Bản dịch
MIL 6.3.11 — CÂU HỎI VỀ SỰ CHỨNG NGỘ NIẾT BÀN
11. Nibbānasacchikaraṇapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Niết Bàn không là quá khứ, không là hiện tại, không là vị lai, không phải là được sanh lên, không phải là không được sanh lên, không phải là sẽ được làm cho sanh lên.’ Thưa ngài Nāgasena, ở đây người nào đó thực hành đúng đắn và chứng ngộ Niết Bàn, thì người ấy chứng ngộ cái (Niết Bàn) đã được sanh lên, hay là làm cho (Niết Bàn) sanh lên rồi chứng ngộ?”
“Tâu đại vương, người nào đó thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn, người ấy chứng ngộ không phải cái (Niết Bàn) đã được sanh lên, không phải là làm cho (Niết Bàn) sanh lên rồi chứng ngộ. Tâu đại vương, tuy nhiên có cảnh giới Niết Bàn ấy, người ấy thực hành đúng đắn và chứng ngộ cái ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài chớ làm cho câu hỏi này bị che đậy lại rồi mới giải thích. Xin ngài hãy làm cho nó được mở ra, được rõ ràng, rồi giải thích. Với ước muốn đã được sanh khởi, với sự nỗ lực đã được sanh khởi, điều nào ngài đã học, xin ngài hãy tuôn ra tất cả các điều ấy cho chính trường hợp này. Ở đây, đám người này là mê muội, bị sanh khởi nỗi phân vân, bị khởi lên sự nghi ngờ. Xin ngài hãy phá vỡ mũi tên có sự độc hại ở bên trong ấy.”
BJT 2“Tâu đại vương, có cảnh giới Niết Bàn ấy, tịch tịnh, an lạc, hảo hạng. Người thực hành đúng đắn, trong khi quán sát về các hành theo lời dạy của đấng Chiến Thắng, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ Niết Bàn. Tâu đại vương, giống như người đệ tử, theo lời dạy của vị thầy, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ được kiến thức. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người thực hành đúng đắn theo lời dạy của đấng Chiến Thắng, nhờ vào tuệ mà chứng ngộ Niết Bàn.”
“Vậy thì Niết Bàn sẽ được nhìn thấy như thế nào?”
“Sẽ được nhìn thấy là không có rủi ro, không có bất hạnh, không có sợ hãi, là an toàn, tịch tịnh, an lạc, thoải mái, hảo hạng, trong sạch, mát lạnh. Tâu đại vương, giống như người đàn ông, trong khi bị đốt nóng bởi ngọn lửa với nhiều đống củi đã được phát cháy sôi sục, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi không có ngọn lửa, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa sức nóng của ngọn lửa gồm ba loại. Tâu đại vương, ngọn lửa là như thế nào thì ngọn lửa gồm ba loại nên được xem xét như vậy. Người đàn ông ở trong ngọn lửa là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có ngọn lửa là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông đi đến nơi chất đống các xác chết của rắn, chó, người và các phần thải bỏ của cơ thể, bị kẹt vào ở giữa các búi tóc bị rối lại của các xác chết, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi không có xác chết, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa xác chết phiền não. Tâu đại vương, xác chết là như thế nào thì năm loại dục nên được xem xét như vậy. Người đàn ông đi đến nơi các xác chết là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có xác chết là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông bị khiếp sợ, bị run sợ, bị rúng động, có tâm bị xáo trộn và bị tán loạn, sau khi thoát khỏi nơi ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi vào nơi chắc chắn, vững chãi, không dao động, không có sự sợ hãi, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa sự sợ hãi và sự run sợ. Tâu đại vương, sự sợ hãi là như thế nào thì sự sợ hãi được vận hành một cách liên tục tùy thuận theo sanh-già-bệnh-chết nên được xem xét như vậy. Người đàn ông bị khiếp sợ là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Nơi không có sự sợ hãi là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn ông bị té ngã vào khu vực là vũng bùn, đầm lầy, bị ô nhiễm, dơ bẩn, sau khi ra khỏi vũng bùn, đầm lầy ấy nhờ vào sự nỗ lực, và đi đến khu vực hoàn toàn trong sạch, không nhơ bẩn, rồi đạt được hạnh phúc tột độ ở nơi ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào thực hành đúng đắn, người ấy nhờ vào sự tác ý đúng đường lối chứng ngộ Niết Bàn an lạc tối thượng, nơi xa lìa vũng lầy phiền não ô nhiễm. Tâu đại vương, vũng bùn là như thế nào thì lợi lộc, tôn vinh, danh tiếng nên được xem xét như vậy. Người đàn ông ở trong vũng bùn là như thế nào thì người thực hành đúng đắn nên được xem xét như vậy. Khu vực hoàn toàn trong sạch, không nhơ bẩn là như thế nào thì Niết Bàn nên được xem xét như vậy.”
BJT 4“Thưa ngài, vậy thì người thực hành đúng đắn làm cách nào chứng ngộ Niết Bàn ấy?”
“Tâu đại vương, người nào thực hành đúng đắn, người ấy quán sát về sự vận hành của các hành; trong khi quán sát về sự vận hành, nhìn thấy sự sanh, nhìn thấy sự già, nhìn thấy sự bệnh, nhìn thấy sự chết ở nơi ấy, không nhìn thấy bất cứ điều gì an lạc, thoải mái ở nơi ấy, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Người ấy không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm bắt.
Tâu đại vương, giống như người đàn ông không nhìn thấy bất cứ chỗ nào đáng được nắm bắt ở cục sắt được đốt nóng trọn ngày, bị bốc cháy, sôi sục, nóng bỏng, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào quán sát về sự vận hành của các hành, người ấy trong khi quán sát về sự vận hành, nhìn thấy sự sanh, nhìn thấy sự già, nhìn thấy sự bệnh, nhìn thấy sự chết ở nơi ấy, không nhìn thấy bất cứ điều gì an lạc, thoải mái ở nơi ấy, từ phần đầu, từ phần giữa, từ phần cuối. Người ấy không nhìn thấy bất cứ điều gì đáng được nắm bắt. Đối với người ấy, trong khi không nhìn thấy điều gì đáng được nắm bắt, sự không thích thú được thành lập ở tâm của người ấy, sự nóng bức xuất hiện ở thân của người ấy. Người ấy, không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở các hữu.
Tâu đại vương, giống như người đi vào đống lửa lớn, có ngọn lửa cháy rực. Ở đó, người ấy không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở ngọn lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, đối với người ấy, trong khi không nhìn thấy điều gì đáng được nắm bắt, sự không thích thú được thành lập ở tâm của người ấy, sự nóng bức xuất hiện ở thân của người ấy. Người ấy, không có sự bảo vệ, không có sự nương nhờ, có trạng thái không có chỗ nương nhờ, nên nhàm chán ở các hữu. Đối với người ấy, đã nhìn thấy nỗi sợ hãi ở sự vận hành, có tâm như vầy sanh khởi: ‘Sự vận hành này quả đã bị đốt nóng, bị cháy đỏ, bị cháy rực, có nhiều khổ đau, có nhiều ưu phiền. Nếu ai đó có thể đạt được sự không vận hành, điều ấy là tịch tịnh, điều ấy là hảo hạng, tức là sự yên lặng của tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả các mầm tái sanh, sự diệt tận ái dục, sự lìa khỏi luyến ái, sự tịnh diệt, Niết Bàn.’ Nhờ vậy, tâm của người ấy lao vào ở sự không vận hành, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Sự thoát ra đã đạt được bởi ta.’
Tâu đại vương, giống như người đàn ông bị lạc lối, bị rơi vào nơi lạ, sau khi nhìn thấy lối ra, thì lao vào nơi ấy, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Lối ra đã đạt được bởi ta.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã nhìn thấy nỗi sợ hãi ở sự vận hành, thì tâm của người ấy lao vào ở sự không vận hành, được tin tưởng, được hài lòng, được vui mừng rằng: ‘Sự thoát ra đã đạt được bởi ta.’ Người ấy tích lũy, theo đuổi, tu tập, thực hành thường xuyên đạo lộ đưa đến sự không vận hành. Đối với người ấy, niệm được thành lập ở mục đích ấy, tinh tấn được thành lập ở mục đích ấy, hỷ được thành lập ở mục đích ấy. Trong khi người ấy chú tâm liên tục ở tâm ấy, thì vượt qua sự vận hành, đi đến sự không vận hành. Tâu đại vương, người đã đạt đến sự không vận hành, đã thực hành đúng đắn, được gọi là ‘chứng ngộ Niết Bàn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự chứng ngộ Niết Bàn là thứ mười một.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Mā, bhante nāgasena, imaṃ pañhaṃ paṭicchannaṃ katvā dīpehi, vivaṭaṃ pākaṭaṃ katvā dīpehi chandajāto ussāhajāto, yaṃ te sikkhitaṃ, taṃ sabbaṃ etthevākirāhi, etthāyaṃ jano sammūḷho vimatijāto saṃsayapakkhando, bhindetaṃ antodosasalla’’nti. ‘‘Atthesā, mahārāja, nibbānadhātu santā sukhā paṇītā, taṃ sammāpaṭipanno jinānusiṭṭhiyā saṅkhāre sammasanto paññāya sacchikaroti. Yathā, mahārāja, antevāsiko ācariyānusiṭṭhiyā vijjaṃ paññāya sacchikaroti, evameva kho, mahārāja, sammāpaṭipanno jinānusiṭṭhiyā paññāya nibbānaṃ sacchikaroti.
“Venerable Nāgasena, do not explain this question by concealing it; explain it by making it open and evident. With enthusiasm and effort, pour out here all that you have learned. For this populace is confused, beset by doubt, and has fallen into uncertainty. Shatter this inner thorn of defilement!” “Great king, there is the Nibbāna-element—peaceful, blissful, and sublime. One who practices rightly, by contemplating conditioned phenomena with wisdom according to the instruction of the Conqueror, realizes it. Just as, great king, a pupil realizes knowledge with wisdom according to a teacher’s instruction, even so, great king, does one who practices rightly realize Nibbāna with wisdom according to the instruction of the Conqueror.”
– Tâu Đại đức Nāgasena, xin ngài đừng giải thích câu hỏi này một cách che giấu, xin ngài hãy giải thích một cách rộng mở, rõ ràng, với lòng nhiệt thành và nỗ lực. Tất cả những gì ngài đã học, xin hãy dốc hết ra ở đây. Về điều này, dân chúng đang bị mê mờ, sanh lòng hoài nghi, rơi vào sự ngờ vực. Xin ngài hãy bẻ gãy mũi tên sai lầm ở bên trong này. – Tâu Đại vương, có yếu tố Nibbāna ấy, là an tịnh, là an lạc, là vi diệu. Người thực hành chân chánh, theo lời chỉ dạy của bậc Toàn Thắng, trong khi thẩm sát các pháp hữu vi, chứng ngộ yếu tố ấy bằng trí tuệ. Tâu Đại vương, ví như người đệ tử, theo lời chỉ dạy của thầy, chứng ngộ được học thuật bằng trí tuệ, cũng vậy, tâu Đại vương, người thực hành chân chánh, theo lời chỉ dạy của bậc Toàn Thắng, chứng ngộ Nibbāna bằng trí tuệ.
‘‘Kathaṃ pana taṃ nibbānaṃ daṭṭhabbanti? Anītito nirupaddavato abhayato khemato santato sukhato sātato paṇītato sucito sītalato daṭṭhabbaṃ.
“And how is that Nibbāna to be seen? It is to be seen as without affliction, without trouble, without fear, as secure, peaceful, blissful, agreeable, sublime, pure, and cool.”
– Nhưng Nibbāna ấy được thấy như thế nào? – (Nibbāna) được thấy là không có tai ương, không có hiểm họa, không có sợ hãi, là an ổn, là an tịnh, là an lạc, là dễ chịu, là vi diệu, là trong sạch, là mát mẻ.
‘‘Yathā, mahārāja, puriso bahukaṭṭhapuñjena jalitakaṭṭhitena agginā dayhamāno vāyāmena tato muñcitvā niraggikokāsaṃ pavisitvā tattha paramasukhaṃ labheyya, evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatatividhaggisantāpaṃ paramasukhaṃ nibbānaṃ sacchikaroti. Yathā, mahārāja, aggi, evaṃ tividhaggi daṭṭhabbo; yathā aggigato puriso, evaṃ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo; yathā niraggikokāso, evaṃ nibbānaṃ daṭṭhabbaṃ.
“Just as, great king, a man being burned by a great, blazing heap of firewood might, through effort, free himself from it and enter a fireless place, and there find supreme happiness; even so, great king, does one who practices rightly, through wise attention, realize Nibbāna, the supreme happiness that is free from the torment of the threefold fire. Just as, great king, the fire is to be seen, so is the threefold fire to be seen. Just as the man in the fire is to be seen, so is the one who practices rightly to be seen. And just as the fireless place is to be seen, so is Nibbāna to be seen.”
Tâu Đại vương, ví như có người bị ngọn lửa từ đống củi lớn đang bốc cháy thiêu đốt, người ấy nỗ lực thoát ra khỏi nơi đó, đi vào nơi không có lửa, và ở đấy người ấy có được sự an lạc tối thượng. Tâu Đại vương, cũng vậy, người thực hành đúng đắn, nhờ tác ý như lý, chứng ngộ được Niết-bàn là sự an lạc tối thượng, đã thoát khỏi sự thiêu đốt của ba ngọn lửa. Tâu Đại vương, nên hiểu ba ngọn lửa cũng giống như ngọn lửa; nên hiểu người thực hành đúng đắn cũng giống như người bị rơi vào lửa; nên hiểu Niết-bàn cũng giống như nơi không có lửa.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso ahikukkuramanussakuṇapasarīravaḷañjakoṭṭhāsarāsigato kuṇapajaṭājaṭitantaramanupaviṭṭho vāyāmena tato muñcitvā nikkuṇapokāsaṃ pavisitvā tattha paramasukhaṃ labheyya, evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatakilesakuṇapaṃ paramasukhaṃ nibbānaṃ sacchikaroti. Yathā, mahārāja, kuṇapaṃ, evaṃ pañca kāmaguṇā daṭṭhabbā; yathā kuṇapagato puriso, evaṃ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo; yathā nikkuṇapokāso, evaṃ nibbānaṃ daṭṭhabbaṃ.
“Or just as, great king, a man who has entered a repository heaped with the corpses of snakes, dogs, and humans, and with bodily filth, and is entangled in that tangled mass of corpses, might with effort free himself from it, enter a place free from corpses, and there experience supreme happiness; even so, great king, does one who practices rightly, through wise attention, realize Nibbāna, the supreme happiness that is free from the corpse of the defilements. Just as, great king, the corpse is to be seen, so are the five strands of sensual pleasure to be seen. Just as the man amidst the corpses is to be seen, so is the one who practices rightly to be seen. And just as the place free from corpses is to be seen, so is Nibbāna to be seen.”
Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như có người đi đến đống tử thi của rắn, chó, người, và nhà xí, đi vào giữa đám tử thi rối rắm, người ấy nỗ lực thoát ra khỏi nơi đó, đi vào nơi không có tử thi, và ở đấy người ấy có được sự an lạc tối thượng. Tâu Đại vương, cũng vậy, người thực hành đúng đắn, nhờ tác ý như lý, chứng ngộ được Niết-bàn là sự an lạc tối thượng, đã thoát khỏi tử thi của phiền não. Tâu Đại vương, nên hiểu năm dục trưởng dưỡng cũng giống như tử thi; nên hiểu người thực hành đúng đắn cũng giống như người đi vào nơi có tử thi; nên hiểu Niết-bàn cũng giống như nơi không có tử thi.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso bhīto tasito kampito viparītavibbhantacitto vāyāmena tato muñcitvā daḷhaṃ thiraṃ acalaṃ abhayaṭṭhānaṃ pavisitvā tattha paramasukhaṃ labheyya, evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatabhayasantāsaṃ paramasukhaṃ nibbānaṃ sacchikaroti. Yathā, mahārāja, bhayaṃ, evaṃ jātijarābyādhimaraṇaṃ paṭicca aparāparaṃ pavattabhayaṃ daṭṭhabbaṃ; yathā bhīto puriso, evaṃ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo; yathā abhayaṭṭhānaṃ, evaṃ nibbānaṃ daṭṭhabbaṃ.
“Or just as, great king, a man who is frightened, terrified, and trembling, his mind distraught and bewildered, might with effort free himself from that state, enter a firm, steady, unshakable place of safety, and there find supreme happiness; even so, great king, does one who practices rightly, through wise attention, realize Nibbāna, the supreme happiness that is free from fear and dread. Just as, great king, fear is to be seen, so is the fear that arises again and again in dependence on birth, aging, sickness, and death to be seen. Just as the frightened man is to be seen, so is the one who practices rightly to be seen. And just as the place of safety is to be seen, so is Nibbāna to be seen.”
Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như có người sợ hãi, kinh hoàng, run rẩy, tâm trí rối loạn hoang mang, người ấy nỗ lực thoát ra khỏi nơi đó, đi vào nơi vững chắc, kiên cố, không lay động, là nơi vô úy, và ở đấy người ấy có được sự an lạc tối thượng. Tâu Đại vương, cũng vậy, người thực hành đúng đắn, nhờ tác ý như lý, chứng ngộ được Niết-bàn là sự an lạc tối thượng, đã thoát khỏi sự sợ hãi kinh hoàng. Tâu Đại vương, nên hiểu sự sợ hãi khởi lên hết lần này đến lần khác do duyên sanh, già, bệnh, chết cũng giống như sự sợ hãi; nên hiểu người thực hành đúng đắn cũng giống như người sợ hãi; nên hiểu Niết-bàn cũng giống như nơi vô úy.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso kiliṭṭhamalinakalalakaddamadese patito vāyāmena taṃ kalalakaddamaṃ apavāhetvā parisuddhavimaladesamupagantvā tattha paramasukhaṃ labheyya, evameva kho, mahārāja, yo sammāpaṭipanno, so yoniso manasikārena byapagatakilesamalakaddamaṃ paramasukhaṃ nibbānaṃ sacchikaroti. Yathā, mahārāja, kalalaṃ, evaṃ lābhasakkārasiloko daṭṭhabbo; yathā kalalagato puriso, evaṃ sammāpaṭipanno daṭṭhabbo; yathā parisuddhavimaladeso, evaṃ nibbānaṃ daṭṭhabbaṃ.
“Or just as, great king, a man who has fallen into a stained and filthy swamp of mire and mud might with effort wash away that mire and mud, reach a place that is utterly pure and stainless, and there find supreme happiness; even so, great king, does one who practices rightly, through wise attention, realize Nibbāna, the supreme happiness that is free from the mire and mud of the defilements. Just as, great king, the mire is to be seen, so are gain, honor, and fame to be seen. Just as the man in the mire is to be seen, so is the one who practices rightly to be seen. And just as the utterly pure and stainless place is to be seen, so is Nibbāna to be seen.”
Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như có người bị rơi vào nơi bùn lầy nhơ bẩn, ô uế, người ấy nỗ lực thoát ra khỏi vũng bùn lầy ấy, đi đến nơi trong sạch, không tỳ vết, và ở đấy người ấy có được sự an lạc tối thượng. Tâu Đại vương, cũng vậy, người thực hành đúng đắn, nhờ tác ý như lý, chứng ngộ được Niết-bàn là sự an lạc tối thượng, đã thoát khỏi bùn lầy của phiền não và cấu uế. Tâu Đại vương, nên hiểu lợi lộc, cung kính, danh tiếng cũng giống như bùn lầy; nên hiểu người thực hành đúng đắn cũng giống như người bị rơi vào bùn lầy; nên hiểu Niết-bàn cũng giống như nơi trong sạch, không tỳ vết.
‘‘Tañca pana nibbānaṃ sammāpaṭipanno kinti sacchikaroti? Yo so, mahārāja, sammāpaṭipanno, so saṅkhārānaṃ pavattaṃ sammasati. Pavattaṃ sammasamāno tattha jātiṃ passati jaraṃ passati byādhiṃ passati maraṇaṃ passati, na tattha kiñci sukhaṃ sātaṃ passati āditopi majjhatopi pariyosānatopi. So tattha kiñci na gayhūpagaṃ passati. Yathā, mahārāja, puriso divasasantatte ayoguḷe jalite tatte kaṭhite āditopi majjhatopi pariyosānatopi na kiñci gayhūpagaṃ padesaṃ passati, evameva kho, mahārāja, yo saṅkhārānaṃ pavattaṃ sammasati, so pavattaṃ sammasamāno tattha jātiṃ passati jaraṃ passati byādhiṃ passati maraṇaṃ passati, na tattha kiñci sukhaṃ sātaṃ passati āditopi majjhatopi pariyosānatopi. So tattha † na kiñci gayhūpagaṃ passati, tassa gayhūpagaṃ apassantassa citte arati saṇṭhāti, kāyasmiṃ ḍāho okkamati, so atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto bhavesu nibbindati.
“And how, great king, does one who practices rightly realize that Nibbāna? The one who practices rightly, great king, contemplates the process of formations. While contemplating the process, they see birth, aging, sickness, and death, and they do not see anything pleasant or agreeable in it—whether in the beginning, the middle, or the end. They do not see anything there that can be grasped. Just as, great king, a person would not see any spot on an iron ball heated all day—burning, blazing, and glowing—that could be grasped, whether at the beginning, the middle, or the end, so too, great king, one who contemplates the process of formations sees birth, aging, sickness, and death, and does not see anything pleasant or agreeable in it—whether in the beginning, the middle, or the end. They do not see anything there that can be grasped. For one who sees nothing to grasp, discontent is established in the mind, a burning descends upon the body, and they become disenchanted with existences—unprotected, shelterless, and without refuge.”
Và người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết-bàn ấy như thế nào? Tâu Đại vương, người thực hành đúng đắn ấy quán xét sự diễn tiến của các pháp hữu vi. Trong khi quán xét sự diễn tiến, vị ấy thấy ở đó có sanh, thấy có già, thấy có bệnh, thấy có chết, vị ấy không thấy có chút lạc, chút hỷ nào ở đó, từ lúc ban đầu, cho đến lúc ở giữa, cho đến lúc kết thúc. Vị ấy không thấy có gì đáng để nắm giữ ở đó. Tâu Đại vương, ví như có người nhìn vào một quả cầu sắt được nung nóng suốt ngày, đang cháy, nóng bỏng, rực đỏ, người ấy không thấy có chỗ nào đáng để nắm giữ, từ lúc ban đầu, cho đến lúc ở giữa, cho đến lúc kết thúc. Tâu Đại vương, cũng vậy, người quán xét sự diễn tiến của các pháp hữu vi, trong khi quán xét sự diễn tiến, vị ấy thấy ở đó có sanh, thấy có già, thấy có bệnh, thấy có chết, vị ấy không thấy có chút lạc, chút hỷ nào ở đó, từ lúc ban đầu, cho đến lúc ở giữa, cho đến lúc kết thúc. Vị ấy không thấy có gì đáng để nắm giữ ở đó. Đối với vị ấy, người không thấy có gì đáng để nắm giữ, sự bất mãn được thiết lập trong tâm, sự thiêu đốt xâm chiếm thân, vị ấy không nơi nương tựa, không nơi ẩn náu, không nơi trú ẩn, trở nên nhàm chán đối với các cõi hữu.
‘‘Yathā, mahārāja, puriso jalitajālaṃ mahantaṃ aggikkhandhaṃ paviseyya, so tattha atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto aggimhi nibbindeyya, evameva kho, mahārāja, tassa gayhūpagaṃ apassantassa citte arati saṇṭhāti, kāyasmiṃ ḍāho okkamati, so atāṇo asaraṇo asaraṇībhūto bhavesu nibbindati.
“Just as, great king, a person who enters a great, blazing mass of fire would become disenchanted with the fire—unprotected, without shelter, and without a refuge—so too, great king, for one who sees nothing to grasp, discontent is established in the mind, a burning descends upon the body, and they become disenchanted with existences—unprotected, without shelter, and without a refuge.”
Tâu Đại vương, ví như có người đi vào một khối lửa lớn với những ngọn lửa bùng cháy. Ở đó, không nơi nương tựa, không nơi ẩn náu, không nơi trú ẩn, người ấy trở nên nhàm chán đối với ngọn lửa. Tâu Đại vương, cũng vậy, đối với vị ấy, người không thấy có gì đáng để nắm giữ, sự bất mãn được thiết lập trong tâm, sự thiêu đốt xâm chiếm thân, vị ấy không nơi nương tựa, không nơi ẩn náu, không nơi trú ẩn, trở nên nhàm chán đối với các cõi hữu.
‘‘Tassa pavatte bhayadassāvissa evaṃ cittaṃ uppajjati ‘santattaṃ kho panetaṃ pavattaṃ sampajjalitaṃ bahudukkhaṃ bahūpāyāsaṃ, yadi koci labhetha appavattaṃ etaṃ santaṃ etaṃ paṇītaṃ, yadidaṃ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhakkhayo virāgo nirodho nibbāna’nti. Iti hetaṃ † tassa appavatte cittaṃ pakkhandati pasīdati pahaṃsayati tusayati †‘paṭiladdhaṃ kho me nissaraṇa’nti.
“For one who sees danger in the process, this thought arises: ‘This process is scorched, blazing, full of suffering, full of despair. If only one could attain the non-process—that peaceful, sublime state, which is the stilling of all formations, the relinquishment of all acquisitions, the destruction of craving, dispassion, cessation, Nibbāna.’ Thus, their mind leaps toward the non-process, becomes clear, rejoices, and is pleased, thinking, ‘I have found an escape.’”
Đối với vị ấy, người thấy sự nguy hiểm trong sự diễn tiến, tâm khởi lên như vầy: ‘Sự diễn tiến này quả thật nóng bỏng, quả thật bốc cháy, nhiều đau khổ, nhiều phiền muộn. Giá như có thể đạt được trạng thái không diễn tiến, trạng thái ấy là an tịnh, là vi diệu, tức là sự lắng dịu của tất cả các pháp hữu vi, sự từ bỏ tất cả các sanh y, sự đoạn tận của ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.’ Do đó, tâm của vị ấy hướng đến trạng thái không diễn tiến, trở nên trong sáng, hân hoan, hoan hỷ, (nghĩ rằng): ‘Ta đã tìm thấy lối thoát.’
‘‘Yathā, mahārāja, puriso vippanaṭṭho videsapakkhando nibbāhanamaggaṃ disvā tattha pakkhandati pasīdati pahaṃsayati tusayati † ‘paṭiladdho me nibbāhanamaggo’ti, evameva kho, mahārāja, pavatte bhayadassāvissa appavatte cittaṃ pakkhandati pasīdati pahaṃsayati tusayati † ‘paṭiladdhaṃ kho me nissaraṇa’nti.
“Just as, great king, a person who is lost and has gone to a foreign land, upon seeing a road to safety, would leap toward it, become clear, rejoice, and be pleased, thinking, ‘I have found the road to safety,’ so too, great king, for one who sees danger in the process, the mind leaps toward the non-process, becomes clear, rejoices, and is pleased, thinking, ‘I have found an escape.’”
Tâu Đại vương, ví như có người bị lạc đường, đi vào vùng đất xa lạ, khi thấy được con đường thoát hiểm, người ấy liền hướng đến đó, tâm trở nên trong sáng, hân hoan, hoan hỷ, (nghĩ rằng): ‘Ta đã tìm thấy con đường thoát hiểm.’ Tâu Đại vương, cũng vậy, đối với vị ấy, người thấy sự nguy hiểm trong sự diễn tiến, tâm của vị ấy hướng đến trạng thái không diễn tiến, trở nên trong sáng, hân hoan, hoan hỷ, (nghĩ rằng): ‘Ta đã tìm thấy lối thoát.’
‘‘So appavattatthāya maggaṃ āyūhati gavesati bhāveti bahulīkaroti, tassa tadatthaṃ sati santiṭṭhati, tadatthaṃ vīriyaṃ santiṭṭhati, tadatthaṃ pīti santiṭṭhati, tassa taṃ cittaṃ aparāparaṃ manasikaroto pavattaṃ samatikkamitvā appavattaṃ okkamati, appavattamanuppatto, mahārāja, sammāpaṭipanno ‘nibbānaṃ sacchikarotī’ti vuccatī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“He strives for, seeks, develops, and cultivates the path for the sake of the non-process. For him, mindfulness is established for that purpose, energy is established for that purpose, joy is established for that purpose. His mind, repeatedly attending to that, transcends the process and enters the non-process. Great king, one who has attained the non-process and practices rightly is said to ‘realize Nibbāna.’” “Excellent, venerable Nāgasena, I accept it just as you say.”
“Vị ấy nỗ lực, tìm cầu, tu tập, thực hành nhiều lần con đường đưa đến sự không-còn-tiếp-diễn. Đối với vị ấy, vì mục đích ấy, niệm được an lập; vì mục đích ấy, tinh tấn được an lập; vì mục đích ấy, hỷ được an lập. Khi vị ấy tác ý liên tục, tâm ấy vượt qua sự tiếp diễn và đi vào sự không-còn-tiếp-diễn. Tâu Đại vương, người thực hành chân chánh đã đạt đến sự không-còn-tiếp-diễn được gọi là ‘người chứng ngộ Niết-bàn’.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng là như vậy.”
Nibbānasacchikaraṇapañho ekādasamo.
The Eleventh Question on the Realization of Nibbāna.
Câu hỏi về sự chứng ngộ Niết-bàn, câu thứ mười một.