Bản dịch
MIL 6.1.7 — CÂU HỎI VỀ CHƯỚNG NGẠI CỦA SỰ CHỨNG NGỘ
7. Abhisamayantarāyakarapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ở đây có người tại gia nào đó phạm tội cực nặng, người ấy vào lúc khác xuất gia, người ấy tự mình cũng không biết rằng: ‘Khi là người tại gia, ta đã phạm tội cực nặng;’ cũng không có ai nói cho người ấy rằng: ‘Khi là người tại gia, ngươi đã phạm tội cực nặng.’ Và người ấy thực hành để chứng đạt Niết Bàn, phải chăng đối với người ấy có thể có sự chứng ngộ Giáo Pháp?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài, vì lý do gì?”
“Điều kiện đưa đến sự chứng ngộ Giáo Pháp của người ấy đã bị đứt đoạn đối với người ấy, do đó không có sự chứng ngộ Giáo Pháp.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đối với người biết thì có sự hối hận. Khi có sự hối hận thì có sự che lấp, khi tâm bị che lấp thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp.’ Tuy nhiên, người này trong khi không biết, thì đã không sanh lòng hối hận, sống có tâm an tịnh, vì lý do gì mà đối với người này thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp? Câu hỏi này quanh co khúc mắc. Xin ngài suy nghĩ rồi hãy trả lời.”
“Tâu đại vương, có phải hạt giống có phẩm chất, được ủ tốt đẹp sẽ nẩy mầm ở thửa ruộng mầu mỡ, được cày kỹ lưỡng, có bùn non?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, phải chăng chính hạt giống ấy có thể nẩy mầm ở bề mặt tảng đá cứng?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì tại sao cũng hạt giống ấy lại nẩy mầm ở bãi bùn, tại sao lại không nẩy mầm ở tảng đá cứng?”
BJT 2“Thưa ngài, điều kiện cho việc nẩy mầm của hạt giống ấy không có ở tảng đá cứng. Do không có điều kiện, hạt giống không nẩy mầm.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế với điều kiện nào mà người ấy có sự chứng ngộ Giáo Pháp, điều kiện ấy đối với người ấy đã bị trừ tuyệt. Do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ Giáo Pháp. Tâu đại vương, hoặc là giống như cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ đi đến việc trụ lại ở trái đất, phải chăng chính các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy đi đến việc trụ lại ở không trung?” “Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy chính các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy đi đến việc trụ lại ở trái đất? Vì lý do gì chúng không trụ lại ở không trung?”
“Thưa ngài, điều kiện cho việc trụ lại của các cây gậy, cục đất, cây côn, cái vồ ấy không có ở không trung. Do không có điều kiện, chúng không trụ lại.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tội lỗi ấy điều kiện của sự chứng ngộ đã bị đứt đoạn đối với người ấy. Khi điều kiện đã bị tiêu diệt, do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ. Tâu đại vương, hoặc là giống như ngọn lửa phát cháy ở đất bằng, tâu đại vương, phải chăng chính ngọn lửa ấy phát cháy ở trong nước?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, vậy thì ở đây điều gì là lý do mà với lý do ấy chính ngọn lửa ấy phát cháy ở đất bằng? Vì lý do gì nó không phát cháy ở trong nước?”
“Thưa ngài, điều kiện cho việc phát cháy của ngọn lửa không có ở trong nước. Do không có điều kiện, nó không phát cháy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do tội lỗi ấy điều kiện của sự chứng ngộ đã bị đứt đoạn đối với người ấy. Khi điều kiện đã bị tiêu diệt, do không có điều kiện, thì không có sự chứng ngộ.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài hãy suy nghĩ lại về ý nghĩa này. Trẫm không có sự tin chắc ở tâm về trường hợp ấy là: ‘Đối với người không biết, khi không có sự hối hận, lại có sự che lấp.’ Hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, phải chăng chất độc dữ dội đã được ăn vào mặc dầu không biết, cũng lấy đi mạng sống?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, phải chăng ngọn lửa cũng thiêu đốt người bước lên mà không biết?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, phải chăng rắn độc sau khi cắn người không biết (bản thân đã bị rắn cắn) cũng lấy đi mạng sống?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc ác đã được làm mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ. Tâu đại vương, quả là Samaṇakolañña, vua xứ Kāliṅga, được tùy tùng với bảy báu vật, sau khi cỡi lên con voi báu, trong khi đi đến thăm gia đình, mặc dầu không biết cũng đã không thể di chuyển phía bên trên khu vực cội cây Bồ Đề. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy việc ác đã được làm, mặc dầu không biết, cũng là việc tạo ra chướng ngại cho sự chứng ngộ.”
“Thưa ngài Nāgasena, không thể bác bỏ lý do đã được đấng Chiến Thắng giảng giải. Điều này đúng là ý nghĩa của việc ấy. Trẫm chấp nhận như thế.”
Câu hỏi về chướng ngại của sự chứng ngộ là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. ‘‘Bhante nāgasena, idha yo koci gihī pārājikaṃ ajjhāpanno bhaveyya, so aparena samayena pabbājeyya, attanāpi so na jāneyya ‘gihipārājikaṃ ajjhāpannosmī’ti, napi tassa añño koci ācikkheyya ‘gihipārājikaṃ ajjhāpannosī’ti. So ca tathattāya paṭipajjeyya, api nu tassa dhammābhisamayo bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi, mahārājā’’ti. ‘‘Kena, bhante, kāraṇenā’’ti? ‘‘Yo tassa hetu dhammābhisamayāya, so tassa samucchinno, tasmā dhammābhisamayo na bhavatī’’ti.
7. “Venerable Nāgasena, if here any householder has fallen into a pārājika offense, and later goes forth, but he himself does not know, ‘I have fallen into a householder's pārājika offense,’ nor does anyone else tell him, ‘You have fallen into a householder's pārājika offense,’ and if he then practices for that attainment, could there be a realization of the Dhamma for him?” “No, great king.” “For what reason, venerable sir?” “The cause for his realization of the Dhamma has been cut off; therefore, there is no realization of the Dhamma.”
7. – Kính bạch Đại đức Nāgasena, ở đây, nếu có người cư sĩ nào đã phạm tội bất cộng trụ (pārājika), sau đó người ấy xuất gia. Tự người ấy cũng không biết rằng: ‘Ta đã phạm tội bất cộng trụ khi còn là cư sĩ’, và cũng không có ai khác bảo cho người ấy rằng: ‘Ngươi đã phạm tội bất cộng trụ khi còn là cư sĩ’. Và người ấy thực hành để đạt được mục đích ấy. Vậy sự chứng ngộ Chánh pháp có thể xảy ra cho người ấy không? – Tâu Đại vương, không thể. – Kính bạch Đại đức, do nguyên nhân nào? – Nguyên nhân để người ấy chứng ngộ Chánh pháp đã bị đoạn tuyệt. Do đó, sự chứng ngộ Chánh pháp không thể xảy ra.
‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘jānantassa kukkuccaṃ hoti, kukkucce sati āvaraṇaṃ hoti, āvaṭe citte dhammābhisamayo na hotī’ti. Imassa pana ajānantassa akukkuccajātassa santacittassa viharato kena kāraṇena dhammābhisamayo na hoti, visamena visameneso pañho gacchati, cintetvā visajjethā’’ti.
“Venerable Nāgasena, you say that ‘for one who knows, there is remorse; when there is remorse, there is an obstruction; with an obstructed mind, there is no realization of the Dhamma.’ But for this one who does not know, for whom remorse has not arisen, who dwells with a tranquil mind—for what reason is there no realization of the Dhamma? This question proceeds unevenly; reflect and answer.”
– Kính bạch Đại đức Nāgasena, các ngài nói rằng: ‘Đối với người biết, hối hận (kukkucca) khởi lên; khi có hối hận, chướng ngại khởi lên; khi tâm bị chướng ngại, sự chứng ngộ Chánh pháp không xảy ra’. Nhưng đối với người này, là người không biết, không có hối hận khởi lên, đang an trú với tâm thanh tịnh, do nguyên nhân nào mà sự chứng ngộ Chánh pháp không xảy ra? Câu hỏi này thật là mâu thuẫn. Xin Đại đức suy xét rồi hãy giải đáp.
‘‘Ruhati, mahārāja, sukaṭṭhe sukalale maṇḍakhette sāradaṃ sukhasayitaṃ bīja’’nti? ‘‘Āma, bhante’’ti. ‘‘Api nu, mahārāja, taññeva bījaṃ ghanaselasilātale ruheyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Kissa pana, mahārāja, taññeva bījaṃ kalale ruhati, kissa ghanasele na ruhatī’’ti? ‘‘Natthi, bhante, tassa bījassa ruhanāya ghanasele hetu, ahetunā bījaṃ na ruhatī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, yena hetunā tassa dhammābhisamayo bhaveyya, so tassa hetu samucchinno, ahetunā dhammābhisamayo na hoti.
“Great king, does a well-placed autumn seed sprout in a well-plowed, fertile, prepared field?” “Yes, venerable sir.” “But would that same seed sprout, great king, if placed on the surface of a solid rock?” “No, venerable sir.” “Why is it, great king, that the same seed sprouts in fertile soil but not on a solid rock?” “Venerable sir, there is no cause on the solid rock for that seed to sprout; without a cause, the seed does not sprout.” “Just so, great king, the cause by which there might be a realization of the Dhamma for him has been cut off; without a cause, there is no realization of the Dhamma.”
– Tâu Đại vương, một hạt giống đã qua mùa thu, được gieo trong một thửa ruộng tốt, đất được cày kỹ, chuẩn bị chu đáo, có nảy mầm không? – Thưa có, bạch Đại đức. – Tâu Đại vương, vậy cũng hạt giống ấy, có thể nảy mầm trên bề mặt một tảng đá cứng không? – Thưa không, bạch Đại đức. – Tâu Đại vương, tại sao cũng hạt giống ấy lại nảy mầm trong đất đã chuẩn bị, mà tại sao lại không nảy mầm trên tảng đá cứng? – Bạch Đại đức, trên tảng đá cứng không có nguyên nhân để hạt giống ấy nảy mầm. Không có nguyên nhân, hạt giống không nảy mầm. – Cũng vậy, tâu Đại vương, nguyên nhân mà nhờ đó sự chứng ngộ Chánh pháp có thể xảy ra cho người ấy, nguyên nhân ấy đã bị đoạn tuyệt. Không có nguyên nhân, sự chứng ngộ Chánh pháp không xảy ra.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā pathaviyā ṭhānamupagacchanti, api nu, mahārāja, te yeva daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā gagane ṭhānamupagacchantī’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Kiṃ panettha, mahārāja, kāraṇaṃ, yena kāraṇena te yeva daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarā pathaviyā ṭhānamupagacchanti, kena kāraṇena gagane na tiṭṭhantī’’ti? ‘‘Natthi, bhante, tesaṃ daṇḍaleḍḍulaguḷamuggarānaṃ patiṭṭhānāya ākāse hetu, ahetunā na tiṭṭhantī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, tassa tena dosena abhisamayahetu samucchinno, hetusamugghāte ahetunā abhisamayo na hotīti.
“Or again, great king, sticks, clods, clubs, and mallets find a place on the earth. But, great king, do those same sticks, clods, clubs, and mallets find a place in the sky?” “No, venerable sir.” “What is the reason here, great king? For what reason do those same sticks, clods, clubs, and mallets find a place on the earth, and for what reason do they not stay in the sky?” “Venerable sir, there is no cause in the sky for those sticks, clods, clubs, and mallets to be established; without a cause, they do not stay.” “Just so, great king, by that fault the cause for his realization is cut off. When the cause is eradicated, without a cause, there is no realization.”
– Hoặc nữa, tâu Đại vương, gậy, cục đất, quả cầu, và vồ có thể đứng yên trên mặt đất. Tâu Đại vương, vậy cũng những cây gậy, cục đất, quả cầu, và vồ ấy có thể đứng yên trên hư không không? – Thưa không, bạch Đại đức. – Tâu Đại vương, đâu là nguyên nhân ở đây, do nguyên nhân nào mà cũng những cây gậy, cục đất, quả cầu, và vồ ấy lại đứng yên trên mặt đất, và do nguyên nhân nào chúng lại không đứng yên trên hư không? – Bạch Đại đức, trên hư không không có nguyên nhân để những cây gậy, cục đất, quả cầu, và vồ ấy có chỗ tựa. Không có nguyên nhân, chúng không thể đứng yên. – Cũng vậy, tâu Đại vương, đối với người ấy, do lỗi lầm đó mà nguyên nhân chứng ngộ đã bị đoạn tuyệt. Khi nguyên nhân đã bị nhổ bật, không có nguyên nhân, sự chứng ngộ không xảy ra.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, thale aggi jalati, api nu kho, mahārāja, so yeva aggi udake jalatī’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Kiṃ panettha, mahārāja, kāraṇaṃ, yena kāraṇena so yeva aggi thale jalati, kena kāraṇena udake na jalatī’’ti? ‘‘Natthi, bhante, aggissa jalanāya udake hetu, ahetunā na jalatī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, tassa tena dosena abhisamayahetu samucchinno, hetusamugghāte ahetunā dhammābhisamayo na hotī’’ti.
“Or again, great king, fire burns on dry land. But, great king, does that same fire burn in water?” “No, venerable sir.” “What is the reason here, great king? For what reason does that same fire burn on dry land, and for what reason does it not burn in water?” “Venerable sir, there is no cause in water for fire to burn; without a cause, it does not burn.” “Just so, great king, by that fault the cause for his realization of the Dhamma is cut off. When the cause is eradicated, without a cause, there is no realization of the Dhamma.”
“Thưa Đại vương, ví như lửa cháy ở trên cạn, vậy thưa Đại vương, chính ngọn lửa ấy có cháy được ở dưới nước không?” “Thưa Đại đức, không ạ.” “Thưa Đại vương, do nguyên nhân nào, do lý do nào mà chính ngọn lửa ấy cháy được ở trên cạn, nhưng lại không cháy được ở dưới nước?” “Thưa Đại đức, ở dưới nước không có nhân duyên để cho lửa cháy, vì không có nhân duyên nên nó không cháy.” “Cũng vậy, thưa Đại vương, do lỗi lầm ấy mà nhân duyên chứng ngộ của người ấy đã bị cắt đứt. Khi nhân duyên đã bị đoạn trừ, vì không có nhân duyên nên sự chứng ngộ Chánh pháp không thể xảy ra.”
‘‘Bhante nāgasena, punapetaṃ atthaṃ cintehi, na me tattha cittasaññatti bhavati, ajānantassa asati kukkucce āvaraṇaṃ hotīti, kāraṇena maṃ saññāpehī’’ti. ‘‘Api nu, mahārāja, visaṃ halāhalaṃ ajānantena khāyitaṃ jīvitaṃ haratī’’ti? ‘‘Āma, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṃ pāpaṃ abhisamayantarāyakaraṃ hoti.
“Venerable Nāgasena, reflect on this matter again, for a clear understanding of it does not arise in my mind: that for one who does not know, when there is no remorse, there is an obstruction. Make me understand with a reason.” “Great king, if deadly halāhala poison is eaten by one who does not know, does it not take his life?” “Yes, venerable sir.” “Just so, great king, even an evil deed done unknowingly creates an obstacle to the realization of the Dhamma.”
“Thưa Đại đức Nāgasena, xin ngài hãy suy xét lại vấn đề này. Tâm của trẫm không thể chấp nhận được rằng người không biết, không có hối hận, mà lại có chướng ngại. Xin ngài hãy dùng lý lẽ để làm cho trẫm hiểu rõ.” “Thưa Đại vương, có phải chất độc chết người, dù người ăn không biết đó là độc, vẫn lấy đi mạng sống không?” “Thưa Đại đức, vâng ạ.” “Cũng vậy, thưa Đại vương, việc ác đã làm, dù là do không biết, cũng trở thành chướng ngại cho sự chứng ngộ.”
‘‘Api nu, mahārāja, aggi ajānitvā akkamantaṃ ḍahatī’’ti? ‘‘Āma, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṃ pāpaṃ abhisamayantarāyakaraṃ hoti.
“Great king, does fire not burn one who treads on it without knowing?” “Yes, venerable sir.” “Just so, great king, even an evil deed done unknowingly creates an obstacle to the realization of the Dhamma.”
“Thưa Đại vương, có phải lửa vẫn thiêu đốt người dẫm phải nó mà không biết không?” “Thưa Đại đức, vâng ạ.” “Cũng vậy, thưa Đại vương, việc ác đã làm, dù là do không biết, cũng trở thành chướng ngại cho sự chứng ngộ.”
‘‘Api nu, mahārāja, ajānantaṃ āsīviso ḍaṃsitvā jīvitaṃ haratī’’ti? ‘‘Āma, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ajānantenapi kataṃ pāpaṃ abhisamayantarāyakaraṃ hoti.
“Great king, if a venomous snake bites one who does not know, does it not take his life?” “Yes, venerable sir.” “Just so, great king, even an evil deed done unknowingly creates an obstacle to the realization of the Dhamma.”
“Thưa Đại vương, có phải rắn độc cắn người không biết, vẫn lấy đi mạng sống không?” “Thưa Đại đức, vâng ạ.” “Cũng vậy, thưa Đại vương, việc ác đã làm, dù là do không biết, cũng trở thành chướng ngại cho sự chứng ngộ.”
‘‘Nanu, mahārāja, kāliṅgarājā samaṇakolañño sattaratanaparikiṇṇo hatthiratanamabhiruyha kuladassanāya gacchanto ajānantopi nāsakkhi bodhimaṇḍassa uparito gantuṃ, idamettha, mahārāja, kāraṇaṃ, yena kāraṇena ajānantenapi kataṃ pāpaṃ abhisamayantarāyakaraṃ hotī’’ti? ‘‘Jinabhāsitaṃ, bhante nāgasena, kāraṇaṃ na sakkā paṭikkosituṃ, esovetassa attho tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Was not King Kāliṅga, of an ascetic's lineage, surrounded by the seven treasures and mounted on the elephant-jewel, while going to see his family, unable to pass over the Bodhi-maṇḍala, even though he was unknowing? This, great king, is the reason why even an evil deed done unknowingly creates an obstacle to the realization of the Dhamma.” “Venerable Nāgasena, a reason spoken by the Victor cannot be refuted. This is indeed its meaning, and I accept it thus.”
“Thưa Đại vương, chẳng phải vua Kāliṅga, con của vị ẩn sĩ, được vây quanh bởi bảy báu, cưỡi trên voi báu đi thăm gia tộc, dù không biết, cũng đã không thể đi qua phía trên Bồ-đề đoàn tràng hay sao? Thưa Đại vương, đây chính là lý do, do lý do này mà việc ác đã làm, dù là do không biết, cũng trở thành chướng ngại cho sự chứng ngộ.” “Thưa Đại đức Nāgasena, lý lẽ do Đấng Chiến Thắng đã dạy không thể bác bỏ được. Đây chính là ý nghĩa của vấn đề, trẫm xin chấp nhận như vậy.”
Abhisamayantarāyakarapañho sattamo.
The Seventh Question on What Creates an Obstacle to Realization.
Câu hỏi về những điều gây chướng ngại cho sự chứng ngộ, thứ bảy.