc hành khổ hạnh là thứ hai.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. ‘‘Bhante nāgasena, sabbeva bodhisattā dukkarakārikaṃ karonti, udāhu gotameneva bodhisattena dukkarakārikā katā’’ti? ‘‘Natthi, mahārāja, sabbesaṃ bodhisattānaṃ dukkarakārikā, gotameneva bodhisattena dukkarakārikā katā’’ti.
2. “Venerable Nāgasena, do all Bodhisattas perform austere practice, or was it only the Bodhisatta Gotama who performed austere practice?” “No, great king, not all Bodhisattas perform austere practice; it was only the Bodhisatta Gotama who performed austere practice.”
2. ‘Bạch ngài Nāgasena, có phải tất cả các vị Bồ-tát đều thực hành khổ hạnh, hay chỉ có Bồ-tát Gotama đã thực hành khổ hạnh?’ ‘Tâu Đại vương, không phải tất cả các vị Bồ-tát đều thực hành khổ hạnh, chỉ có Bồ-tát Gotama đã thực hành khổ hạnh.’
‘‘Bhante nāgasena, yadi evaṃ ayuttaṃ, yaṃ bodhisattānaṃ bodhisattehi vemattatā hotī’’ti. ‘‘Catūhi, mahārāja, ṭhānehi bodhisattānaṃ bodhisattehi vemattatā hoti. Katamehi catūhi? Kulavemattatā padhānavemattatā † āyuvemattatā pamāṇavemattatāti. Imehi kho, mahārāja, catūhi ṭhānehi bodhisattānaṃ bodhisattehi vemattatā hoti. Sabbesampi, mahārāja, buddhānaṃ rūpe sīle samādhimhi paññāya vimuttiyā vimuttiñāṇadassane catuvesārajje dasatathāgatabale chaasādhāraṇañāṇe cuddasabuddhañāṇe aṭṭhārasabuddhadhamme kevale ca buddhaguṇe † natthi vemattatā, sabbepi buddhā buddhadhammehi samasamā’’ti.
“Venerable Nāgasena, if that is so, is it not improper that there should be diversity among Bodhisattas?” “There are four grounds, great king, for diversity among Bodhisattas. What are the four? Diversity in family, diversity in striving, diversity in lifespan, and diversity in physical stature. By these four grounds, great king, there is diversity among Bodhisattas. But among all the Buddhas, great king, there is no diversity in form, morality, concentration, wisdom, liberation, the knowledge and vision of liberation, the four kinds of intrepidity, the ten Tathāgata-powers, the six kinds of knowledge not common to others, the fourteen Buddha-knowledges, the eighteen Buddha-qualities, and the totality of Buddha-qualities. All Buddhas are equal in Buddha-qualities.”
‘Bạch ngài Nāgasena, nếu vậy thì không hợp lý khi có sự khác biệt giữa các vị Bồ-tát.’ ‘Tâu Đại vương, có sự khác biệt giữa các vị Bồ-tát ở bốn phương diện. Bốn phương diện ấy là gì? Đó là sự khác biệt về dòng dõi, sự khác biệt về sự tinh tấn, sự khác biệt về tuổi thọ, và sự khác biệt về thân tướng. Tâu Đại vương, chính do bốn phương diện này mà có sự khác biệt giữa các vị Bồ-tát. Tâu Đại vương, đối với tất cả các vị Phật, không có sự khác biệt nào về sắc thân, về giới, về định, về tuệ, về giải thoát, về giải thoát tri kiến, về bốn pháp vô sở úy, về mười lực của Như Lai, về sáu pháp bất cộng, về mười bốn Phật trí, về mười tám pháp bất cộng của Phật, và về toàn bộ các Phật đức. Tất cả các vị Phật đều bình đẳng về các Phật pháp.’
‘‘Yadi, bhante nāgasena, sabbepi buddhā buddhadhammehi samasamā, kena kāraṇena gotameneva bodhisattena dukkarakārikā katā’’ti? ‘‘Aparipakke, mahārāja, ñāṇe aparipakkāya bodhiyā gotamo bodhisatto nekkhammamabhinikkhanto aparipakkaṃ ñāṇaṃ paripācayamānena dukkarakārikā katā’’ti.
“But if, Venerable Nāgasena, all Buddhas are equal in Buddha-qualities, for what reason was it only the Bodhisatta Gotama who performed austere practice?” “Because his knowledge was unripe, great king, and his enlightenment was unripe, the Bodhisatta Gotama went forth into homelessness. He performed austere practice in order to ripen that unripe knowledge.”
‘Bạch ngài Nāgasena, nếu tất cả các vị Phật đều bình đẳng về các Phật pháp, vì lý do gì chỉ có Bồ-tát Gotama đã thực hành khổ hạnh?’ ‘Tâu Đại vương, Bồ-tát Gotama đã xuất gia khi trí tuệ chưa thuần thục, khi sự giác ngộ chưa thuần thục. Ngài đã thực hành khổ hạnh để làm cho trí tuệ chưa thuần thục được trở nên thuần thục.’
‘‘Bhante nāgasena, kena kāraṇena bodhisatto aparipakke ñāṇe aparipakkāya bodhiyā mahābhinikkhamanaṃ nikkhanto, nanu nāma ñāṇaṃ paripācetvā paripakke ñāṇe nikkhamitabba’’nti?
“Venerable Nāgasena, for what reason did the Bodhisatta go forth in the Great Renunciation while his knowledge was unripe and his enlightenment unripe? Surely, one should go forth only after ripening one’s knowledge and when one’s knowledge is ripened?”
‘Bạch ngài Nāgasena, vì lý do gì Bồ-tát đã thực hiện cuộc đại xuất gia khi trí tuệ chưa thuần thục, khi sự giác ngộ chưa thuần thục? Chẳng phải ngài nên làm cho trí tuệ thuần thục rồi mới xuất gia khi trí tuệ đã thuần thục hay sao?’
‘‘Bodhisatto, mahārāja, viparītaṃ itthāgāraṃ disvā vippaṭisārī ahosi, tassa vippaṭisārissa arati uppajji, araticittaṃ uppannaṃ disvā aññataro mārakāyiko devaputto ‘ayaṃ kho kālo araticittassa vinodanāyā’ti vehāse ṭhatvā idaṃ vacanamabravi –
“The Bodhisatta, great king, saw the women's quarters in disarray and became remorseful. For the remorseful one, discontent arose. Seeing that a mind of discontent had arisen, a certain devaputta belonging to Māra’s host, standing in the sky, said these words: ‘Now is the time for dispelling the mind of discontent.’”
‘Tâu Đại vương, Bồ-tát khi nhìn thấy cảnh tượng hỗn loạn của các cung nữ thì sanh lòng hối hận. Do lòng hối hận ấy, sự bất mãn khởi lên nơi ngài. Thấy tâm bất mãn đã sanh khởi, một vị thiên tử thuộc chúng của Ma vương nghĩ rằng: ‘Đây chính là lúc để xua tan tâm bất mãn này,’ rồi đứng trên hư không và nói lời này –
‘‘Mārisa, mā kho tvaṃ ukkaṇṭhito ahosi, ito te sattame divase dibbaṃ cakkaratanaṃ pātubhavissati sahassāraṃ sanemikaṃ sanābhikaṃ sabbākāraparipūraṃ, pathavigatāni ca te ratanāni ākāsaṭṭhāni ca sayameva upagacchissanti, dvisahassaparittadīpaparivāresu catūsu mahādīpesu ekamukhena āṇā pavattissati, parosahassañca te puttā bhavissanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā, tehi puttehi parikiṇṇo sattaratanasamannāgato catuddīpamanusāsissasī’ti.
“Sir, do not be discontented. On the seventh day from now, a divine wheel-treasure will appear to you—a thousand-spoked, with rim and hub, complete in every way. And the treasures that belong to the earth and those that stand in the sky will come to you of their own accord. Your command will prevail with one voice in the four great continents surrounded by two thousand peripheral isles. You will have more than a thousand sons, brave and heroic, crushers of foreign armies. Surrounded by these sons and endowed with the seven treasures, you will rule the four continents.”
‘Này bạn, bạn chớ có bất mãn. Kể từ hôm nay, vào ngày thứ bảy, bánh xe báu thiêng liêng sẽ xuất hiện cho bạn, có một ngàn căm, có vành, có trục, đầy đủ mọi phương diện. Các báu vật của bạn ở dưới đất và ở trên không cũng sẽ tự động tìm đến. Quyền lực của bạn sẽ được thi hành một cách thống nhất trên bốn đại châu, được bao quanh bởi hai ngàn tiểu châu. Bạn sẽ có hơn một ngàn người con trai, là những người dũng cảm, có tướng mạo anh hùng, có thể đè bẹp quân đội của kẻ thù. Được các con trai ấy vây quanh, đầy đủ bảy báu, bạn sẽ cai trị bốn châu.’
‘‘Yathā nāma divasasantattaṃ ayosūlaṃ sabbattha upaḍahantaṃ kaṇṇasotaṃ paviseyya, evameva kho, mahārāja, bodhisattassa taṃ vacanaṃ kaṇṇasotaṃ pavisittha, iti so pakatiyāva ukkaṇṭhito tassā devatāya vacanena bhiyyosomattāya ubbijji saṃvijji saṃvegamāpajji.
“Just as an iron spike heated all day might enter the ear canal, burning everywhere, so too, great king, did that deity’s words enter the Bodhisatta’s ear canal. Thus, as he was already naturally discontented, by that deity’s words he became even more agitated, alarmed, and filled with a sense of urgency.”
‘Tâu Đại vương, ví như một cây cọc sắt được nung nóng suốt cả ngày, đang cháy rực khắp nơi, đâm vào lỗ tai, cũng vậy, lời nói ấy đã đi vào lỗ tai của Bồ-tát. Do đó, ngài vốn đã bất mãn, nay lại vì lời nói của vị thiên tử ấy mà càng thêm kinh hãi, lo sợ, và cảm thấy cấp bách phải ra đi.’
‘‘Yathā pana, mahārāja, mahatimahāaggikkhandho jalamāno aññena kaṭṭhena upaḍahito bhiyyosomattāya jaleyya, evameva kho, mahārāja, bodhisatto pakatiyāva ukkaṇṭhito tassā devatāya vacanena bhiyyosomattāya ubbijji saṃvijji saṃvegamāpajji.
“Just as, great king, a great mass of blazing fire, when fueled by other wood, would burn even more intensely, just so, great king, the Bodhisatta, already naturally discontented, became even more agitated, alarmed, and filled with a sense of urgency at the words of that deity.”
– Tâu Đại vương, ví như một đống lửa lớn đang cháy, nếu được thêm củi vào thì sẽ cháy bùng lên dữ dội hơn; cũng vậy, tâu Đại vương, Bồ-tát vốn đã chán ngán, do lời nói của vị thiên nhân ấy lại càng kinh sợ, hãi hùng, và xúc động hơn nữa.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, mahāpathavī pakatitintā nibbattaharitasaddalā āsittodakā cikkhallajātā punadeva mahāmeghe abhivuṭṭhe bhiyyosomattāya cikkhallatarā assa, evameva kho, mahārāja, bodhisatto pakatiyāva ukkaṇṭhito tassā devatāya vacanena bhiyyosomattāya ubbijji saṃvijji saṃvegamāpajjī’’ti.
“Or just as, great king, the great earth, naturally moist, producing fresh green grass, soaked with water, and turned to mud, would become even muddier when a great rain cloud pours down again, so too, great king, the Bodhisatta, already naturally discontented, became even more agitated, alarmed, and filled with a sense of urgency by that deity’s words.”
– Hoặc ví như, tâu Đại vương, mặt đất lớn vốn đã ẩm ướt, có cỏ non xanh tươi mọc lên, được tưới nước trở nên lầy lội, nếu lại có một trận mưa lớn trút xuống nữa thì sẽ càng trở nên lầy lội hơn; cũng vậy, tâu Đại vương, Bồ-tát vốn đã chán ngán, do lời nói của vị thiên nhân ấy lại càng kinh sợ, hãi hùng, và xúc động hơn nữa.
‘‘Api nu kho, bhante nāgasena, bodhisattassa yadi sattame divase dibbaṃ cakkaratanaṃ nibbatteyya, paṭinivatteyya bodhisatto dibbe cakkaratane nibbatte’’ti? ‘‘Na hi, mahārāja, sattame divase bodhisattassa dibbaṃ cakkaratanaṃ nibbatteyya, api ca palobhanatthāya tāya devatāya musā bhaṇitaṃ, yadipi, mahārāja, sattame divase dibbaṃ cakkaratanaṃ nibbatteyya, bodhisatto na nivatteyya. Kiṃ kāraṇaṃ? ‘Anicca’nti, mahārāja, bodhisatto daḷhaṃ aggahesi, ‘dukkhaṃ anattā’ti daḷhaṃ aggahesi, upādānakkhayaṃ patto.
“But, Venerable Nāgasena, if the divine wheel-treasure were to appear to the Bodhisatta on the seventh day, would the Bodhisatta turn back when the divine wheel-treasure appeared?” “No, great king, the divine wheel-treasure would not appear to the Bodhisatta on the seventh day. Moreover, that deity spoke falsely to entice him. Even if, great king, the divine wheel-treasure were to appear on the seventh day, the Bodhisatta would not turn back. What is the reason? The Bodhisatta firmly grasped ‘Impermanent.’ He firmly grasped ‘Suffering’ and ‘Not-self.’ He had attained the destruction of clinging.”
– Thưa ngài Nāgasena, nếu vào ngày thứ bảy, bánh xe báu cõi trời hiện ra cho Bồ-tát, liệu Bồ-tát có quay trở lại khi bánh xe báu cõi trời hiện ra không? – Tâu Đại vương, vào ngày thứ bảy, bánh xe báu cõi trời sẽ không hiện ra cho Bồ-tát đâu. Hơn nữa, lời nói ấy của vị thiên nhân là lời nói dối, nhằm mục đích dụ dỗ. Tâu Đại vương, cho dù vào ngày thứ bảy, bánh xe báu cõi trời có hiện ra đi nữa, Bồ-tát cũng sẽ không quay trở lại. Vì sao vậy? Tâu Đại vương, vì Bồ-tát đã nắm vững ‘vô thường,’ đã nắm vững ‘khổ, vô ngã,’ đã đạt đến sự đoạn tận của chấp thủ.
‘‘Yathā, mahārāja, anotattadahato udakaṃ gaṅgaṃ nadiṃ pavisati, gaṅgāya nadiyā mahāsamuddaṃ pavisati, mahāsamuddato pātālamukhaṃ pavisati, api nu, mahārāja, taṃ udakaṃ pātālamukhagataṃ paṭinivattitvā mahāsamuddaṃ paviseyya, mahāsamuddato gaṅgaṃ nadiṃ paviseyya, gaṅgāya nadiyā puna anotattaṃ paviseyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, bodhisattena kappānaṃ satasahassaṃ caturo ca asaṅkhyeyye kusalaṃ paripācitaṃ imassa bhavassa kāraṇā, soyaṃ antimabhavo anuppatto paripakkaṃ bodhiñāṇaṃ chahi vassehi buddho bhavissati sabbaññū loke aggapuggalo, api nu kho, mahārāja, bodhisatto cakkaratanakāraṇā † paṭinivatteyyā’’ti †? ‘‘Na hi, bhante’’ti.
“Great king, just as water from Lake Anotatta flows into the Ganges river, from the Ganges river it flows into the great ocean, and from the great ocean it enters the mouth of the abyss—could that water, having entered the mouth of the abyss, turn back and re-enter the great ocean, from the great ocean re-enter the Ganges river, and from the Ganges river return once more to Lake Anotatta?” “No, venerable sir.” “Just so, great king, the Bodhisatta has cultivated merit for four incalculable periods and a hundred thousand aeons for the sake of this existence. He has now reached his final existence, his knowledge of enlightenment is mature, and in six years he will become a Buddha, the All-Knowing One, the foremost person in the world. Could the Bodhisatta turn back for the sake of a wheel-treasure?” “No, venerable sir.”
– Tâu Đại vương, ví như nước từ hồ Anotatta chảy vào sông Hằng, từ sông Hằng chảy vào biển lớn, từ biển lớn chảy vào vực thẳm Pātāla; tâu Đại vương, liệu dòng nước ấy, khi đã chảy vào vực thẳm Pātāla, có thể quay ngược trở lại để vào biển lớn, từ biển lớn vào sông Hằng, từ sông Hằng lại vào hồ Anotatta được không? – Thưa không, bạch ngài. – Cũng vậy, tâu Đại vương, Bồ-tát đã vun bồi các thiện pháp trong bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp vì mục đích của kiếp sống này. Ngài đã đi đến kiếp sống cuối cùng này, trí tuệ giác ngộ đã chín muồi, trong sáu năm nữa sẽ thành Phật, bậc Toàn Tri, là nhân vật tối thượng trong thế gian. Tâu Đại vương, liệu Bồ-tát có thể vì một bánh xe báu mà quay trở lại không? – Thưa không, bạch ngài.
‘‘Api ca, mahārāja, mahāpathavī parivatteyya sakānanā sapabbatā, natveva bodhisatto paṭinivatteyya apatvā sammāsambodhiṃ. Āroheyyapi ce, mahārāja, gaṅgāya udakaṃ paṭisotaṃ, natveva bodhisatto paṭinivatteyya apatvā sammāsambodhiṃ; visusseyyapi ce, mahārāja, mahāsamuddo aparimitajaladharo gopade udakaṃ viya, natveva bodhisatto paṭinivatteyya apatvā sammāsambodhiṃ; phaleyyapi ce, mahārāja, sinerupabbatarājā satadhā vā sahassadhā vā, natveva bodhisatto paṭinivatteyya apatvā sammāsambodhiṃ; pateyyumpi ce, mahārāja, candimasūriyā satārakā leḍḍu viya chamāyaṃ, natveva bodhisatto paṭinivatteyya apatvā sammāsambodhiṃ; saṃvatteyyapi ce, mahārāja, ākāso kilañjamiva, natveva bodhisatto paṭinivatteyya apatvā sammāsambodhiṃ. Kiṃ kāraṇā? Padālitattā sabbabandhanāna’’nti.
“Moreover, great king, the great earth with its forests and mountains might turn over, but the Bodhisatta would not turn back without attaining perfect enlightenment. Even, great king, if the waters of the Ganges were to flow upstream, the Bodhisatta would not turn back without attaining perfect enlightenment. Even, great king, if the great ocean with its immeasurable waters were to dry up like water in a cow’s hoofprint, the Bodhisatta would not turn back without attaining perfect enlightenment. Even, great king, if Mount Sineru, the king of mountains, were to split into a hundred or a thousand pieces, the Bodhisatta would not turn back without attaining perfect enlightenment. Even, great king, if the sun and moon with their stars were to fall to the ground like clods of earth, the Bodhisatta would not turn back without attaining perfect enlightenment. Even, great king, if the sky were to roll up like a mat, the Bodhisatta would not turn back without attaining perfect enlightenment. What is the reason? Because all bonds have been broken.”
– Hơn nữa, tâu Đại vương, mặt đất lớn cùng với rừng và núi có thể lật ngược lại, nhưng Bồ-tát sẽ không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được Chánh Đẳng Giác. Tâu Đại vương, nước sông Hằng có thể chảy ngược dòng, nhưng Bồ-tát sẽ không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được Chánh Đẳng Giác. Tâu Đại vương, biển lớn chứa đựng lượng nước không lường có thể khô cạn như nước trong dấu chân bò, nhưng Bồ-tát sẽ không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được Chánh Đẳng Giác. Tâu Đại vương, vua núi Sineru có thể vỡ tan thành trăm mảnh hay ngàn mảnh, nhưng Bồ-tát sẽ không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được Chánh Đẳng Giác. Tâu Đại vương, mặt trăng, mặt trời cùng các vì sao có thể rơi xuống đất như những hòn đất, nhưng Bồ-tát sẽ không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được Chánh Đẳng Giác. Tâu Đại vương, bầu trời có thể cuộn lại như một tấm chiếu, nhưng Bồ-tát sẽ không bao giờ quay trở lại khi chưa đạt được Chánh Đẳng Giác. Vì sao vậy? Vì ngài đã phá tan tất cả mọi ràng buộc.
‘‘Bhante nāgasena, kati loke bandhanānī’’ti? ‘‘Dasa kho panimāni, mahārāja, loke bandhanāni, yehi bandhanehi baddhā sattā na nikkhamanti, nikkhamitvāpi paṭinivattanti. Katamāni dasa? Mātā, mahārāja, loke bandhanaṃ, pitā, mahārāja, loke bandhanaṃ, bhariyā, mahārāja, loke bandhanaṃ, puttā, mahārāja, loke bandhanaṃ, ñātī, mahārāja, loke bandhanaṃ, mittaṃ, mahārāja, loke bandhanaṃ, dhanaṃ, mahārāja, loke bandhanaṃ, lābhasakkāro, mahārāja, loke bandhanaṃ, issariyaṃ, mahārāja, loke bandhanaṃ, pañca kāmaguṇā, mahārāja, loke bandhanaṃ, imāni kho mahārāja dasa loke bandhanāni, yehi bandhanehi baddhā sattā na nikkhamanti, nikkhamitvāpi paṭinivattanti, tāni dasa bandhanāni bodhisattassa chinnāni padālitāni, tasmā, mahārāja, bodhisatto na paṭinivattatī’’ti.
"Venerable Nāgasena, how many bonds are there in the world?" "There are, great king, these ten bonds in the world by which beings are bound and cannot escape; and even if they escape, they return. What are these ten? A mother, great king, is a bond in the world. A father, great king, is a bond in the world. A wife, great king, is a bond in the world. Children, great king, are a bond in the world. Relatives, great king, are a bond in the world. Friends, great king, are a bond in the world. Wealth, great king, is a bond in the world. Gain and honor, great king, are a bond in the world. Power, great king, is a bond in the world. The five strands of sensual pleasure, great king, are a bond in the world. These, great king, are the ten bonds in the world by which beings are bound and cannot escape; and even if they escape, they return. But these ten bonds were cut and shattered by the Bodhisatta; therefore, great king, the Bodhisatta does not turn back."
– Thưa ngài Nāgasena, ở thế gian có bao nhiêu sự ràng buộc? – Tâu Đại vương, ở thế gian có mười sự ràng buộc này, chúng sanh bị những ràng buộc này trói buộc thì không thoát ra được, mà dù có thoát ra được cũng lại quay trở về. Mười điều ấy là gì? Tâu Đại vương, mẹ là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, cha là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, vợ là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, con cái là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, quyến thuộc là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, bạn bè là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, của cải là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, lợi lộc và danh vọng là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, quyền lực là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, năm dục là một sự ràng buộc ở thế gian. Tâu Đại vương, đây là mười sự ràng buộc ở thế gian, chúng sanh bị những ràng buộc này trói buộc thì không thoát ra được, mà dù có thoát ra được cũng lại quay trở về. Mười sự ràng buộc ấy đã được Bồ-tát cắt đứt, phá tan. Vì vậy, tâu Đại vương, Bồ-tát không quay trở lại.
‘‘Bhante nāgasena, yadi bodhisatto uppanne araticitte devatāya vacanena aparipakke ñāṇe aparipakkāya bodhiyā nekkhammamabhinikkhanto, kiṃ tassa dukkarakārikāya katāya, nanu nāma sabbabhakkhena bhavitabbaṃ ñāṇaparipākaṃ āgamayamānenā’’ti?
"Venerable Nāgasena, if the Bodhisatta, when discontent had arisen in his mind, went forth into homelessness at the words of a deity, with immature knowledge and unripe enlightenment, what was gained by his arduous practice? Surely, he should have waited for the maturation of his knowledge by consuming all kinds of food?"
– Thưa ngài Nāgasena, nếu Bồ-tát, khi tâm chán nản khởi lên do lời nói của vị thiên nhân, đã xuất gia trong khi trí tuệ chưa chín muồi, sự giác ngộ chưa chín muồi, thì việc thực hành khổ hạnh của ngài có ích lợi gì? Chẳng phải ngài nên ăn uống đầy đủ mọi thứ trong khi chờ đợi trí tuệ chín muồi hay sao?
‘‘Dasa kho panime, mahārāja, puggalā lokasmiṃ oññātā avaññātā hīḷitā khīḷitā garahitā paribhūtā acittīkatā. Katame dasa? Itthī, mahārāja, vidhavā lokasmiṃ oññātā avaññātā hīḷitā khīḷitā garahitā paribhūtā acittīkatā. Dubbalo, mahārāja, puggalo…pe… amittañāti, mahārāja, puggalo…pe… mahagghaso, mahārāja, puggalo…pe… agarukulavāsiko, mahārāja, puggalo…pe… pāpamitto, mahārāja, puggalo…pe… dhanahīno, mahārāja, puggalo…pe… ācārahīno, mahārāja, puggalo…pe… kammahīno, mahārāja, puggalo…pe… payogahīno, mahārāja, puggalo lokasmiṃ oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato. Ime kho, mahārāja, dasa puggalā lokasmiṃ oññātā avaññātā hīḷitā khīḷitā garahitā paribhūtā acittīkatā. Imāni kho, mahārāja, dasa ṭhānāni anussaramānassa bodhisattassa evaṃ saññā uppajji ‘māhaṃ kammahīno assaṃ payogahīno garahito devamanussānaṃ, yaṃnūnāhaṃ kammassāmī assaṃ kammagaru kammādhipateyyo kammasīlo kammadhorayho kammaniketavā appamatto vihareyya’nti, evaṃ kho, mahārāja, bodhisatto ñāṇaṃ paripācento dukkarakārikaṃ akāsī’’ti.
"Great king, there are these ten kinds of individuals in the world who are disdained, despised, humiliated, ridiculed, censured, slighted, and disregarded. Which ten? A widow, great king, is disdained, despised, humiliated, ridiculed, censured, slighted, and disregarded in the world. A weak individual, great king… One without friends and relatives, great king… A gluttonous individual, great king… One who has not served a teacher, great king… An individual with bad friends, great king… An individual lacking wealth, great king… An individual lacking good conduct, great king… An idle individual, great king… An individual lacking effort, great king, is disdained, despised, humiliated, ridiculed, censured, slighted, and disregarded in the world. These, great king, are the ten kinds of individuals in the world who are disdained, despised, humiliated, ridiculed, censured, slighted, and disregarded. Reflecting on these ten instances, great king, this perception arose in the Bodhisatta: ‘May I not be an idle individual, lacking effort, censured by gods and humans. Rather, may I be a master of my actions, revere action, be sovereign over action, be virtuous in action, bear the yoke of action, make action my abode, and dwell diligently.’ Thus, great king, the Bodhisatta, while perfecting his wisdom, undertook the arduous practice."
– Tâu Đại vương, có mười hạng người này ở trên đời bị khinh miệt, bị coi thường, bị chê bai, bị chế giễu, bị chỉ trích, bị lấn lướt, bị không tôn trọng. Thế nào là mười? Tâu Đại vương, người phụ nữ góa bụa ở trên đời bị khinh miệt, bị coi thường, bị chê bai, bị chế giễu, bị chỉ trích, bị lấn lướt, bị không tôn trọng. Tâu Đại vương, người yếu đuối ... Tâu Đại vương, người không thân quyến ... Tâu Đại vương, người tham ăn ... Tâu Đại vương, người không sống gần thầy ... Tâu Đại vương, người có bạn xấu ... Tâu Đại vương, người không tài sản ... Tâu Đại vương, người không đức hạnh ... Tâu Đại vương, người không công việc ... Tâu Đại vương, người không nỗ lực ở trên đời bị khinh miệt, bị coi thường, bị chê bai, bị chế giễu, bị chỉ trích, bị lấn lướt, bị không tôn trọng. Tâu Đại vương, đây là mười hạng người ở trên đời bị khinh miệt, bị coi thường, bị chê bai, bị chế giễu, bị chỉ trích, bị lấn lướt, bị không tôn trọng. Tâu Đại vương, trong khi đang hồi tưởng đến mười trường hợp này, tưởng này đã khởi lên nơi vị Bồ-tát rằng: ‘Mong rằng ta không phải là người không công việc, không nỗ lực, bị chư Thiên và loài người chỉ trích. Ta nên là người làm chủ công việc, nên tôn trọng công việc, nên có công việc làm đầu, nên có công việc là giới hạnh, nên là người gánh vác công việc, nên có công việc làm nơi trú ngụ, và ta nên sống không dể duôi.’ Tâu Đại vương, chính do cách ấy, trong khi làm cho trí tuệ được chín muồi, vị Bồ-tát đã thực hành khổ hạnh.
‘‘Bhante nāgasena, bodhisatto dukkarakārikaṃ karonto evamāha ‘na kho panāhaṃ imāya kaṭukāya dukkarakārikāya adhigacchāmi uttarimanussadhammaṃ alamariyañāṇadassanavisesaṃ, siyā nu kho añño maggo bodhāyā’ti. Api nu tasmiṃ samaye bodhisattassa maggaṃ ārabbha satisammoso ahosī’’ti?
"Venerable Nāgasena, while the Bodhisatta was performing the arduous practice, he said, 'Surely, by this bitter and arduous practice, I do not attain any superhuman state, any distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. Could there be another path to awakening?' At that time, was there any confusion of mindfulness in the Bodhisatta concerning the path?"
– Thưa ngài Nāgasena, trong khi đang thực hành khổ hạnh, vị Bồ-tát đã nói thế này: ‘Với pháp khổ hạnh khắc nghiệt này, ta không chứng đắc được pháp của bậc siêu nhân, là sự đặc biệt của tri kiến xứng đáng bậc Thánh. Có thể có con đường nào khác để đi đến giác ngộ chăng?’ Vào lúc ấy, phải chăng sự thất niệm liên quan đến con đường đã xảy ra nơi vị Bồ-tát?
‘‘Pañcavīsati kho panime, mahārāja, cittadubbalīkaraṇā dhammā, yehi dubbalīkataṃ cittaṃ na sammā samādhiyati āsavānaṃ khayāya. Katame pañcavīsati? Kodho, mahārāja, cittadubbalīkaraṇo dhammo, yena dubbalīkataṃ cittaṃ na sammā samādhiyati āsavānaṃ khayāya, upanāho…pe… makkho…pe… paḷāso…pe… issā…pe… macchariyaṃ…pe… māyā…pe… sāṭheyyaṃ…pe… thambho…pe… sārambho…pe… māno…pe… atimāno …pe… mado…pe… pamādo…pe… thinamiddhaṃ…pe… tandi † …pe… ālasyaṃ…pe… pāpamittatā…pe… rūpā…pe… saddā…pe… gandhā…pe… rasā…pe… phoṭṭhabbā…pe… khudāpipāsā…pe… arati, mahārāja, cittadubbalīkaraṇo dhammo, yena dubbalīkataṃ cittaṃ na sammā samādhiyati āsavānaṃ khayāya. Ime kho, mahārāja, pañcavīsati cittadubbalīkaraṇā dhammā, yehi dubbalīkataṃ cittaṃ na sammā samādhiyati āsavānaṃ khayāya.
"Great king, there are these twenty-five qualities that weaken the mind. When the mind is weakened by these, it is not rightly concentrated for the destruction of the taints. What are these twenty-five? Anger, great king, is a quality that weakens the mind; when the mind is weakened by it, it is not rightly concentrated for the destruction of the taints. Resentment… Denigration… Contentiousness… Envy… Avarice… Deceit… Craftiness… Obstinacy… Insolence… Conceit… Arrogance… Pride… Heedlessness… Sloth and torpor… Drowsiness… Laziness… Bad companionship… Forms… Sounds… Smells… Tastes… Tactile sensations… Hunger and thirst… Discontent, great king, is a quality that weakens the mind; when the mind is weakened by it, it is not rightly concentrated for the destruction of the taints. These, great king, are the twenty-five qualities that weaken the mind; when the mind is weakened by these, it is not rightly concentrated for the destruction of the taints."
– Tâu Đại vương, có hai mươi lăm pháp làm cho tâm bị yếu ớt này, do các pháp ấy tâm bị làm cho yếu ớt nên không được chánh định để đoạn trừ các lậu hoặc. Thế nào là hai mươi lăm? Tâu Đại vương, sự phẫn nộ là pháp làm cho tâm bị yếu ớt, do pháp ấy tâm bị làm cho yếu ớt nên không được chánh định để đoạn trừ các lậu hoặc. Sự oán hận ... sự gièm pha ... sự cạnh tranh ... sự ganh tỵ ... sự keo kiệt ... sự lừa dối ... sự xảo trá ... sự cứng đầu ... sự hiếu thắng ... sự kiêu mạn ... sự quá mạn ... sự say sưa ... sự dể duôi ... sự hôn trầm và thụy miên ... sự mệt mỏi ... sự lười biếng ... sự có bạn xấu ... các sắc ... các tiếng ... các mùi ... các vị ... các vật xúc chạm ... sự đói và khát ... Tâu Đại vương, sự không hoan hỷ là pháp làm cho tâm bị yếu ớt, do pháp ấy tâm bị làm cho yếu ớt nên không được chánh định để đoạn trừ các lậu hoặc. Tâu Đại vương, đây là hai mươi lăm pháp làm cho tâm bị yếu ớt, do các pháp ấy tâm bị làm cho yếu ớt nên không được chánh định để đoạn trừ các lậu hoặc.
Bodhisattassa kho, mahārāja, khudāpipāsā † kāyaṃ pariyādiyiṃsu, kāye pariyādinne cittaṃ na sammā samādhiyati āsavānaṃ khayāya. Satasahassaṃ, mahārāja, kappānaṃ † caturo ca asaṅkhyeyye kappe bodhisatto catunnaṃ yeva ariyasaccānaṃ abhisamayaṃ anvesi tāsu tāsu jātīsu, kiṃ panassa pacchime bhave abhisamayajātiyaṃ maggaṃ ārabbha satisammoso hessati? Api ca, mahārāja, bodhisattassa saññāmattaṃ uppajji ‘siyā nu kho añño maggo bodhāyā’ti. Pubbe kho, mahārāja, bodhisatto ekamāsiko samāno pitu sakkassa kammante sītāya jambucchāyāya sirisayane pallaṅkaṃ ābhujitvā nisinno vivicceva kāmehi vicicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja vihāsi…pe… catutthaṃ jhānaṃ upasampajja vihāsī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmi, ñāṇaṃ paripācento bodhisatto dukkarakārikaṃ akāsī’’ti.
"Great king, hunger and thirst assailed the body of the Bodhisatta. When the body was assailed, the mind could not be properly concentrated for the destruction of the taints. For four incalculable aeons and a hundred thousand aeons, great king, the Bodhisatta sought the comprehension of the Four Noble Truths in those various births. How then, in his final existence, in the birth of realization, could there be a confusion of mindfulness in him concerning the path? And yet, great king, a mere perception arose in the Bodhisatta: 'Could there be another path to awakening?' Previously, great king, when the Bodhisatta was one month old, during the plowing ceremony of his father, the Sakyan, he sat cross-legged on a splendid couch in the cool shade of the rose-apple tree and, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, with initial thought and sustained thought, with rapture and happiness born of seclusion, he attained and abided in the first jhāna… and so up to the fourth jhāna." "Excellent, venerable Nāgasena, it is so; I accept it as such. The Bodhisatta, while maturing his knowledge, undertook the arduous practice."
– Tâu Đại vương, sự đói và khát đã làm cho thân của vị Bồ-tát bị kiệt quệ. Khi thân bị kiệt quệ, tâm không được chánh định để đoạn trừ các lậu hoặc. Tâu Đại vương, trong bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, vị Bồ-tát đã tìm cầu sự chứng ngộ bốn Thánh đế ở trong các kiếp sống ấy. Huống nữa là ở kiếp sống cuối cùng, là kiếp sống chứng ngộ, làm sao sự thất niệm liên quan đến con đường lại có thể xảy ra nơi vị ấy được? Hơn nữa, tâu Đại vương, chỉ là tưởng đã khởi lên nơi vị Bồ-tát rằng: ‘Có thể có con đường nào khác để đi đến giác ngộ chăng?’ Tâu Đại vương, trước đây, trong khi là đứa bé một tháng tuổi, ở nơi làm việc của phụ vương dòng Sakka, dưới bóng mát của cây trâm, trên chiếc giường sang trọng, vị Bồ-tát đã ngồi kiết-già, ly các dục, ly các pháp bất thiện, đã chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ ... đã chứng và trú thiền thứ tư. – Thật tuyệt vời, thưa ngài Nāgasena, điều này là đúng như vậy, hạ thần xin chấp nhận như thế. Trong khi làm cho trí tuệ được chín muồi, vị Bồ-tát đã thực hành khổ hạnh.
Dukkarakārikapañho dutiyo.
The Second Question on the Arduous Practice.
Câu hỏi về khổ hạnh thứ nhì.