Bản dịch
MIL 6.2.5 — CÂU HỎI VỀ VẬT KHÔNG SANH RA DO NGHIỆP
5. Akammajādipañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, các vật sanh ra do nghiệp được thấy ở thế gian, sanh ra do nhân được thấy, sanh ra do mùa tiết được thấy. Ở thế gian vật gì không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết, xin ngài hãy nói về vật ấy cho trẫm.”
“Tâu đại vương, ở thế gian hai vật này không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết. Hai vật nào? Tâu đại vương, hư không không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết. Tâu đại vương, Niết Bàn không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết. Tâu đại vương, đây là hai vật không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết.”
“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài chớ bôi nhọ lời dạy của đấng Chiến Thắng. Không biết thì xin ngài chớ trả lời câu hỏi.”
“Tâu đại vương, tôi nói điều gì mà đại vương lại nói với tôi như vầy: ‘Thưa ngài Nāgasena, xin đại vương chớ bôi nhọ lời dạy của đấng Chiến Thắng. Không biết thì xin đại vương chớ trả lời câu hỏi’?”
“Thưa ngài Nāgasena, cho đến điều này thì vẫn còn hợp lý để nói rằng: ‘Hư không không sanh ra do nghiệp, không sanh ra do nhân, không sanh ra do mùa tiết.’ Thưa ngài Nāgasena, trái lại đạo lộ đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn đã được đức Thế Tôn nói ra cho các đệ tử bằng hàng trăm cách thức. Vậy mà ngài lại nói như vầy: ‘Niết Bàn không sanh ra do nhân.’”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Đạo lộ đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn đã được đức Thế Tôn nói ra cho các đệ tử bằng hàng trăm cách thức. Tuy nhiên, nhân làm sanh khởi Niết Bàn là không được nói đến.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, ở đây chúng ta từ chỗ tối đi vào chỗ tối hơn, từ rừng đi vào rừng sâu hơn, từ bụi rậm đi vào bụi rậm hơn, chính là vì cái điều gọi là có nhân đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, nhưng nhân làm sanh khởi pháp ấy lại không có. Thưa ngài Nāgasena, nếu có nhân đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, như thế thì cũng nên mong mỏi về nhân làm sanh khởi Niết Bàn.
Thưa ngài Nāgasena, hoặc là giống như có người cha của đứa con trai, vì lý do ấy cũng nên mong mỏi về người cha của người cha. Giống như có người thầy của người học trò, vì lý do ấy cũng nên mong mỏi về người thầy của người thầy. Giống như có hạt giống của cái mầm non, vì lý do ấy cũng nên mong mỏi về hạt giống của hạt giống. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế nếu có nhân đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, như thế thì cũng nên mong mỏi về nhân làm sanh khởi Niết Bàn.
Giống như khi có ngọn của thân cây hoặc của dây leo, vì lý do ấy cũng có phần thân, cũng có phần rễ. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế nếu có nhân đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, như thế thì cũng nên mong mỏi về nhân làm sanh khởi Niết Bàn.”
“Tâu đại vương, Niết Bàn là không thể làm cho sanh được. Do đó, nhân làm sanh khởi Niết Bàn không được nói đến.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì sau khi đã chỉ cho thấy lý do, ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ theo đó trẫm có thể biết được rằng: ‘Có nhân đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, còn nhân làm sanh khởi Niết Bàn là không có.’”
BJT 3“Tâu đại vương, như thế thì đại vương hãy nghiêm chỉnh lắng tai, và hãy lắng nghe một cách cẩn thận, tôi sẽ nói lý do trong trường hợp này. Tâu đại vương, có phải người nam, với sức mạnh bình thường, từ nơi đây có thể đi đến núi chúa Hi-mã-lạp?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, vậy có phải người nam ấy, với sức mạnh bình thường, có thể mang núi chúa Hi-mã-lạp đến đây?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể nói về đạo lộ đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, nhưng không thể chỉ cho thấy nhân làm sanh khởi Niết Bàn. Tâu đại vương, có phải người nam, với sức mạnh bình thường, có thể vượt qua đại dương bằng thuyền để đi đến bờ xa xa?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, vậy có phải người nam ấy, với sức mạnh bình thường, có thể mang bờ xa xa của đại dương đến đây?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế có thể nói về đạo lộ đưa đến việc chứng ngộ Niết Bàn, nhưng không thể chỉ cho thấy nhân làm sanh khởi Niết Bàn. Vì lý do gì? Vì tính chất không bị tạo tác của pháp.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải Niết Bàn là không bị tạo tác?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Niết Bàn là không bị tạo tác, không bị tạo ra bởi bất cứ cái gì. Tâu đại vương, không nên nói Niết Bàn là ‘được sanh lên,’ hoặc là ‘không được sanh lên,’ hoặc là ‘sẽ được làm cho sanh lên,’ hoặc là ‘quá khứ,’ hoặc là ‘hiện tại,’ hoặc là ‘vị lai,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi mắt,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi tai,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi mũi,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi lưỡi,’ hoặc là ‘được nhận thức bởi thân.’”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, nếu Niết Bàn không phải là được sanh lên, không phải là không được sanh lên, không phải là sẽ được làm cho sanh lên, không là quá khứ, không là hiện tại, không là vị lai, không được nhận thức bởi mắt, không được nhận thức bởi tai, không được nhận thức bởi mũi, không được nhận thức bởi lưỡi, không được nhận thức bởi thân. Thưa ngài Nāgasena, như thế thì ngài đã chỉ ra Niết Bàn là pháp không có, có phải là không có Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, có Niết Bàn. Niết Bàn được nhận thức bởi ý. Vị đệ tử của bậc Thánh thực hành đúng đắn với tâm ý trong sạch, hướng thượng, ngay thẳng, không bị ngăn che, không liên hệ vật chất thì nhìn thấy Niết Bàn.”
“Thưa ngài, vậy Niết Bàn ấy giống cái gì? Cái ấy nên được làm sáng tỏ bằng các ví dụ. Xin ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng các lý lẽ theo đó pháp có thật là nên được làm sáng tỏ bằng các ví dụ.”
BJT 5“Tâu đại vương, có phải có cái gọi là gió?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, vậy xin ngài hãy chỉ cho thấy gió qua màu sắc, hoặc qua vị trí, hoặc là vi tế, hay thô thiển, hoặc là dài, hay ngắn.”
“Thưa ngài Nāgasena, không thể chỉ cho thấy gió được. Gió ấy không đáp ứng việc nắm bắt bằng bàn tay hoặc sự đè nén. Tuy nhiên, gió ấy là có.”
“Tâu đại vương, nếu không thể chỉ cho thấy gió, như thế thì gió là không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm biết rằng: ‘Gió là có.’ Nó đã đi vào trong tim của trẫm. Nhưng trẫm không có thể chỉ cho thấy gió được.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Niết Bàn là có. Nhưng không thể chỉ cho thấy Niết Bàn qua màu sắc, hoặc qua vị trí.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Ví dụ đã khéo được phô bày. Lý lẽ đã khéo được giải thích. ‘Có Niết Bàn,’ trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về vật không sanh ra do nghiệp là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. ‘‘Bhante nāgasena, dissanti loke kammanibbattā, dissanti hetunibbattā, dissanti utunibbattā, yaṃ loke akammajaṃ ahetujaṃ anutujaṃ, taṃ me kathehī’’ti. ‘‘Dveme, mahārāja, lokasmiṃ akammajā ahetujā anutujā. Katame dve? Ākāso, mahārāja, akammajo ahetujo anutujo; nibbānaṃ, mahārāja, akammajaṃ ahetujaṃ anutujaṃ. Ime kho, mahārāja, dve akammajā ahetujā anutujā’’ti.
5. “Venerable Nāgasena, in the world some things are seen to be produced by kamma, some produced by a cause, some produced by the seasons. Tell me what in the world is not produced by kamma, not produced by a cause, not produced by the seasons.” “There are two things in the world, great king, that are not produced by kamma, not produced by a cause, not produced by the seasons. Which two? Space, great king, is not produced by kamma, not produced by a cause, not produced by the seasons; Nibbāna, great king, is not produced by kamma, not produced by a cause, not produced by the seasons. These, great king, are the two things not produced by kamma, not produced by a cause, not produced by the seasons.”
5. “Bạch ngài Nāgasena, ở đời có thể thấy được những điều do nghiệp tạo ra, có thể thấy được những điều do nhân sanh ra, có thể thấy được những điều do thời tiết sanh ra. Điều gì ở đời không do nghiệp sanh, không do nhân sanh, không do thời tiết sanh, xin ngài hãy nói cho con biết.” “Tâu Đại vương, có hai điều này ở trên đời không do nghiệp sanh, không do nhân sanh, không do thời tiết sanh. Hai điều nào? Tâu Đại vương, hư không không do nghiệp sanh, không do nhân sanh, không do thời tiết sanh; tâu Đại vương, Niết-bàn không do nghiệp sanh, không do nhân sanh, không do thời tiết sanh. Tâu Đại vương, hai điều này quả thật không do nghiệp sanh, không do nhân sanh, không do thời tiết sanh.”
‘‘Mā, bhante nāgasena, jinavacanaṃ makkhehi, mā ajānitvā pañhaṃ byākarohī’’ti. ‘‘Kiṃ kho, mahārāja, ahaṃ vadāmi, yaṃ maṃ tvaṃ evaṃ vadesi ‘mā, bhante nāgasena, jinavacanaṃ makkhehi, mā ajānitvā pañhaṃ byākarohī’’’ti? ‘‘Bhante nāgasena, yuttamidaṃ tāva vattuṃ ‘ākāso akammajo ahetujo anutujo’ti. Anekasatehi pana, bhante nāgasena, kāraṇehi bhagavatā sāvakānaṃ nibbānassa sacchikiriyāya maggo akkhāto, atha ca pana tvaṃ evaṃ vadesi ‘ahetujaṃ nibbāna’’’nti. ‘‘Saccaṃ, mahārāja, bhagavatā anekasatehi kāraṇehi sāvakānaṃ nibbānassa sacchikiriyāya maggo akkhāto, na ca pana nibbānassa uppādāya hetu akkhāto’’ti.
“Venerable Nāgasena, do not disparage the word of the Conqueror. Do not answer a question without understanding it.” “What is it, great king, that I am saying, that you say to me, 'Venerable Nāgasena, do not disparage the word of the Conqueror. Do not answer a question without understanding it'?” “Venerable Nāgasena, it is fitting to say that 'space is not produced by kamma, not produced by a cause, not produced by the seasons.' Yet, the Blessed One has declared the path for the realization of Nibbāna by disciples with many hundreds of reasons, and yet you say, 'Nibbāna is not produced by a cause.'” “It is true, great king, that the Blessed One has declared the path for the realization of Nibbāna by disciples with many hundreds of reasons, but no cause has been declared for the production of Nibbāna.”
“Bạch ngài Nāgasena, xin ngài đừng xuyên tạc lời dạy của đức Chinh Phục Giả, xin ngài đừng trả lời câu hỏi mà không biết.” “Tâu Đại vương, tôi đã nói gì mà ngài lại nói với tôi như vậy: ‘Bạch ngài Nāgasena, xin ngài đừng xuyên tạc lời dạy của đức Chinh Phục Giả, xin ngài đừng trả lời câu hỏi mà không biết’?” “Bạch ngài Nāgasena, việc nói rằng ‘hư không không do nghiệp sanh, không do nhân sanh, không do thời tiết sanh’ thì còn hợp lý. Nhưng, bạch ngài Nāgasena, với hàng trăm lý do, đức Thế Tôn đã thuyết giảng cho các vị Thinh Văn con đường để chứng ngộ Niết-bàn, thế mà ngài lại nói rằng ‘Niết-bàn là vô nhân sanh’.” “Tâu Đại vương, đúng là đức Thế Tôn với hàng trăm lý do đã thuyết giảng cho các vị Thinh Văn con đường để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng Ngài đã không thuyết giảng về một nguyên nhân cho sự phát sanh của Niết-bàn.”
‘‘Ettha mayaṃ, bhante nāgasena, andhakārato andhakārataraṃ pavisāma, vanato vanataraṃ pavisāma, gahanato gahanataraṃ † pavisāma, yatra hi nāma nibbānassa sacchikiriyāya hetu atthi, tassa pana dhammassa uppādāya hetu natthi. Yadi, bhante nāgasena, nibbānassa sacchikiriyāya hetu atthi, tena hi nibbānassa uppādāyapi hetu icchitabbo.
“Here, Venerable Nāgasena, we enter into deeper darkness from darkness, into a denser forest from a forest, into a thicker thicket from a thicket. For indeed, there is a cause for the realization of Nibbāna, but there is no cause for the arising of that state. If, Venerable Nāgasena, there is a cause for the realization of Nibbāna, then a cause for the arising of Nibbāna should also be sought.”
“Bạch ngài Nāgasena, ở đây chúng con đi từ bóng tối vào bóng tối dày đặc hơn, từ khu rừng rậm vào khu rừng rậm hơn, từ đám rối vào đám rối rắm hơn, khi mà có nguyên nhân để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng lại không có nguyên nhân cho sự phát sanh của pháp ấy. Bạch ngài Nāgasena, nếu có nguyên nhân để chứng ngộ Niết-bàn, thì do đó cũng phải cần có một nguyên nhân cho sự phát sanh của Niết-bàn.
‘‘Yathā pana, bhante nāgasena, puttassa pitā atthi, tena kāraṇena pitunopi pitā icchitabbo. Yathā antevāsikassa ācariyo atthi, tena kāraṇena ācariyassapi ācariyo icchitabbo. Yathā aṅkurassa bījaṃ atthi, tena kāraṇena bījassapi bījaṃ icchitabbaṃ. Evameva kho, bhante nāgasena, yadi nibbānassa sacchikiriyāya hetu atthi, tena kāraṇena nibbānassa uppādāyapi hetu icchitabbo.
“Just as, Venerable Nāgasena, a son has a father, and for that reason the father of the father should also be sought. Just as a pupil has a teacher, and for that reason the teacher of the teacher should also be sought. Just as a sprout has a seed, and for that reason the seed of the seed should also be sought. In the same way, Venerable Nāgasena, if there is a cause for the realization of Nibbāna, then for that reason a cause for the arising of Nibbāna should also be sought.”
“Ví như, bạch ngài Nāgasena, người con có người cha, do lý do đó cũng phải cần có người cha của người cha. Ví như người đệ tử có vị thầy, do lý do đó cũng phải cần có vị thầy của vị thầy. Ví như mầm non có hạt giống, do lý do đó cũng phải cần có hạt giống của hạt giống. Cũng vậy, bạch ngài Nāgasena, nếu có nguyên nhân để chứng ngộ Niết-bàn, thì do lý do đó cũng phải cần có một nguyên nhân cho sự phát sanh của Niết-bàn.
‘‘Yathā rukkhassa vā latāya vā agge sati tena kāraṇena majjhampi atthi, mūlampi atthi. Evameva kho, bhante nāgasena, yadi nibbānassa sacchikiriyāya hetu atthi, tena kāraṇena nibbānassa uppādāyapi hetu icchitabbo’’’ti.
“Just as when there is a top of a tree or a creeper, for that reason, there is also a middle and a root. In the same way, Venerable Nāgasena, if there is a cause for the realization of Nibbāna, for that reason, a cause for the arising of Nibbāna should also be sought.”
“Ví như khi một cái cây hay một dây leo có ngọn, thì do lý do đó nó cũng có phần giữa và phần gốc. Cũng vậy, bạch ngài Nāgasena, nếu có nguyên nhân để chứng ngộ Niết-bàn, thì do lý do đó cũng phải cần có một nguyên nhân cho sự phát sanh của Niết-bàn.”
‘‘Anuppādanīyaṃ, mahārāja, nibbānaṃ, tasmā na nibbānassa uppādāya hetu akkhāto’’ti. ‘‘Iṅgha, bhante nāgasena, kāraṇaṃ dassetvā kāraṇena maṃ saññāpehi, yathāhaṃ jāneyyaṃ nibbānassa sacchikiriyāya hetu atthi, nibbānassa uppādāya hetu natthī’’ti.
“Great king, Nibbāna is not to be produced; therefore, a cause for the production of Nibbāna is not declared.” “Please, Venerable Nāgasena, show me a reason and convince me with reasoning so that I may understand how there is a cause for the realization of Nibbāna, but there is no cause for the production of Nibbāna.”
“Tâu Đại vương, Niết-bàn là pháp không thể được tạo ra, vì thế không có nguyên nhân nào cho sự phát sanh của Niết-bàn được thuyết giảng.” “Bạch ngài Nāgasena, xin ngài hãy chỉ ra lý do, hãy dùng lý do để làm cho con hiểu, để con có thể biết được rằng có nguyên nhân để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng không có nguyên nhân cho sự phát sanh của Niết-bàn.”
‘‘Tena hi, mahārāja, sakkaccaṃ sotaṃ odaha, sādhukaṃ suṇohi, vakkhāmi tattha kāraṇaṃ, sakkuṇeyya, mahārāja, puriso pākatikena balena ito himavantaṃ pabbatarājaṃ upagantu’’nti? ‘‘Āma, bhante’’ti. ‘‘Sakkuṇeyya pana so, mahārāja, puriso pākatikena balena himavantaṃ pabbatarājaṃ idha āharitu’’nti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sakkā nibbānassa sacchikiriyāya maggo akkhātuṃ, na sakkā nibbānassa uppādāya hetu dassetuṃ.
“Then, great king, pay careful attention and listen well. I will explain the reason for this. Is it possible, great king, for a man by his natural strength to go from here to Himavant, the king of mountains?” “Yes, venerable sir.” “But is it possible for that man, great king, by his natural strength to bring Himavant, the king of mountains, here?” “No, venerable sir.” “Just so, great king, it is possible to explain the path to the realization of Nibbāna, but it is not possible to show a cause for the production of Nibbāna.”
– Tâu Đại vương, nếu vậy, xin Đại vương hãy chú tâm lắng nghe, hãy khéo nghe, bần tăng sẽ nói về nguyên nhân trong vấn đề ấy. Tâu Đại vương, một người có thể dùng sức lực tự nhiên của mình để đi từ đây đến vua của các loài núi là Hy-mã-lạp-sơn được không? – Thưa vâng, được ạ. – Tâu Đại vương, vậy người ấy có thể dùng sức lực tự nhiên của mình để mang vua của các loài núi là Hy-mã-lạp-sơn đến đây được không? – Thưa không, không được ạ. – Tâu Đại vương, cũng giống như thế, có thể chỉ ra con đường để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng không thể chỉ ra nguyên nhân để làm phát sinh Niết-bàn.
‘‘Sakkuṇeyya, mahārāja, puriso pākatikena balena mahāsamuddaṃ nāvāya uttaritvā pārimatīraṃ gantu’’nti? ‘‘Āma, bhante’’ti? ‘‘Sakkuṇeyya pana so, mahārāja, puriso pākatikena balena mahāsamuddassa pārimatīraṃ idha āharitu’’nti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, sakkā nibbānassa sacchikiriyāya maggo akkhātuṃ, na sakkā nibbānassa uppādāya hetu dassetuṃ. Kiṃ kāraṇā? Asaṅkhatattā dhammassā’’ti.
“Great king, could a man, by his natural strength, cross the great ocean in a boat and go to the further shore?” “Yes, venerable sir.” “But, great king, could that man, by his natural strength, bring the further shore of the great ocean here?” “Certainly not, venerable sir.” “Even so, great king, it is possible to declare the path for the realization of Nibbāna, but it is not possible to show a cause for the arising of Nibbāna. For what reason? Because of the unconditioned nature of the Dhamma.”
– Tâu Đại vương, một người có thể dùng sức lực tự nhiên của mình, dùng thuyền vượt qua đại dương để đi đến bờ bên kia được không? – Thưa vâng, được ạ. – Tâu Đại vương, vậy người ấy có thể dùng sức lực tự nhiên của mình để mang bờ bên kia của đại dương đến đây được không? – Thưa không, không được ạ. – Tâu Đại vương, cũng giống như thế, có thể chỉ ra con đường để chứng ngộ Niết-bàn, nhưng không thể chỉ ra nguyên nhân để làm phát sinh Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì pháp ấy là vô vi.
‘‘Asaṅkhataṃ, bhante nāgasena, nibbāna’’nti? ‘‘Āma, mahārāja, asaṅkhataṃ nibbānaṃ na kehici kataṃ, nibbānaṃ, mahārāja, na vattabbaṃ uppannanti vā anuppannanti vā uppādanīyanti vā atītanti vā anāgatanti vā paccuppannanti vā cakkhuviññeyyanti vā sotaviññeyyanti vā ghānaviññeyyanti vā jivhāviññeyyanti vā kāyaviññeyyanti vā’’ti. ‘‘Yadi, bhante nāgasena, nibbānaṃ na uppannaṃ na anuppannaṃ na uppādanīyaṃ na atītaṃ na anāgataṃ na paccuppannaṃ na cakkhuviññeyyaṃ na sotaviññeyyaṃ na ghānaviññeyyaṃ na jivhāviññeyyaṃ na kāyaviññeyyaṃ, tena hi, bhante nāgasena, tumhe natthidhammaṃ nibbānaṃ apadisatha ‘natthi nibbāna’nti. ‘‘Atthi, mahārāja, nibbānaṃ, manoviññeyyaṃ nibbānaṃ, visuddhena mānasena paṇītena ujukena anāvaraṇena nirāmisena sammāpaṭipanno ariyasāvako nibbānaṃ passatī’’ti.
“Venerable Nāgasena, is Nibbāna unconditioned?” “Yes, great king, Nibbāna is unconditioned; it is not made by anything. Nibbāna, great king, cannot be said to be arisen or unarisen, or producible; nor can it be said to be past, future, or present; nor is it cognizable by the eye, ear, nose, tongue, or body.” “If, venerable Nāgasena, Nibbāna is not arisen, not unarisen, not producible; not past, future, or present; and not cognizable by the eye, ear, nose, tongue, or body, then, venerable Nāgasena, you are pointing to Nibbāna as a non-existent thing, declaring, ‘Nibbāna does not exist.’” “Nibbāna exists, great king. Nibbāna is cognizable by the mind. A noble disciple who is practicing rightly, with a mind that is purified, sublime, straightforward, unobstructed, and unafflicted by worldly desires, sees Nibbāna.”
– Thưa Đại đức Nāgasena, Niết-bàn là pháp vô vi phải không? – Tâu Đại vương, đúng vậy, Niết-bàn là pháp vô vi, không do bất cứ ai tạo ra. Tâu Đại vương, không thể nói Niết-bàn là đã sanh, hay chưa sanh, hay sẽ sanh; là quá khứ, hay vị lai, hay hiện tại; là đối tượng được nhận biết bởi nhãn thức, hay nhĩ thức, hay tỷ thức, hay thiệt thức, hay thân thức. – Thưa Đại đức Nāgasena, nếu Niết-bàn không phải là đã sanh, không phải là chưa sanh, không phải là sẽ sanh; không phải là quá khứ, không phải là vị lai, không phải là hiện tại; không phải là đối tượng được nhận biết bởi nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, hay thân thức, thì thưa Đại đức Nāgasena, như vậy ngài đang chỉ ra một pháp không hiện hữu, rằng ‘Niết-bàn không có thật’. – Tâu Đại vương, Niết-bàn có thật. Niết-bàn là đối tượng được nhận biết bởi ý thức. Vị Thánh đệ tử đã thực hành chân chánh, với tâm ý thanh tịnh, cao thượng, ngay thẳng, không chướng ngại, không vật chất, vị ấy thấy được Niết-bàn.
‘‘Kīdisaṃ pana taṃ, bhante, nibbānaṃ, yaṃ taṃ opammehi ādīpanīyaṃ kāraṇehi maṃ saññāpehi, yathā atthidhammaṃ opammehi ādīpanīya’’nti. ‘‘Atthi, mahārāja, vāto nāmā’’ti? ‘‘Āma, bhante’’ti. ‘‘Iṅgha, mahārāja, vātaṃ dassehi vaṇṇato vā saṇṭhānato vā aṇuṃ vā thūlaṃ vā dīghaṃ vā rassaṃ vā’’ti. ‘‘Na sakkā, bhante nāgasena, vāto upadassayituṃ, na so vāto hatthaggahaṇaṃ vā nimmaddanaṃ vā upeti, api ca atthi so vāto’’ti. ‘‘Yadi, mahārāja, na sakkā vāto upadassayituṃ, tena hi natthi vāto’’ti? ‘‘Jānāmahaṃ, bhante nāgasena, vāto atthīti me hadaye anupaviṭṭhaṃ, na cāhaṃ sakkomi vātaṃ upadassayitu’’nti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, atthi nibbānaṃ, na ca sakkā nibbānaṃ upadassayituṃ vaṇṇena vā saṇṭhānena vā’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, sūpadassitaṃ opammaṃ, suniddiṭṭhaṃ kāraṇaṃ, evametaṃ tathā sampaṭicchāmi ‘atthi nibbāna’’’nti.
“What, venerable sir, is that Nibbāna like? Please make it known to me with reasons and illuminate it with similes, so that it may be shown by similes to be a truly existing phenomenon.” “Great king, is there such a thing as wind?” “Yes, venerable sir.” “Come then, great king, show me the wind—by its color or its shape, whether it is fine or coarse, long or short.” “It is not possible, venerable Nāgasena, to show the wind. That wind cannot be taken in the hand or handled. And yet, that wind exists.” “If, great king, it is not possible to show the wind, then does the wind not exist?” “I know, venerable Nāgasena, that the wind exists; this is established in my heart. But I am not able to show the wind.” “Even so, great king, Nibbāna exists, yet it is not possible to show Nibbāna by its color or its shape.” “Excellent, venerable Nāgasena! The simile has been well shown, the reason well pointed out. I accept it just so: ‘Nibbāna exists!’”
– Thưa Đại đức, Niết-bàn ấy như thế nào, xin ngài hãy dùng các ví dụ và lý lẽ để làm cho trẫm hiểu rõ, để ví dụ có thể làm sáng tỏ pháp hiện hữu ấy. – Tâu Đại vương, có một thứ gọi là gió phải không? – Thưa vâng, có ạ. – Này Đại vương, hãy chỉ ra gió đi, về màu sắc hay hình dạng, là nhỏ hay lớn, là dài hay ngắn. – Thưa Đại đức Nāgasena, không thể chỉ ra gió được. Gió ấy không thể dùng tay nắm bắt hay cầm giữ được, nhưng gió ấy vẫn có thật. – Tâu Đại vương, nếu không thể chỉ ra gió được, vậy thì không có gió sao? – Thưa Đại đức Nāgasena, trẫm biết là có gió, điều đó đã thấm sâu vào lòng trẫm, nhưng trẫm không thể chỉ ra gió được. – Tâu Đại vương, cũng giống như thế, Niết-bàn có thật, nhưng không thể chỉ ra Niết-bàn bằng màu sắc hay hình dạng được. – Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena! Ví dụ được trình bày rất hay, lý lẽ được giải thích rất rõ. Trẫm xin chấp nhận như vậy, rằng ‘Niết-bàn có thật’.
Akammajādipañho pañcamo.
The Fifth Question on What Is Not Born of Kamma and So Forth.
Câu hỏi thứ năm về những gì không do nghiệp sanh, v.v... (kết thúc).