Bản dịch
MIL 6.2.3 — CÂU HỎI VỀ SỰ THẤT NIỆM CỦA VỊ A-LA-HÁN
3. Khīṇāsavasatisammosapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có sự thất niệm đối với vị A-la-hán?”
“Tâu đại vương, các vị A-la-hán có các sự thất niệm đã được xa lìa. Đối với các vị A-la-hán không có sự thất niệm.”
“Thưa ngài, phải chăng vị A-la-hán có thể vi phạm tội?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Về sự việc gì?”
“Tâu đại vương, về việc làm cốc liêu, về việc mai mối, vào lúc sái thời (lầm) tưởng là lúc đúng thời, về vị đã ngăn (lầm) tưởng là chưa ngăn (vật thực dâng thêm), không phải thức ăn thừa (lầm) tưởng là thức ăn thừa.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Những vị nào phạm tội, những vị ấy phạm bởi hai lý do: Vì không tôn trọng hoặc là do không biết.’ Thưa ngài, có phải việc vị A-la-hán phạm tội là vì vị A-la-hán có sự không tôn trọng?”
“Tâu đại vương, không đúng.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu vị A-la-hán phạm tội, và không có sự không tôn trọng ở vị A-la-hán, như thế thì có sự thất niệm ở vị A-la-hán?”
“Tâu đại vương, không có sự thất niệm ở vị A-la-hán, và có việc vị A-la-hán phạm tội.”
“Thưa ngài, như thế thì xin ngài hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ. Ở đây, cái gì là lý do?”
BJT 2“Tâu đại vương, đây là hai loại ô nhiễm: ‘Tội lỗi đối với thế gian và tội lỗi do sự quy định.’ Tâu đại vương, tội lỗi đối với thế gian là việc nào? Mười loại nghiệp bất thiện. Việc này được gọi là tội lỗi đối với thế gian. Tội lỗi do sự quy định là việc nào? Việc nào ở thế gian là không đúng đắn, không hợp lẽ đối với hàng Sa-môn, nhưng không phải là tội lỗi đối với hàng tại gia, trong trường hợp ấy đức Thế Tôn quy định điều học cho các đệ tử, cho đến trọn đời không được vượt qua. Tâu đại vương, vật thực sái giờ không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc làm tổn thương thảo mộc không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc chơi giỡn ở trong nước không là tội lỗi đối với thế gian, điều ấy là tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Tâu đại vương, các hình thức như thế và tương tợ là các tội lỗi ở Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Việc này được gọi là tội lỗi do sự quy định.
Loại ô nhiễm nào là tội lỗi đối với thế gian, bậc Lậu Tận không thể vi phạm việc ấy; còn loại ô nhiễm nào là tội lỗi do sự quy định, trong khi không biết, có thể vi phạm việc ấy. Tâu đại vương, đối với một vị A-la-hán thì không có trình độ để biết tất cả, bởi vì đối với vị ấy không có năng lực để biết tất cả.
Tâu đại vương, đối với vị A-la-hán tên họ của những người nữ người nam là không được biết; đối với vị ấy đường xá ở trái đất là không được biết. Tâu đại vương, một vị A-la-hán có thể chỉ biết về sự giải thoát. Vị A-la-hán có sáu Thắng Trí có thể biết về lãnh vực của mình. Tâu đại vương, chỉ có đức Như Lai, đấng Toàn Tri, là biết tất cả.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự thất niệm của vị A-la-hán là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. ‘‘Bhante nāgasena, atthi arahato satisammoso’’ti? ‘‘Vigatasatisammosā kho, mahārāja, arahanto, natthi arahantānaṃ satisammoso’’ti. ‘‘Āpajjeyya pana, bhante, arahā āpatti’’nti? ‘‘Āma, mahārājā’’ti. ‘‘Kismiṃ vatthusmi’’nti? ‘‘Kuṭikāre, mahārāja, sañcaritte, vikāle kālasaññāya, pavārite appavāritasaññāya, anatiritte atirittasaññāyā’’ti.
3. “Venerable Nāgasena, does an Arahant have loss of mindfulness?” “Great king, Arahants are free from loss of mindfulness; there is no loss of mindfulness for Arahants.” “But, venerable sir, might an Arahant commit an offense?” “Yes, great king.” “In what case?” “In the matter of building a hut, great king; in acting as a go-between; by eating at the wrong time while perceiving it to be the right time; by eating again after having formally indicated one is satisfied, while perceiving that one has not so indicated; or by eating food that has not been made a leftover, while perceiving that it has been made a leftover.”
3. “Thưa Đại đức Nāgasena, bậc A-la-hán có sự thất niệm không?” “Tâu Đại vương, các bậc A-la-hán đã thoát khỏi sự thất niệm, các ngài không có sự thất niệm.” “Thưa Đại đức, vậy bậc A-la-hán có thể phạm tội không?” “Thưa có, tâu Đại vương.” “Trong trường hợp nào?” “Tâu Đại vương, trong việc làm cốc, trong việc làm môi giới, do có tưởng là đúng giờ trong khi đã quá giờ, do có tưởng là chưa từ chối (thực phẩm) trong khi đã từ chối, do có tưởng là đã được phép dùng thêm trong khi chưa được phép.”
‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘ye āpattiṃ āpajjanti, te dvīhi kāraṇehi āpajjanti anādariyena vā ajānanena vā’ti. Api nu kho, bhante, arahato anādariyaṃ hoti, yaṃ arahā āpattiṃ āpajjatī’’ti? ‘‘Na hi, mahārājā’’ti.
“Venerable Nāgasena, you say that those who commit an offense do so for two reasons: either through lack of respect or through ignorance. But, venerable sir, does an Arahant have a lack of respect, that he should commit an offense?” “No, great king.”
“Thưa Đại đức Nāgasena, ngài có nói rằng: ‘Những vị nào phạm tội thì phạm do hai nguyên nhân: do không tôn trọng hoặc do không biết.’ Thưa Đại đức, vậy bậc A-la-hán có sự không tôn trọng, để do đó mà bậc A-la-hán phạm tội chăng?” “Thưa không, tâu Đại vương.”
‘‘Yadi, bhante nāgasena, arahā āpattiṃ āpajjati, natthi ca arahato anādariyaṃ, tena hi atthi arahato satisammoso’’ti? ‘‘Natthi, mahārāja, arahato satisammoso, āpattiñca arahā āpajjatī’’ti.
“If, venerable Nāgasena, an Arahant commits an offense, and an Arahant has no lack of respect, then surely an Arahant must have loss of mindfulness?” “No, great king, an Arahant has no loss of mindfulness, yet an Arahant does commit an offense.”
“Thưa Đại đức Nāgasena, nếu bậc A-la-hán phạm tội, mà bậc A-la-hán lại không có sự không tôn trọng, vậy thì bậc A-la-hán phải có sự thất niệm?” “Tâu Đại vương, bậc A-la-hán không có sự thất niệm, nhưng bậc A-la-hán vẫn phạm tội.”
‘‘Tena hi, bhante, kāraṇena maṃ saññāpehi, kiṃ tattha kāraṇa’’nti? ‘‘Dveme, mahārāja, kilesā lokavajjaṃ paṇṇattivajjañcāti. Katamaṃ, mahārāja, lokavajjaṃ? Dasa akusalakammapathā, idaṃ vuccati lokavajjaṃ. Katamaṃ paṇṇattivajjaṃ? Yaṃ loke atthi samaṇānaṃ ananucchavikaṃ ananulomikaṃ, gihīnaṃ anavajjaṃ. Tattha bhagavā sāvakānaṃ sikkhāpadaṃ paññapeti ‘yāvajīvaṃ anatikkamanīya’nti. Vikālabhojanaṃ, mahārāja, lokassa anavajjaṃ, taṃ jinasāsane vajjaṃ. Bhūtagāmavikopanaṃ, mahārāja, lokassa anavajjaṃ, taṃ jinasāsane vajjaṃ. Udake hassadhammaṃ, mahārāja, lokassa anavajjaṃ, taṃ jinasāsane vajjaṃ. Iti evarūpāni evarūpāni, mahārāja, jinasāsane vajjāni, idaṃ vuccati paṇṇattivajjaṃ.
“Then, venerable sir, make me understand the reason; what is the cause in this matter?” “Great king, there are these two kinds of faults: a fault in the world and a fault by prescription. What, great king, is a fault in the world? The ten unwholesome courses of action: this is called a fault in the world. And what is a fault by prescription? That which, though blameless for householders, is unsuitable and improper for recluses. In such cases, the Blessed One lays down a training rule for his disciples, that it is ‘not to be transgressed as long as life lasts.’ Eating at the wrong time, great king, is blameless for the world, but it is a fault in the Dispensation of the Conqueror. Destroying plant life, great king, is blameless for the world, but it is a fault in the Dispensation of the Conqueror. Playing in the water, great king, is blameless for the world, but it is a fault in the Dispensation of the Conqueror. Thus, great king, such things as these are faults in the Dispensation of the Conqueror: this is called a fault by prescription.”
“Vậy thì, thưa Đại đức, xin hãy cho con biết lý do, nguyên nhân ở đây là gì?” “Tâu Đại vương, có hai loại lỗi lầm này: lỗi lầm của thế gian và lỗi lầm do chế định. Tâu Đại vương, thế nào là lỗi lầm của thế gian? Mười con đường nghiệp bất thiện, đó được gọi là lỗi lầm của thế gian. Thế nào là lỗi lầm do chế định? Đó là những điều không phải là lỗi đối với người tại gia ở thế gian, nhưng không thích hợp, không tương xứng với các vị Sa-môn. Về những điều ấy, Đức Thế Tôn đã chế định học giới cho các vị đệ tử rằng: ‘Không được vi phạm cho đến trọn đời.’ Tâu Đại vương, việc ăn vào giờ phi thời đối với thế gian không phải là lỗi, nhưng trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng thì đó là lỗi. Tâu Đại vương, việc phá hoại cây cỏ đối với thế gian không phải là lỗi, nhưng trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng thì đó là lỗi. Tâu Đại vương, việc vui đùa dưới nước đối với thế gian không phải là lỗi, nhưng trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng thì đó là lỗi. Tâu Đại vương, những điều như vậy, như vậy là những lỗi lầm trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng, đó được gọi là lỗi lầm do chế định.”
‘‘Lokavajjaṃ abhabbo khīṇāsavo taṃ ajjhācarituṃ, yaṃ kilesaṃ paṇṇattivajjaṃ, taṃ ajānanto āpajjeyya. Avisayo, mahārāja, ekaccassa arahato sabbaṃ jānituṃ, na hi tassa balaṃ atthi sabbaṃ jānituṃ. Anaññātaṃ, mahārāja, arahato itthipurisānaṃ nāmampi gottampi, maggopi tassa mahiyā anaññāto; vimuttiṃ yeva, mahārāja, ekacco arahā jāneyya; chaḷabhiñño arahā sakavisayaṃ jāneyya; sabbaññū, mahārāja, tathāgatova sabbaṃ jānātī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“An Arahant is incapable of committing a worldly transgression. However, not knowing that which is a transgression according to convention, he might commit it. It is not within the scope of a certain Arahant, great king, to know everything, for he does not have the power to know all. An Arahant, great king, may not know even the names and clans of men and women; the path on this earth may be unknown to him. A certain Arahant, great king, may know only liberation; an Arahant with the sixfold higher knowledges knows his own domain; only the Tathāgata, the Omniscient One, great king, knows all.” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it thus.”
“Bậc Lậu Tận không có khả năng vi phạm lỗi lầm của thế gian. Còn về lỗi lầm do chế định, vị ấy có thể phạm phải do không biết. Tâu Đại vương, việc biết tất cả mọi thứ không phải là phạm vi của một số vị A-la-hán, các vị ấy không có năng lực để biết tất cả. Tâu Đại vương, có khi bậc A-la-hán không biết tên họ của người nam người nữ, cũng không biết đường đi trên mặt đất. Tâu Đại vương, có vị A-la-hán chỉ biết đến sự giải thoát. Vị A-la-hán có sáu thắng trí thì có thể biết được phạm vi của mình. Tâu Đại vương, chỉ có Đức Như Lai, bậc Toàn Giác, mới biết tất cả mọi thứ.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Khīṇāsavasatisammosapañho tatiyo.
The Third Question Concerning the Loss of Mindfulness of One Whose Taints Are Destroyed.
Câu hỏi về sự thất niệm của bậc Lậu Tận thứ ba.