Bản dịch
MIL 6.2.1 — CÂU HỎI VỀ PHÁP KHÔNG CHƯỚNG NGẠI
1. Nippapañcapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, các ngươi hãy sống có sự vui thích ở pháp không chướng ngại, có sự thích thú ở pháp không chướng ngại.’ Pháp không chướng ngại ấy là pháp nào?”
“Tâu đại vương, quả vị Nhập Lưu là pháp không chướng ngại, quả vị Nhất Lai là pháp không chướng ngại, quả vị Bất Lai là pháp không chướng ngại, quả vị A-la-hán là pháp không chướng ngại.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu quả vị Nhập Lưu là pháp không chướng ngại, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán là pháp không chướng ngại, vậy thì tại sao các vị tỳ khưu này lại đọc tụng, lại học hỏi về (chín thể loại:) suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ,”
lại bị chướng ngại vì công trình mới, vì việc bố thí, và vì việc cúng dường? Không lẽ các vị lại tiến hành công việc đã bị đấng Chiến Thắng từ khước?”BJT 2“Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào đọc tụng, học hỏi về (chín thể loại:) suttaṁ, geyyaṁ, veyyākaraṇaṁ, gāthā, udānaṁ, itivuttakaṁ, jātakaṁ, abbhutadhammaṁ, vedallaṁ, bị chướng ngại vì công trình mới, vì việc bố thí, và vì việc cúng dường, tất cả những vị ấy làm nhằm đạt được pháp không chướng ngại.
Tâu đại vương, những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy có được pháp không chướng ngại với các sự gắng sức này.
Tâu đại vương, giống như một người nam sau khi gieo hạt giống ở thửa ruộng, rồi trồng trọt cây lúa bằng sức mạnh và nỗ lực của bản thân, không cần tường thành và hàng rào. Một người nam (khác) sau khi gieo hạt giống ở thửa ruộng, thì đi vào rừng chặt cành cây và nhánh cây làm hàng rào và tường, rồi trồng trọt cây lúa; trong trường hợp ấy việc tầm cầu hàng rào và tường thành của người ấy là vì mong muốn đạt được cây lúa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại, tợ như người nam có sự trồng trọt cây lúa không cần hàng rào và tường thành. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy có được pháp không chướng ngại với các sự gắng sức này, ví như người nam có sự trồng trọt cây lúa sau khi đã làm hàng rào và tường thành.
Tâu đại vương, hoặc là giống như có chùm trái ở ngọn cây xoài cao to vĩ đại, rồi một người nào đó, có thần thông, sau khi đi đến nơi ấy có thể hái trái của cây ấy. Trái lại, tại nơi ấy người nào không có thần thông, người ấy chặt cành cây và dây leo rồi buộc thành cái thang, nhờ nó leo lên cây ấy, rồi hái trái; trong trường hợp ấy, việc tầm cầu cái thang của người ấy là vì mong muốn đạt được trái cây.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì có được pháp không chướng ngại, tợ như người có thần thông hái được trái cây. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy chứng ngộ các Chân Lý với các sự gắng sức này, tợ như người nam hái được trái cây nhờ vào cái thang.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như một người nam là ngưòi làm theo chỉ tiêu, chỉ một mình đi đến gặp người chủ rồi hoàn thành chỉ tiêu. Một người (khác) có tài sản, phát triển đồ chúng nhờ vào năng lực của tài sản, rồi hoàn thành chỉ tiêu cùng với đồ chúng; trong trường hợp ấy việc tầm cầu đồ chúng của người ấy là vì mong muốn đạt được chỉ tiêu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vị nào được trong sạch tự bản chất, có sự huân tập đã được trải qua ở thời quá khứ, những vị ấy trong một chập tâm thì đạt được bản thể năng lực ở sáu Thắng Trí ví như người nam một mình thực hiện việc thành tựu chỉ tiêu. Trái lại, những vị tỳ khưu nào với tầm nhìn có nhiều bụi, những vị ấy hoàn thành mục tiêu của bản thể Sa-môn với các sự gắng sức này, tợ như người nam thực hiện việc thành tựu chỉ tiêu cùng với đồ chúng.
BJT 4Tâu đại vương, việc đọc tụng cũng có nhiều lợi ích, việc học hỏi cũng có nhiều lợi ích, việc xây dựng công trình mới cũng có nhiều lợi ích, việc bố thí cũng có nhiều lợi ích, việc cúng dường cũng có nhiều lợi ích cho những người này, những người nọ có công việc cần phải làm.
Tâu đại vương, giống như người nam hầu cận đức vua, có công việc đã được hoàn thành nhờ vào các quan đại thần, nhân công, binh lính, người giữ cổng, lính gác, quần thần, dân chúng, đối với người ấy khi công việc cần làm chưa đạt được thì tất cả những người ấy đều là những sự trợ giúp. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc đọc tụng cũng có nhiều lợi ích, việc học hỏi cũng có nhiều lợi ích, việc xây dựng công trình mới cũng có nhiều lợi ích, việc bố thí cũng có nhiều lợi ích, việc cúng dường cũng có nhiều lợi ích cho những người này, những người nọ có công việc cần phải làm.
Tâu đại vương, nếu tất cả đều được thanh tịnh ở dòng dõi, có thể không có việc cần phải làm với việc chỉ dạy. Tâu đại vương, và bởi vì có việc cần phải làm với việc lắng nghe. Tâu đại vương, trưởng lão Sāriputta, có thiện căn đã được tích lũy liên quan đến vô lượng kiếp, không thể đếm được, đã đạt đến tột đỉnh của trí tuệ, ngay cả vị ấy không có sự lắng nghe cũng không thể đạt được sự diệt tận các lậu hoặc. Tâu đại vương, vì thế việc lắng nghe cũng có nhiều lợi ích, việc đọc tụng, việc học hỏi cũng như thế. Vì thế, việc đọc tụng và học hỏi là pháp không chướng ngại, là pháp không tạo tác.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã được giải quyết khéo léo. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về pháp không chướng ngại là thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Yathā, mahārāja, eko puriso khette bījaṃ ropetvā attano yathābalavīriyena vinā pākāravatiyā dhaññaṃ uddhareyya, eko puriso khette bījaṃ ropetvā vanaṃ pavisitvā kaṭṭhañca sākhañca chinditvā vatipākāraṃ katvā dhaññaṃ uddhareyya. Yā tattha tassa vatipākārapariyesanā, sā dhaññatthāya. Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena nippapañcā honti, vinā vatipākāraṃ puriso viya dhaññuddhāro. Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te imehi payogehi nippapañcā honti, vatipākāraṃ katvā puriso viya dhaññuddhāro.
“Just as, great king, one man might plant seeds in a field and, by his own strength and energy, harvest the grain without a surrounding fence, while another man might plant seeds in a field, enter the forest, cut wood and branches, make a fence, and then harvest the grain—that man's search for the fence is for the sake of the grain. In the same way, great king, those who are pure in nature, whose latent tendencies have been cultivated in the past, become free from proliferation in a single mind-moment, like the man harvesting grain without a fence. But those monks who have much dust in their eyes become free from proliferation through these practices, like the man harvesting grain after making a fence.”
– Tâu Đại vương, ví như một người gieo hạt giống trên đồng ruộng và tùy theo sức lực và tinh tấn của mình, có thể thu hoạch lúa mà không cần hàng rào. Một người khác gieo hạt giống trên đồng ruộng, đi vào rừng, chặt cây và cành, làm hàng rào rồi mới thu hoạch lúa. Ở đây, việc tìm kiếm vật liệu làm hàng rào của người ấy là vì mục đích thu hoạch lúa. Cũng vậy, tâu Đại vương, những vị nào có bản tánh trong sạch, đã huân tập các thói quen tốt từ trước, các vị ấy trở thành bậc vô hý luận trong một sát-na tâm, giống như người thu hoạch lúa mà không cần hàng rào. Còn những vị tỳ khưu nào có nhiều bụi trần trong mắt, các vị ấy trở thành bậc vô hý luận nhờ vào những nỗ lực này, giống như người làm hàng rào rồi mới thu hoạch lúa.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso mahatimahante ambarukkhamatthake phalapiṇḍi bhaveyya, atha tattha yo koci iddhimā āgantvā tassa phalaṃ hareyya, yo pana tattha aniddhimā, so kaṭṭhañca valliñca chinditvā nisseṇiṃ bandhitvā tāya taṃ rukkhaṃ abhiruhitvā phalaṃ hareyya. Yā tattha tassa nisseṇipariyesanā, sā phalatthāya. Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena nippapañcā honti, iddhimā viya rukkhaphalaṃ haranto. Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te iminā payogena saccāni abhisamenti, nisseṇiyā viya puriso rukkhaphalaṃ haranto.
“Or just as, great king, there might be a cluster of fruit at the top of a very large mango tree. Then someone with psychic power could come and take that fruit. But someone without psychic power would cut wood and vines, fashion a ladder, climb the tree with it, and take the fruit. That man's search for the ladder is for the sake of the fruit. In the same way, great king, those who are pure in nature, whose latent tendencies have been cultivated in the past, become free from proliferation in a single mind-moment, like the one with psychic power taking the fruit from the tree. But those monks who have much dust in their eyes, through this practice, fully realize the truths, like the man taking the fruit from the tree by means of a ladder.”
– Hoặc ví như, tâu Đại vương, trên ngọn một cây xoài rất lớn có một chùm quả. Khi ấy, một người có thần thông nào đó đến và lấy được quả ấy. Nhưng một người không có thần thông, người ấy phải chặt cây và dây leo, làm một cái thang, rồi dùng thang đó trèo lên cây và hái quả. Ở đây, việc tìm kiếm cái thang của người ấy là vì mục đích lấy quả. Cũng vậy, tâu Đại vương, những vị nào có bản tánh trong sạch, đã huân tập các thói quen tốt từ trước, các vị ấy trở thành bậc vô hý luận trong một sát-na tâm, giống như người có thần thông hái quả cây. Còn những vị tỳ khưu nào có nhiều bụi trần trong mắt, các vị ấy nhờ vào nỗ lực này mà liễu ngộ các chân lý, giống như người dùng thang để hái quả cây.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, eko puriso atthakaraṇiko ekako yeva sāmikaṃ upagantvā atthaṃ sādheti. Eko dhanavā dhanavasena parisaṃ vaḍḍhetvā parisāya atthaṃ sādheti. Yā tattha tassa parisapariyesanā, sā atthatthāya. Evameva kho, mahārāja, ye te sabhāvaparisuddhā pubbe vāsitavāsanā, te ekacittakkhaṇena chasu abhiññāsu vasibhāvaṃ pāpuṇanti, puriso viya ekako atthasiddhiṃ karonto. Ye pana te bhikkhū mahārajakkhā, te imehi payogehi sāmaññatthamabhisādhenti, parisāya viya puriso atthasiddhiṃ karonto.
“Just as, great king, a man who has business to attend to goes alone to his master and accomplishes his purpose. Another, a wealthy man, increases his retinue by means of his wealth and accomplishes his purpose with that retinue. That seeking of a retinue is for the sake of his purpose. In the same way, great king, those who are pure by nature, whose latent tendencies from the past have been cultivated, attain mastery in the six supernormal knowledges in a single mind-moment, like the man who accomplishes his purpose alone. But those monks who have much dust in their eyes accomplish the goal of recluseship through these efforts, like the man who accomplishes his purpose with a retinue.”
– Hoặc ví như, tâu Đại vương, một người có công việc cần giải quyết, tự mình đến gặp chủ và hoàn thành công việc. Một người giàu có khác, nhờ vào tài sản của mình, tập hợp một đoàn tùy tùng và hoàn thành công việc với đoàn tùy tùng ấy. Ở đây, việc tìm kiếm đoàn tùy tùng của người ấy là vì mục đích hoàn thành công việc. Cũng vậy, tâu Đại vương, những vị nào có bản tánh trong sạch, đã huân tập các thói quen tốt từ trước, các vị ấy trong một sát-na tâm đạt đến sự thuần thục trong sáu loại thắng trí, giống như người một mình hoàn thành công việc. Còn những vị tỳ khưu nào có nhiều bụi trần trong mắt, các vị ấy nhờ vào những nỗ lực này mà hoàn thành mục đích của đời sống sa-môn, giống như người hoàn thành công việc với đoàn tùy tùng.
‘‘Uddesopi, mahārāja, bahukāro, paripucchāpi bahukārā, navakammampi bahukāraṃ, dānampi bahukāraṃ, pūjāpi bahukārā tesu tesu karaṇīyesu. Yathā, mahārāja, puriso rājūpasevī katāvī amaccabhaṭabaladovārikaanīkaṭṭhapārisajjajanehi, te tassa karaṇīye anuppatte sabbepi upakārā honti. Evameva kho, mahārāja, uddesopi bahukāro, paripucchāpi bahukārā, navakammampi bahukāraṃ, dānampi bahukāraṃ, pūjāpi bahukārā tesu tesu karaṇīyesu. Yadi, mahārāja, sabbepi abhijātiparisuddhā bhaveyyuṃ, anusāsanena † karaṇīyaṃ na bhaveyya. Yasmā ca kho, mahārāja, savanena karaṇīyaṃ hoti, thero, mahārāja, sāriputto aparimitamasaṅkheyyakappaṃ upādāya upacitakusalamūlo paññāya koṭiṃ gato, sopi vinā savanena nāsakkhi āsavakkhayaṃ pāpuṇituṃ. Tasmā, mahārāja, bahukāraṃ savanaṃ, tathā uddesopi paripucchāpi. Tasmā uddesaparipucchāpi nippapañcā saṅkhatā’’ti. ‘‘Sunijjhāpito, bhante nāgasena, pañho, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Recitation, great king, is of great service; questioning is of great service; new construction work is of great service; giving is of great service; and veneration is of great service in these various duties. Just as, great king, for a man who serves the king among his ministers, soldiers, gatekeepers, bodyguards, and court attendants, all of them are of service to him when his duties arise. In the same way, great king, recitation is of great service, questioning is of great service, new construction work is of great service, giving is of great service, and veneration is of great service in these various duties. If, great king, all were perfectly pure by birth, there would be no need for instruction. But because, great king, there is a need for listening—the Elder Sāriputta, great king, whose wholesome roots had been accumulated for an immeasurable, incalculable aeon, who had reached the pinnacle of wisdom, even he was unable to attain the destruction of the cankers without listening. Therefore, great king, listening is of great service, and so too are recitation and questioning. Thus, recitation and questioning are also reckoned as conducive to non-proliferation.” “The question has been well clarified, venerable Nāgasena, and I accept it as such.”
– Tâu Đại vương, việc học hỏi cũng có nhiều lợi ích, việc tra vấn cũng có nhiều lợi ích, công việc xây cất mới cũng có nhiều lợi ích, việc bố thí cũng có nhiều lợi ích, việc cúng dường cũng có nhiều lợi ích trong những phận sự khác nhau. Tâu Đại vương, ví như một người hầu cận đức vua, khi có công việc phát sinh, tất cả những người khác như các vị quan, binh lính, lính gác, cận vệ, và các thành viên trong hội đồng đều trở nên hữu ích cho người ấy. Cũng vậy, tâu Đại vương, việc học hỏi cũng có nhiều lợi ích, việc tra vấn cũng có nhiều lợi ích, công việc xây cất mới cũng có nhiều lợi ích, việc bố thí cũng có nhiều lợi ích, việc cúng dường cũng có nhiều lợi ích trong những phận sự khác nhau. Tâu Đại vương, nếu tất cả mọi người đều trong sạch từ khi sinh ra, thì không cần phải có sự giáo huấn. Nhưng chính vì cần phải có sự nghe pháp, tâu Đại vương, nên Trưởng lão Sāriputta, người đã tích lũy cội rễ thiện lành từ vô lượng vô số kiếp và đã đạt đến đỉnh cao của trí tuệ, ngài cũng không thể đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc nếu không nghe pháp. Do đó, tâu Đại vương, việc nghe pháp có nhiều lợi ích, cũng như việc học hỏi và tra vấn. Vì vậy, việc học hỏi và tra vấn cũng được xem là (phương tiện đưa đến) trạng thái vô hý luận. – Kính bạch ngài Nāgasena, vấn đề đã được làm sáng tỏ. Trẫm xin chấp nhận như vậy.
Nippapañcapañho paṭhamo.
The First Question on Non-Proliferation.
Câu hỏi về Vô Hý Luận, phần thứ nhất.