Bản dịch
MIL 6.2.2 — CÂU HỎI VỀ NGƯỜI TẠI GIA CHỨNG A-LA-HÁN
2. Khīṇāsavabhāvapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Người tại gia nào đạt đến phẩm vị A-la-hán, đối với vị này chỉ có hai lối đi không có lối khác: xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn; ngày ấy là không thể vượt qua.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu vị ấy, trong ngày hôm ấy, không có được thầy tuyên ngôn, hoặc thầy tế độ, hoặc y và bình bát, có phải vị A-la-hán ấy có thể tự mình xuất gia, hoặc có thể để cho ngày ấy trôi qua? Hoặc có vị nào khác, là A-la-hán, có thần thông, đi đến rồi cho vị ấy xuất gia? Hoặc có thể viên tịch Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, vị A-la-hán ấy không thể tự mình xuất gia, trong khi tự mình xuất gia thì phạm vào việc trộm cắp (hình tướng). Và không thể để cho ngày ấy trôi qua. Nếu có thể hoặc không thể có việc đi đến của vị A-la-hán khác, thì sẽ viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì bản thể an tịnh của vị A-la-hán là bị bỏ đi, bởi vì có sự lấy đi mạng sống của vị đã chứng đắc.”
“Tâu đại vương, hình tướng tại gia là không tương xứng. Khi hình tướng là không tương xứng, do tính chất yếu ớt của hình tướng, người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán (phải) xuất gia, hoặc viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của phẩm vị A-la-hán, điều ấy là sự sai trái của hình tướng tại gia, tức là tính chất yếu ớt của hình tướng.
Tâu đại vương, giống như vật thực là vật hộ trì tuổi thọ, là vật duy trì mạng sống của tất cả chúng sanh, nhưng lại lấy đi mạng sống của người có bao tử không điều hòa, có sự hấp thụ trì trệ yếu đuối, vì không tiêu hóa được. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của vật thực, điều ấy là sự sai trái của bao tử, tức là tính chất yếu ớt của lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi hình tướng là không tương xứng, do tính chất yếu ớt của hình tướng, người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán (phải) xuất gia, hoặc viên tịch Niết Bàn nội trong ngày ấy. Tâu đại vương, điều ấy không phải là sự sai trái của phẩm vị A-la-hán, điều ấy là sự sai trái của hình tướng tại gia, tức là tính chất yếu ớt của hình tướng.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như cọng cỏ nhỏ nhoi khi bị tảng đá nặng đặt lên trên, thì bị dập nát, đổ xuống vì tính chất yếu ớt. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán, vì hình tướng ấy không thể nâng đỡ phẩm vị A-la-hán, nên (phải) xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam không có sức mạnh, yếu đuối, có dòng dõi thấp kém, phước báu nhỏ nhoi, sau khi đạt được vương quốc to lớn khổng lồ, trong khoảnh khắc sẽ sụp đổ, tiêu hoại, thối lui, không thể duy trì vương quyền. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người tại gia đạt được phẩm vị A-la-hán, vì hình tướng ấy không thể nâng đỡ phẩm vị A-la-hán, nên (phải) xuất gia nội trong ngày ấy, hoặc viên tịch Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về người tại gia chứng A-la-hán là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. ‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘yo gihī arahattaṃ patto, dve vāssa gatiyo bhavanti anaññā, tasmiṃ yeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā. Na so divaso sakkā atikkametu’nti. Sace so, bhante nāgasena, tasmiṃ divase ācariyaṃ vā upajjhāyaṃ vā pattacīvaraṃ vā na labhetha, api nu kho so arahā sayaṃ vā pabbajeyya divasaṃ vā atikkameyya, añño koci arahā iddhimā āgantvā taṃ pabbājeyya vā parinibbāyeyya vā’’ti? ‘‘Na so, mahārāja, arahā sayaṃ pabbajeyya, sayaṃ pabbajanto theyyaṃ āpajjati, na ca divasaṃ atikkameyya, aññassa arahantassa āgamanaṃ bhaveyya vā na vā bhaveyya, tasmiṃ yeva divase parinibbāyeyyā’’ti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, arahattassa santabhāvo vijahito hoti, yena adhigatassa jīvitahāro bhavatī’’ti.
2. “Venerable Nāgasena, you say: ‘For a householder who has attained Arahantship, there are two possible destinies and no other: on that very day, he either goes forth or attains Parinibbāna. That day cannot be passed over.’ If, venerable Nāgasena, on that day he does not find a teacher, a preceptor, or a bowl and robes, could that Arahant then ordain himself, or could he let the day pass? Or would some other Arahant with psychic power come and ordain him, or would he have to attain Parinibbāna?” “Great king, that Arahant would not ordain himself; in ordaining himself, he would be guilty of theft. Nor could he let the day pass. The coming of another Arahant may or may not happen; on that very day, he would attain Parinibbāna.” “In that case, venerable Nāgasena, is not the peaceful state of Arahantship forsaken, since for the one who has attained it, it becomes the destroyer of life?”
2. – Kính bạch ngài Nāgasena, các ngài nói rằng: ‘Người tại gia nào chứng đắc A-la-hán quả, vị ấy chỉ có hai con đường, không có con đường nào khác: hoặc là xuất gia, hoặc là nhập Vô dư Niết-bàn ngay trong ngày hôm đó. Vị ấy không thể để ngày đó trôi qua.’ Kính bạch ngài Nāgasena, nếu trong ngày hôm đó, vị A-la-hán ấy không tìm được thầy tế độ, thầy yết-ma, hoặc y bát, vậy vị A-la-hán ấy có thể tự mình xuất gia, hay có thể để ngày đó trôi qua chăng? Hay một vị A-la-hán khác có thần thông sẽ đến để cho vị ấy xuất gia, hay vị ấy sẽ nhập Niết-bàn? – Tâu Đại vương, vị A-la-hán ấy không thể tự mình xuất gia; nếu tự mình xuất gia, vị ấy sẽ phạm tội trộm tướng (sa-môn). Vị ấy cũng không thể để ngày đó trôi qua. Việc một vị A-la-hán khác đến có thể xảy ra hoặc không. Vị ấy phải nhập Vô dư Niết-bàn ngay trong ngày hôm đó. – Nếu vậy, kính bạch ngài Nāgasena, chẳng phải trạng thái tịch tịnh của quả A-la-hán đã bị từ bỏ, khi mà nó lại trở thành nguyên nhân hủy hoại mạng sống của người đã chứng đắc nó hay sao?
‘‘Visamaṃ, mahārāja, gihiliṅgaṃ, visame liṅge liṅgadubbalatāya arahattaṃ patto gihī tasmiṃ yeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā. Neso, mahārāja, doso arahattassa, gihiliṅgasseveso doso yadidaṃ liṅgadubbalatā.
“The householder’s guise, great king, is unsuitable. Because of the weakness of that unsuitable guise, a householder who has attained Arahantship either goes forth or attains Parinibbāna on that very day. This, great king, is not a fault of Arahantship; it is a fault of the householder’s guise, that is, its weakness.”
– Tâu Đại vương, hình tướng của người tại gia là không tương xứng. Do sự yếu kém của hình tướng không tương xứng ấy, người tại gia khi chứng đắc A-la-hán quả phải hoặc là xuất gia, hoặc là nhập Vô dư Niết-bàn ngay trong ngày hôm đó. Tâu Đại vương, đó không phải là lỗi của quả A-la-hán, mà chính là lỗi của hình tướng tại gia, tức là sự yếu kém của hình tướng ấy.
‘‘Yathā, mahārāja, bhojanaṃ sabbasattānaṃ āyupālakaṃ jīvitarakkhakaṃ visamakoṭṭhassa mandadubbalagahaṇikassa avipākena jīvitaṃ harati. Neso, mahārāja, doso bhojanassa, koṭṭhasseveso doso yadidaṃ aggidubbalatā. Evameva kho, mahārāja, visame liṅge liṅgadubbalatāya arahattaṃ patto gihī tasmiṃ yeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā. Neso, mahārāja, doso arahattassa, gihiliṅgasseveso doso yadidaṃ liṅgadubbalatā.
“Just as, great king, food, which sustains the life-span and protects the life of all beings, takes the life of one with a disordered stomach and a slow, weak digestive faculty because it is not digested. This, great king, is not the fault of the food, but the fault of the stomach—that is, the weakness of the digestive fire. In the same way, great king, because of the weakness of the unsuitable householder’s guise, a householder who has attained Arahantship either goes forth or attains Parinibbāna on that very day. This, great king, is not a fault of Arahantship; it is a fault of the householder’s guise, that is, its weakness.”
“Tâu Đại vương, ví như vật thực là thứ nuôi dưỡng mạng sống, bảo vệ sinh mạng của tất cả chúng sanh, nhưng đối với người có đường ruột không điều hòa, có tỳ vị yếu kém, thì (vật thực ấy) do không được tiêu hóa mà có thể lấy đi mạng sống. Tâu Đại vương, đó không phải là lỗi của vật thực, đó chính là lỗi của đường ruột, tức là sự yếu kém của hỏa tiêu hóa. Cũng thế ấy, tâu Đại vương, trong hình tướng không tương xứng (của người tại gia), do sự yếu kém của hình tướng ấy mà người tại gia đã đắc quả A-la-hán phải xuất gia hoặc nhập Niết-bàn ngay trong ngày hôm đó. Tâu Đại vương, đó không phải là lỗi của quả A-la-hán, đó chính là lỗi của hình tướng người tại gia, tức là sự yếu kém của hình tướng ấy.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, parittaṃ tiṇasalākaṃ upari garuke pāsāṇe ṭhapite dubbalatāya bhijjitvā patati. Evameva kho, mahārāja, arahattaṃ patto gihī tena liṅgena arahattaṃ dhāretuṃ asakkonto tasmiṃ yeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā.
“Or just as, great king, when a heavy stone is placed upon a small blade of grass, it breaks and collapses due to its weakness. In the same way, great king, a householder who has attained Arahantship, being unable to bear Arahantship in that guise, either goes forth or attains Parinibbāna on that very day.”
“Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như một cọng cỏ nhỏ, khi bị một tảng đá nặng đè lên trên, do sự yếu ớt nên bị gãy và đổ xuống. Cũng thế ấy, tâu Đại vương, người tại gia đã đắc quả A-la-hán, do không thể duy trì được quả A-la-hán với hình tướng ấy, nên phải xuất gia hoặc nhập Niết-bàn ngay trong ngày hôm đó.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso abalo dubbalo nihīnajacco parittapuñño mahatimahārajjaṃ labhitvā khaṇena paripatati paridhaṃsati osakkati, na sakkoti issariyaṃ dhāretuṃ, evameva kho, mahārāja, arahattaṃ patto gihī tena liṅgena arahattaṃ dhāretuṃ na sakkoti, tena kāraṇena tasmiṃ yeva divase pabbajati vā parinibbāyati vā’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Or just as, great king, a powerless, weak, low-born man of little merit, having obtained a great and mighty kingdom, in an instant falls, is ruined, and perishes, unable to bear his sovereignty; in the same way, great king, a householder who has attained Arahantship is unable to bear Arahantship in that guise. For that reason, on that very day, he either goes forth or attains Parinibbāna.” “It is well, venerable Nāgasena, I accept it as such.”
“Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như một người không có sức lực, yếu đuối, thuộc dòng dõi thấp kém, ít phước đức, khi nhận được vương vị to lớn, trong khoảnh khắc liền bị sa sút, bị hủy hoại, bị suy vong, không thể duy trì được quyền uy. Cũng thế ấy, tâu Đại vương, người tại gia đã đắc quả A-la-hán không thể duy trì được quả A-la-hán với hình tướng ấy. Vì lý do đó, vị ấy phải xuất gia hoặc nhập Niết-bàn ngay trong ngày hôm đó.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Khīṇāsavabhāvapañho dutiyo.
The Second Question on the State of One Whose Cankers Are Destroyed.
Câu hỏi về bản chất của bậc Lậu Tận thứ hai.