Bản dịch
MIL 6.1.8 — CÂU HỎI VỀ GIỚI HẠNH TỒI
8. Dussīlapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, cái gì là sự phân biệt giữa người tại gia phá giới và của Sa-môn phá giới? Cái gì là sự khác biệt? Có phải cả hai hạng này đều có cảnh giới tái sanh giống nhau? Có phải cả hai đều có quả thành tựu giống nhau? Hay là có cái gì đó khác nhau?”
“Tâu đại vương, mười đức tính này của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới. Và sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do. Mười đức tính nào của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới?
Tâu đại vương, ở đây vị Sa-môn phá giới có sự tôn kính đức Phật; có sự tôn kính Giáo Pháp; có sự tôn kính Hội Chúng; có sự tôn kính những vị hành Phạm hạnh; ra sức trong việc đọc tụng và học hỏi; có nhiều sự lắng nghe (đa văn); tâu đại vương, vị có giới bị hỏng, có giới tồi, đi đến tập thể cũng thể hiện tư cách; gìn giữ thân khẩu vì sợ sự chê trách; tâm của vị này có sự hướng đến việc nỗ lực; đã đến gần bản thể Sa-môn của vị tỳ khưu; tâu đại vương, trong khi làm điều ác vị Sa-môn phá giới thực hiện một cách giấu diếm. Tâu đại vương, giống như người nữ có chồng lén lút rồi thực hiện việc sái quấy một cách vô cùng bí mật. Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong khi làm điều ác vị Sa-môn phá giới thực hiện một cách giấu diếm. Tâu đại vương, mười đức tính này của vị Sa-môn phá giới là dư thừa cho sự phân biệt với người tại gia phá giới.
BJT 2Sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do nào? Sự cúng dường được trong sạch do việc mang lớp vỏ bọc không tội lỗi; sự cúng dường được trong sạch do việc mang đặc điểm đầu cạo tóc, là biểu hiện Sa-môn của ẩn sĩ; sự cúng dường được trong sạch do việc đã tham gia vào cuộc hội họp của Hội Chúng; sự cúng dường được trong sạch do việc đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng; sự cúng dường được trong sạch do việc đã cư ngụ ở tập thể có khuynh hướng nỗ lực; sự cúng dường được trong sạch do việc tầm cầu tài sản Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng; sự cúng dường được trong sạch do việc thuyết giảng Giáo Pháp cao quý; sự cúng dường được trong sạch vì mục đích tối hậu là việc đi đến hòn đảo Giáo Pháp; sự cúng dường được trong sạch do có quan điểm hoàn toàn chánh trực về: ‘Đức Phật là cao cả;’ sự cúng dường được trong sạch do việc thọ trì ngày Uposatha. Tâu đại vương, sự cúng dường được trong sạch hơn bởi mười lý do này.
Tâu đại vương, vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ. Tâu đại vương, giống như nước, mặc dầu sền sệt, cũng tẩy sạch bùn, lầy, bụi bặm, vết dơ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như nước nóng, mặc dầu đã được đun sôi dữ dội, cũng dập tắt được đám lửa lớn đang bốc cháy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như thức ăn, mặc dầu vô vị, cũng xua đi sự suy nhược vì cơn đói. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị Sa-môn phá giới, mặc dầu bị phạm tội rõ ràng, cũng làm trong sạch sự cúng dường của các thí chủ.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở lời giải thích về sự phân loại cúng dường ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Majjhimanikāya (Trung Bộ) rằng:
‘Người nào có giới hạnh dâng cúng vật thí (do của cải) đã đạt được hợp pháp đến những kẻ có giới hạnh tồi với tâm khéo tịnh tín, trong khi có đức tin thì quả của nghiệp là tột bực; sự cúng dường ấy được trong sạch về phía người thí chủ.’”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Chúng tôi đã hỏi câu hỏi có chừng ấy, thì ngài, trong khi giải thích nó bằng những ví dụ, bằng những lý lẽ, đã khiến cho vị ngọt của Bất Tử được lắng nghe. Thưa ngài, giống như người đầu bếp hoặc học trò của người đầu bếp, sau khi nhận được chừng ấy thịt thì đã sửa soạn với nhiều vật liệu các loại khác nhau, rồi làm ra món ăn cho đức vua. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế chúng tôi đã hỏi câu hỏi có chừng ấy, thì ngài đã khi giải thích nó bằng những ví dụ, bằng những lý lẽ, và đã khiến cho vị ngọt của Bất Tử được lắng nghe.”
Câu hỏi về giới hạnh tồi là thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Dasa yime, mahārāja, guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā, dasahi ca kāraṇehi uttariṃ dakkhiṇaṃ visodheti.
“Great king, these ten qualities of an immoral monk are especially superior to those of an immoral householder, and for ten reasons, he further purifies an offering.”
“Thưa Đại vương, có mười phẩm chất này của vị sa-môn phá giới đặc biệt hơn, vượt trội hơn người tại gia phá giới, và do mười lý do này mà (vị ấy) làm cho vật cúng dường được thanh tịnh hơn.”
‘‘Katame dasa guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā? Idha, mahārāja, samaṇadussīlo buddhe sagāravo hoti, dhamme sagāravo hoti, saṅghe sagāravo hoti, sabrahmacārīsu sagāravo hoti, uddesaparipucchāya vāyamati, savanabahulo hoti, bhinnasīlopi, mahārāja, dussīlo parisagato ākappaṃ upaṭṭhapeti, garahabhayā kāyikaṃ vācasikaṃ rakkhati, padhānābhimukhañcassa hoti cittaṃ, bhikkhusāmaññaṃ upagato hoti. Karontopi, mahārāja, samaṇadussīlo pāpaṃ paṭicchannaṃ ācarati. Yathā, mahārāja, itthī sapatikā nilīyitvā rahasseneva pāpamācarati; evameva kho, mahārāja, karontopi samaṇadussīlo pāpaṃ paṭicchannaṃ ācarati. Ime kho, mahārāja, dasa guṇā samaṇadussīlassa gihidussīlato visesena atirekā.
“What are the ten qualities of an immoral monk that are especially superior to those of an immoral householder? Here, great king, an immoral monk is respectful toward the Buddha, respectful toward the Dhamma, respectful toward the Saṅgha, and respectful toward his fellows in the holy life. He strives in study and inquiry; he is devoted to listening. Even though his virtue is broken, great king, the immoral one, when in an assembly, maintains his deportment. Out of fear of blame, he guards his bodily and verbal actions. His mind is inclined toward exertion. He has attained the state of a monk. Even when doing evil, great king, an immoral monk acts in a concealed manner. Just as, great king, a married woman commits evil by hiding and in secret, so too, great king, an immoral monk, when doing evil, acts in a concealed manner. These, great king, are the ten qualities of the immoral monk that are especially superior to those of an immoral householder.”
“Mười phẩm chất nào của vị sa-môn phá giới đặc biệt hơn, vượt trội hơn người tại gia phá giới? Thưa Đại vương, ở đây, vị sa-môn phá giới có lòng tôn kính đối với Đức Phật, có lòng tôn kính đối với Chánh pháp, có lòng tôn kính đối với Tăng chúng, có lòng tôn kính đối với các vị đồng phạm hạnh. Vị ấy nỗ lực trong việc học hỏi và tra vấn, là người nghe nhiều. Thưa Đại vương, dù đã phá giới, người phá giới khi đến giữa hội chúng vẫn giữ gìn oai nghi, vì sợ bị chê trách mà phòng hộ thân và khẩu. Tâm của vị ấy cũng hướng về sự tinh tấn, và vị ấy đã đạt đến địa vị của một vị tỳ-khưu. Thưa Đại vương, dù làm điều ác, vị sa-môn phá giới cũng hành động một cách che giấu. Ví như, thưa Đại vương, người phụ nữ đã có chồng, khi làm điều xấu ác cũng làm một cách lén lút, kín đáo. Cũng vậy, thưa Đại vương, dù làm điều ác, vị sa-môn phá giới cũng hành động một cách che giấu. Thưa Đại vương, đây là mười phẩm chất của vị sa-môn phá giới đặc biệt hơn, vượt trội hơn người tại gia phá giới.”
‘‘Katamehi dasahi kāraṇehi uttariṃ dakkhiṇaṃ visodheti? Anavajjakavacadhāraṇatāyapi dakkhiṇaṃ visodheti, isisāmaññabhaṇḍuliṅgadhāraṇatopi dakkhiṇaṃ visodheti, saṅghasamayamanuppaviṭṭhatāyapi dakkhiṇaṃ visodheti, buddhadhammasaṅghasaraṇagatatāyapi dakkhiṇaṃ visodheti, padhānāsayaniketavāsitāyapi dakkhiṇaṃ visodheti, jinasāsanadhara † pariyesanatopi dakkhiṇaṃ visodheti, pavaradhammadesanatopi dakkhiṇaṃ visodheti, dhammadīpagatiparāyaṇatāyapi dakkhiṇaṃ visodheti, ‘aggo buddho’ti ekantaujudiṭṭhitāyapi dakkhiṇaṃ visodheti, uposathasamādānatopi dakkhiṇaṃ visodheti. Imehi kho, mahārāja, dasahi kāraṇehi uttariṃ dakkhiṇaṃ visodheti.
“By what ten reasons does he further purify an offering? By wearing the blameless armor, he purifies an offering. By wearing the shaven-headed sign, the mark of a sage, he purifies an offering. By participating in the Saṅgha’s assembly, he purifies an offering. By taking refuge in the Buddha, the Dhamma, and the Saṅgha, he purifies an offering. By dwelling in an abode conducive to striving, he purifies an offering. By seeking out those who uphold the Victor's teaching, he purifies an offering. By teaching the excellent Dhamma, he purifies an offering. By having the Dhamma as his island and refuge, he purifies an offering. By having the unwavering conviction that ‘the Buddha is supreme,’ he purifies an offering. By undertaking the Uposatha observance, he purifies an offering. By these ten reasons, great king, he further purifies an offering.”
“Do mười lý do nào mà (vị ấy) làm cho vật cúng dường được thanh tịnh hơn? Vị ấy làm cho vật cúng dường được thanh tịnh do việc mang y phục không thể chê trách; do việc mang tướng mạo của bậc ẩn sĩ; do việc đã gia nhập vào Tăng chúng; do việc đã quy y Phật, Pháp, Tăng; do việc trú ngụ tại nơi ở của những người hành thiền; do việc tìm cầu sự duy trì giáo pháp của Đấng Chiến Thắng; do việc thuyết giảng Chánh pháp cao thượng; do việc lấy Chánh pháp làm hòn đảo, làm nơi nương tựa, làm cứu cánh; do việc có chánh kiến tuyệt đối rằng ‘Đức Phật là bậc tối thượng’; và do việc thọ trì ngày Bố-tát. Thưa Đại vương, do mười lý do này mà (vị ấy) làm cho vật cúng dường được thanh tịnh hơn.”
‘‘Suvipannopi hi, mahārāja, samaṇadussīlo dāyakānaṃ dakkhiṇaṃ visodheti. Yathā, mahārāja, udakaṃ subahalampi kalalakaddamarajojallaṃ apaneti; evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṃ dakkhiṇaṃ visodheti.
“Even if he is utterly corrupt, great king, an immoral ascetic purifies the donors’ offering. Just as, great king, even very thick and muddy water removes mire, mud, dust, and dirt, so too, great king, even if utterly corrupt, an immoral ascetic purifies the donors’ offering.”
“Thưa Đại vương, dù vị sa-môn phá giới có hư hỏng đến đâu, vẫn làm cho vật cúng dường của thí chủ được thanh tịnh. Ví như, thưa Đại vương, nước dù có nhiều bùn lầy, bụi bẩn, vẫn có thể loại trừ được chúng. Cũng vậy, thưa Đại vương, dù vị sa-môn phá giới có hư hỏng đến đâu, vẫn làm cho vật cúng dường của thí chủ được thanh tịnh.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, uṇhodakaṃ sukudhitampi † jjalantaṃ mahantaṃ aggikkhandhaṃ nibbāpeti, evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṃ dakkhiṇaṃ visodheti.
“Or just as, great king, hot water, even if it has boiled vigorously, extinguishes a great blazing mass of fire, so too, great king, even if utterly corrupt, an immoral ascetic purifies the donors’ offering.”
“Hoặc ví như, thưa Đại vương, nước nóng dù đang sôi sùng sục vẫn có thể dập tắt một đống lửa lớn đang cháy bừng. Cũng vậy, thưa Đại vương, dù vị sa-môn phá giới có hư hỏng đến đâu, vẫn làm cho vật cúng dường của thí chủ được thanh tịnh.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, bhojanaṃ virasampi khudādubbalyaṃ apaneti, evameva kho, mahārāja, suvipannopi samaṇadussīlo dāyakānaṃ dakkhiṇaṃ visodheti.
“Or just as, great king, even tasteless food relieves hunger and weakness, so too, great king, even if utterly corrupt, an immoral ascetic purifies the donors’ offering.”
“Hoặc ví như, thưa Đại vương, thức ăn dù không có hương vị vẫn có thể xua tan cơn đói và sự mệt mỏi. Cũng vậy, thưa Đại vương, dù vị sa-môn phá giới có hư hỏng đến đâu, vẫn làm cho vật cúng dường của thí chủ được thanh tịnh.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, tathāgatena devātidevena majjhimanikāyavaralañchake dakkhiṇavibhaṅge veyyākaraṇe –
“This was spoken, great king, by the Tathāgata, the god above gods, in the Dakkhiṇāvibhaṅga, an exposition in the excellent section of the Majjhima Nikāya:”
“Thưa Đại vương, điều này đã được Đức Như Lai, bậc Thiên Nhân Sư, nói trong bài kinh Phân Biệt Cúng Dường, thuộc Trung Bộ Kinh ưu việt:”
‘‘‘Yo sīlavā dussīlesu dadāti dānaṃ, dhammena laddhaṃ supasannacitto;
Abhisaddahaṃ kammaphalaṃ uḷāraṃ, sā dakkhiṇā dāyakato visujjhatī’’’ti †.
“‘He who is virtuous gives a gift to the immoral, with a very serene mind, obtained righteously, having faith in the excellent fruit of kamma; that offering is purified by the giver.’”
“‘Người có giới hạnh, với tâm trong sạch, cúng dường vật phẩm có được một cách hợp pháp cho những người phá giới; tin tưởng vào quả báo to lớn của nghiệp, sự cúng dường ấy được thanh tịnh từ phía người thí chủ.’”
‘‘Acchariyaṃ, bhante nāgasena, abbhutaṃ, bhante nāgasena, tāvatakaṃ mayaṃ pañhaṃ apucchimha, taṃ tvaṃ opammehi kāraṇehi vibhāvento amatamadhuraṃ savanūpagaṃ akāsi. Yathā nāma, bhante, sūdo vā sūdantevāsī vā tāvatakaṃ maṃsaṃ labhitvā nānāvidhehi sambhārehi sampādetvā rājūpabhogaṃ karoti; evameva kho, bhante nāgasena, tāvatakaṃ mayaṃ pañhaṃ apucchimha, taṃ tvaṃ opammehi kāraṇehi vibhāvetvā amatamadhuraṃ savanūpagaṃ akāsī’’ti.
“Wonderful, Venerable Nāgasena, marvelous, Venerable Nāgasena! We asked just this one question, and you, explaining it with similes and reasons, have made it as sweet as nectar, fit for hearing. Just as, Venerable Sir, a cook or a cook’s apprentice, having obtained just so much meat, prepares it with various ingredients and makes it fit for a king’s enjoyment; in the same way, Venerable Nāgasena, we asked just this one question, and you, explaining it with similes and reasons, have made it as sweet as nectar, fit for hearing.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, thật là kỳ diệu! Bạch Đại đức Nāgasena, thật là phi thường! Bần tăng đã hỏi ngài rất nhiều câu hỏi, ngài đã dùng các ví dụ và lý lẽ để giải thích, làm cho chúng trở nên ngọt ngào như cam lồ, dễ nghe. Bạch Đại đức, ví như người đầu bếp hoặc đệ tử của người đầu bếp, sau khi nhận được rất nhiều thịt, đã dùng các loại gia vị khác nhau để chế biến thành món ăn dâng lên đức vua; cũng vậy, bạch Đại đức Nāgasena, bần tăng đã hỏi ngài rất nhiều câu hỏi, ngài đã dùng các ví dụ và lý lẽ để giải thích, làm cho chúng trở nên ngọt ngào như cam lồ, dễ nghe.”
Dussīlapañho aṭṭhamo.
The Eighth Question: On the Immoral One.
Câu hỏi về người ác giới, chương thứ tám.