Bản dịch
MIL 6.1.2 — CÂU HỎI VỀ VIỆC DÂNG CÚNG TẤM VẢI CỦA BÀ GOTAMĪ
2. Gotamivatthadānapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi dì mẫu Mahāpajāpati Gotamī đang dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’ Thưa ngài Nāgasena, việc đức Như Lai trong khi bản thân được người dì mẫu của mình dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đã được bà đích thân nhuộm, đích thân chải, đích thân đập giũ, đích thân cắt, đích thân dệt, lại bảo dâng đến Hội Chúng, phải chăng đức Như Lai không là người quan trọng, không là bậc được kính trọng, không là bậc đáng được cúng dường so với Hội Chúng quý báu? Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai là vượt hẳn Hội Chúng quý báu, hoặc là trội hơn, hay nổi bật, (nghĩ rằng): ‘Khi Ta được dâng cúng thì sẽ có quả báu lớn,’ đức Như Lai không bảo dâng cúng đến Hội Chúng tấm vải choàng tắm mưa đã được người dì mẫu đích thân nhuộm, đích thân chải, đích thân đập giũ. Thưa ngài Nāgasena, (hay) bởi vì đức Như Lai không thu lợi, không gom vào cho bản thân, vì thế đức Như Lai đã bảo người dì mẫu dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi dì mẫu Mahāpajāpati Gotamī đang dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’ Tuy nhiên, điều ấy không vì trạng thái không có quả thành tựu cho người có sự tôn kính, không phải vì tính chất không đáng được cúng dường của bản thân (Ngài), nhưng vì sự lợi ích, vì lòng thương tưởng (nghĩ rằng): ‘Vào thời vị lai xa xôi, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng sẽ được quan tâm.’ Trong khi tán dương các đức tính quả đang được nhận biết, Ngài đã nói như vầy: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’
Tâu đại vương, giống như người cha, ngay trong khi đang còn sống, tuyên dương tánh tốt quả đang được nhận biết ở người con trai trong sự hiện diện của đức vua, ở giữa quan đại thần, nhân công, binh lính, người giữ cổng, lính gác, quần thần, dân chúng (nghĩ rằng): ‘Được xác lập ở đây, thì vào thời vị lai xa xôi sẽ được tôn vinh ở giữa dân chúng.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai vì sự lợi ích, vì lòng thương tưởng (nghĩ rằng): ‘Vào thời vị lai xa xôi, sau khi Ta tịch diệt, Hội Chúng sẽ được quan tâm,’ trong khi tuyên dương các đức tính quả đang được nhận biết, đã nói như vầy: ‘Này Gotamī, hãy dâng cúng Hội Chúng. Khi Hội Chúng được bà dâng cúng, chính Ta sẽ được tôn vinh, và luôn cả Hội Chúng nữa.’
Tâu đại vương, nhưng không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật. Tâu đại vương, giống như người mẹ và cha xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ cho những đứa con trai. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với chừng ấy việc xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ mà đứa con trai so với mẹ cha được gọi là trội hơn, hay nổi bật?”
BJT 3“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người mẹ và cha có những đứa con trai thì có những việc cần phải làm không theo ý muốn, vì thế người mẹ và cha thực hiện việc xức dầu, xoa bóp, tắm rửa, kỳ cọ cho những đứa con trai.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật. Thêm nữa, đức Như Lai, trong khi thực hiện công việc cần phải làm không theo ý muốn, đã bảo người dì mẫu dâng cúng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam nào đó mang đến tặng phẩm cho đức vua, đức vua có thể cho tặng phẩm ấy đến người nào đó, hoặc là nhân công hoặc binh lính, hoặc tướng lãnh, hoặc vị quân sư. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với chừng ấy việc nhận lãnh tặng phẩm mà người đàn ông ấy so với đức vua được gọi là trội hơn, hay nổi bật?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người đàn ông ấy là người lãnh lương của đức vua, có cuộc sống phụ thuộc vào đức vua. Trong khi đặt để vào vị trí ấy, mà đức vua ban cho tặng phẩm.”
BJT 4“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không phải chỉ với chừng ấy việc ban cho tấm vải choàng tắm mưa mà Hội Chúng so với đức Như Lai được gọi là trội hơn, hay nổi bật, khi ấy (Hội Chúng) là người lãnh lương của đức Như Lai, có cuộc sống phụ thuộc vào đức Như Lai. Trong khi đặt để vào vị trí ấy, mà đức Như Lai đã bảo dâng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng. Tâu đại vương, thêm nữa đức Như Lai đã khởi ý như vầy: ‘Hội chúng là xứng đáng được cúng dường từ trong bản thể, ta sẽ cúng dường đến Hội Chúng với khả năng của mình,’ nên đã bảo dâng tấm vải choàng tắm mưa đến Hội Chúng. Tâu đại vương, đức Như Lai không ca ngợi sự cúng dường đến chính bản thân, khi ấy những vị nào đáng được cúng dường ở thế gian, đức Như Lai cũng ca ngợi sự cúng dường đến các vị ấy.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến trong khi tuyên dương sự thực hành về ít ham muốn ở bài giảng Pháp về sự thừa tự Giáo Pháp ở đoạn Varalañchaka (Dấu Ấn Cao Quý) thuộc Majjhimanikāya (Trung Bộ) rằng: ‘Chính vị tỳ khưu đầu tiên ấy, đối với Ta, là đáng được cúng dường hơn và ca tụng hơn.’ Tâu đại vương, ở các cõi không có chúng sanh nào so với đức Như Lai là xứng đáng được cúng dường, hoặc là trội hơn, hay nổi bật. Chính đức Như Lai là vượt hơn, trội hơn, nổi bật.
BJT 5Tâu đại vương, điều này cũng đã được nói đến ở Tương Ưng Bộ quý báu bởi vị Thiên tử Māṇavagāmika khi đứng ở phía trước đức Thế Tôn, giữa chư Thiên và nhân loại rằng:
‘Trong số các núi ở Rājagaha, núi Vipula được gọi là tối thắng. Ở dãy Hi-mã-lạp, núi Seta là tối thắng. Mặt trời (là tối thắng) trong số các thiên thể. Ðại dương là tối thắng trong số các biển cả. Mặt trăng (là tối thắng) trong số các vì tinh tú. Đức Phật được gọi là tối cao ở thế gian luôn cả chư Thiên.’
Tâu đại vương, hơn nữa những lời kệ này đây đã được khéo ca, không phải vụng ca, đã được khéo thuyết, không phải vụng thuyết bởi vị Thiên tử Māṇavagāmika, và đã được đức Thế Tôn chấp thuận. Tâu đại vương, quả vậy trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, cũng đã nói rằng:
‘Chỉ một việc có niềm tịnh tín ở tâm, hoặc việc nghiêng mình, chắp tay, đi đến nương nhờ nơi đức Phật, bậc có sự tiêu diệt binh đội của Ma Vương, có khả năng giúp cho vượt qua (khổ đau).’
Và đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, có một nhân vật, trong khi được sanh ra ở thế gian, được sanh ra vì sự lợi ích của nhiều người, vì sự an lạc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại. Là một nhân vật nào? Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, trong khi được sanh ra ở thế gian, được sanh ra vì sự lợi ích của nhiều người, vì sự an lạc của nhiều người, vì lòng thương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc dâng cúng tấm vải của bà Gotamī là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā mātucchāya mahāpajāpatiyā gotamiyā vassikasāṭikāya dīyamānāya ‘saṅghe gotami dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti. Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, tathāgato saṅgharatanato na bhāriko na garuko na dakkhiṇeyyo, yaṃ tathāgato sakāya mātucchāya sayaṃ piñjitaṃ † sayaṃ luñcitaṃ sayaṃ pothitaṃ sayaṃ kantitaṃ sayaṃ vāyitaṃ vassikasāṭikaṃ attano dīyamānaṃ saṅghassa dāpesi. Yadi, bhante nāgasena, tathāgato saṅgharatanato uttaro bhaveyya adhiko vā visiṭṭho vā, ‘mayi dinne mahapphalaṃ bhavissatī’ti na tathāgato mātucchāya sayaṃ piñjitaṃ sayaṃ luñcitaṃ sayaṃ pothitaṃ vassikasāṭikaṃ saṅghe dāpeyya, yasmā ca kho bhante nāgasena tathāgato attānaṃ na patthayati † na upanissayati, tasmā tathāgato mātucchāya taṃ vassikasāṭikaṃ saṅghassa dāpesī’’ti.
2. “Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One to his maternal aunt, Mahāpajāpatī Gotamī, as she was offering a rainy-season robe: ‘Give it to the Saṅgha, Gotamī. When you give to the Saṅgha, both I and the Saṅgha will be honored.’ Now, Venerable Nāgasena, is the Tathāgata not more weighty, not more venerable, not more worthy of offerings than the jewel of the Saṅgha, that the Tathāgata had his own maternal aunt give to the Saṅgha a rainy-season robe—carded, plucked, beaten, spun, and woven by herself—that was being offered to him? If, Venerable Nāgasena, the Tathāgata were superior, greater, or more distinguished than the jewel of the Saṅgha, would he not, thinking, ‘Great fruit will come from giving to me,’ have accepted the rainy-season robe—carded, plucked, and beaten by his maternal aunt herself—rather than having her give it to the Saṅgha? But because, Venerable Nāgasena, the Tathāgata does not desire things for himself nor rely upon himself, he had his maternal aunt give that rainy-season robe to the Saṅgha.”
2. Bạch Đại đức Nāgasena, điều này đã được Đức Thế Tôn nói khi di mẫu Mahāpajāpati Gotamī dâng cúng y tắm mưa: ‘Này Gotamī, hãy dâng cho Tăng đoàn. Khi bà dâng cho Tăng đoàn, thì cả ta và Tăng đoàn đều sẽ được cúng dường.’ Bạch Đại đức Nāgasena, có phải chăng Đức Như Lai không đáng được tôn trọng, không đáng được kính nể, không đáng nhận vật cúng dường hơn Tăng bảo, mà Đức Như Lai lại bảo di mẫu của mình dâng cho Tăng đoàn chiếc y tắm mưa do chính tay bà chải bông, làm sạch bông, đánh bông, kéo sợi, dệt thành, đang được dâng lên cho chính ngài? Bạch Đại đức Nāgasena, nếu Đức Như Lai cao quý hơn, vượt trội hơn, hay đặc thù hơn Tăng bảo, thì ngài đã không bảo di mẫu dâng cho Tăng đoàn chiếc y tắm mưa do chính tay bà chải bông, làm sạch bông, đánh bông, kéo sợi, dệt thành, với ý nghĩ rằng ‘dâng cúng cho ta sẽ có quả báu lớn lao’. Bạch Đại đức Nāgasena, chính vì Đức Như Lai không mong cầu cho bản thân, không nương tựa vào bản thân, nên Đức Như Lai đã bảo di mẫu dâng chiếc y tắm mưa ấy cho Tăng đoàn.
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā mātucchāya mahāpajāpatiyā gotamiyā vassikasāṭikāya dīyamānāya ‘saṅghe gotami dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti. Taṃ pana na attano patimānanassa avipākatāya na adakkhiṇeyyatāya, api ca kho, mahārāja, hitatthāya anukampāya anāgatamaddhānaṃ saṅgho mamaccayena cittīkato bhavissatīti vijjamāne yeva guṇe parikittayanto evamāha ‘saṅghe gotami dehi, saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
“Great king, it was indeed said by the Blessed One to his maternal aunt, Mahāpajāpatī Gotamī, as she was offering a rainy-season robe: ‘Give it to the Saṅgha, Gotamī. When you give to the Saṅgha, both I and the Saṅgha will be honored.’ This, however, was not because honoring him would be without fruit, nor because he was unworthy of offerings. Rather, great king, it was for the welfare and out of compassion, so that in the future, after my passing, the Saṅgha would be respected. Thus, extolling the virtues that were already present, he said, ‘Give it to the Saṅgha, Gotamī. When you give to the Saṅgha, both I and the Saṅgha will be honored.’”
Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn nói khi di mẫu Mahāpajāpati Gotamī dâng cúng y tắm mưa: ‘Này Gotamī, hãy dâng cho Tăng đoàn. Khi bà dâng cho Tăng đoàn, thì cả ta và Tăng đoàn đều sẽ được cúng dường.’ Nhưng ngài nói vậy không phải vì sự tôn kính đối với ngài không có kết quả, không phải vì ngài không xứng đáng nhận vật cúng dường. Mà tâu Đại vương, là vì lợi ích, vì lòng bi mẫn, và để tán dương những phẩm hạnh hiện có, ngài đã nói như vậy với ý nghĩ rằng: ‘Trong tương lai, sau khi ta diệt độ, Tăng đoàn sẽ được tôn kính.’ Ngài nói: ‘Này Gotamī, hãy dâng cho Tăng đoàn. Khi bà dâng cho Tăng đoàn, thì cả ta và Tăng đoàn đều sẽ được cúng dường.’
‘‘Yathā, mahārāja, pitā dharamāno yeva amaccabhaṭabaladovārikaanīkaṭṭhapārisajjajanamajjhe rañño santike puttassa vijjamānaṃ yeva guṇaṃ pakitteti † ‘idha ṭhapito anāgatamaddhānaṃ janamajjhe pūjito bhavissatī’ti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato hitatthāya anukampāya anāgatamaddhānaṃ saṅgho mamaccayena cittīkato bhavissatīti vijjamāne yeva guṇe pakittayanto evamāha ‘saṅghe gotami dehi, saṅghe te dinne ahañceva pujito bhavissāmi saṅgho cā’ti.
“Just as, great king, a father, while still living, proclaims the existing virtues of his son in the presence of the king—amidst ministers, retainers, troops, gatekeepers, bodyguards, and members of the assembly—thinking, ‘Established in this way, he will be honored among the people in the future.’ In the same way, great king, the Tathāgata, for the welfare and out of compassion, so that in the future, after my passing, the Saṅgha would be respected, extolled its existing virtues and said, ‘Give it to the Saṅgha, Gotamī; when you give to the Saṅgha, both I and the Saṅgha will be honored.’”
Tâu Đại vương, ví như người cha, khi còn tại thế, ở trước mặt nhà vua, giữa các vị quan, binh lính, lính gác, cận thần và quần chúng, đã ca ngợi những phẩm hạnh hiện có của con trai mình, với ý nghĩ rằng: ‘Nếu được đặt vào vị trí này, trong tương lai nó sẽ được mọi người tôn kính.’ Cũng vậy, tâu Đại vương, Đức Như Lai, vì lợi ích, vì lòng bi mẫn, và để tán dương những phẩm hạnh hiện có, đã nói như vậy với ý nghĩ rằng: ‘Trong tương lai, sau khi ta diệt độ, Tăng đoàn sẽ được tôn kính.’ Ngài nói: ‘Này Gotamī, hãy dâng cho Tăng đoàn. Khi bà dâng cho Tăng đoàn, thì cả ta và Tăng đoàn đều sẽ được cúng dường.’
‘‘Na kho, mahārāja, tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vā. Yathā, mahārāja, mātāpitaro puttānaṃ ucchādenti parimaddanti nahāpenti sambāhenti, api nu kho, mahārāja, tāvatakena ucchādanaparimaddananahāpanasambāhanamattakena ‘putto mātāpitūhi adhiko nāma hoti visiṭṭho vā’ti? ‘‘Na hi, bhante, akāmakaraṇīyā bhante puttā mātāpitūnaṃ, tasmā mātāpitaro puttānaṃ ucchādanaparimaddananahāpanasambāhanaṃ karontī’’ti. Evameva kho, mahārāja, na tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vāti. Api ca tathāgato akāmakaraṇīyaṃ karonto mātucchāya taṃ vassikasāṭikaṃ saṅghassa dāpesi.
“Great king, the Saṅgha does not become superior or more distinguished than the Tathāgata merely by the giving of a rainy-season robe. Just as, great king, parents anoint, rub, bathe, and massage their children, does it follow, great king, that merely by this anointing, rubbing, bathing, and massaging, the child becomes superior or more distinguished than the parents?” “Certainly not, venerable sir. These things must be done for the children by the parents, even if the children are unwilling; that is why parents anoint, rub, bathe, and massage their children.” “In the same way, great king, the Saṅgha does not become superior or more distinguished than the Tathāgata merely by the giving of a rainy-season robe. Rather, the Tathāgata, performing an act that must be done though he was not desirous of it, had his maternal aunt give that rainy-season robe to the Saṅgha.”
Tâu Đại vương, chỉ vì việc dâng cúng chiếc y tắm mưa ấy mà Tăng đoàn không thể gọi là vượt trội hơn hay đặc thù hơn Đức Như Lai. Tâu Đại vương, ví như cha mẹ xoa bóp, tắm rửa, nắn bóp cho con cái. Tâu Đại vương, chỉ vì việc xoa bóp, tắm rửa, nắn bóp ấy mà con cái có thể gọi là vượt trội hơn hay đặc thù hơn cha mẹ chăng?" "Bạch Đại đức, không phải vậy. Bạch Đại đức, con cái là đối tượng mà cha mẹ phải làm những việc dù chúng không muốn, do đó cha mẹ mới xoa bóp, tắm rửa, nắn bóp cho con cái." "Cũng vậy, tâu Đại vương, chỉ vì việc dâng cúng chiếc y tắm mưa ấy mà Tăng đoàn không thể gọi là vượt trội hơn hay đặc thù hơn Đức Như Lai. Hơn nữa, Đức Như Lai, khi làm một việc cần phải làm dù không muốn, đã bảo di mẫu dâng chiếc y tắm mưa ấy cho Tăng đoàn.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, kocideva puriso rañño upāyanaṃ āhareyya, taṃ rājā upāyanaṃ aññatarassa bhaṭassa vā balassa vā senāpatissa vā purohitassa vā dadeyya. Api nu kho so, mahārāja, puriso tāvatakena upāyanapaṭilābhamattakena raññā adhiko nāma hoti visiṭṭho vā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, rājabhattiko, bhante, so puriso rājūpajīvī, taṭṭhāne ṭhapento rājā upāyanaṃ detī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, na tāvatakena vassikasāṭikānuppadānamattakena saṅgho tathāgatato adhiko nāma hoti visiṭṭho vā, atha kho tathāgatabhattiko tathāgatūpajīvī. Taṭṭhāne ṭhapento tathāgato saṅghassa vassikasāṭikaṃ dāpesi.
“Or just as, great king, some person might bring a gift to the king, and the king might give that gift to some retainer, soldier, general, or chaplain. Would that person, great king, merely by receiving that gift, become superior or more distinguished than the king?” “Certainly not, venerable sir. That person, venerable sir, is a servant of the king, dependent on the king for his livelihood. The king gives the gift to establish him in his position.” “In the same way, great king, the Saṅgha does not become superior or more distinguished than the Tathāgata merely by the giving of a rainy-season robe. Rather, the Saṅgha is devoted to the Tathāgata, dependent on the Tathāgata for its livelihood. The Tathāgata, to establish them in their position, had the rainy-season robe given to the Saṅgha.”
“Ví như, tâu đại vương, có người nào đó dâng tặng vật lên đức vua, rồi đức vua lại ban tặng vật ấy cho một người lính hầu nào đó, hoặc cho quân đội, hoặc cho vị tướng quân, hoặc cho vị giáo sĩ. Tâu đại vương, có phải người ấy, chỉ với việc nhận được tặng vật chừng ấy, lại được gọi là cao cả hơn hay đặc biệt hơn đức vua chăng?” – “Thưa không, bạch ngài. Bạch ngài, người ấy là kẻ phục dịch đức vua, là người sống nương nhờ đức vua. Đức vua ban tặng vật là để đặt người ấy vào đúng vị trí của mình.” – “Cũng thế ấy, tâu đại vương, chỉ với việc được dâng cúng chiếc y dùng trong mùa mưa chừng ấy, chư Tăng không được gọi là cao cả hơn hay đặc biệt hơn đức Như Lai. Trái lại, chư Tăng là những người phục dịch đức Như Lai, là những người sống nương nhờ đức Như Lai. Đức Như Lai đã cho dâng cúng chiếc y dùng trong mùa mưa đến chư Tăng là để đặt các vị ấy vào đúng vị trí của mình.
‘‘Api ca, mahārāja, tathāgatassa evaṃ ahosi ‘sabhāvapaṭipūjanīyo saṅgho, mama santakena saṅghaṃ paṭipūjessāmī’ti saṅghassa vassikasāṭikaṃ dāpesi, na, mahārāja, tathāgato attano yeva paṭipūjanaṃ vaṇṇeti, atha kho ye loke paṭipūjanārahā, tesampi tathāgato paṭipūjanaṃ vaṇṇeti.
“Furthermore, great king, it occurred to the Tathāgata: ‘The Saṅgha is, by its very nature, worthy of honor. I shall honor the Saṅgha with what is mine.’ Thus, he had the rainy-season robe given to the Saṅgha. The Tathāgata, great king, does not praise only the honoring of himself; rather, the Tathāgata also praises the honoring of all those in the world who are worthy of honor.”
“Hơn nữa, tâu đại vương, đức Như Lai đã có suy nghĩ thế này: ‘Chư Tăng là đối tượng đáng được cúng dường một cách tự nhiên. Ta sẽ cúng dường đến chư Tăng bằng vật sở hữu của ta.’ Do đó, ngài đã cho dâng cúng chiếc y dùng trong mùa mưa đến chư Tăng. Tâu đại vương, đức Như Lai không chỉ tán dương việc cúng dường đến riêng bản thân ngài, mà đức Như Lai còn tán dương việc cúng dường đến những vị đáng được cúng dường ở trên đời.
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena majjhimanikāyavaralañchake dhammadāyādadhammapariyāye appicchappaṭipattiṃ pakittayamānena ‘asu yeva me purimo bhikkhu pujjataro ca pāsaṃsataro cā’ti. ‘‘Natthi, mahārāja, bhavesu koci satto tathāgatato dakkhiṇeyyo vā uttaro vā adhiko vā visiṭṭho vā, tathāgatova uttaro adhiko visiṭṭho.
“This was spoken, great king, by the Blessed One, the god beyond gods, in the excellent Majjhima Nikāya, in the discourse on the Inheritance of the Dhamma, while praising the practice of having few desires: ‘That former monk of mine is more worthy of honor and praise.’ There is no being in any existence, great king, who is more worthy of offerings, more superior, greater, or more distinguished than the Tathāgata. The Tathāgata alone is superior, great, and distinguished.”
“Tâu đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn, bậc Trời vượt hơn các trời, nói đến trong bài kinh Thừa Tự Pháp thuộc Trung Bộ Kinh ưu việt, trong khi tuyên dương về sự thực hành thiểu dục: ‘Vị tỳ khưu đầu tiên kia của ta là người đáng được tôn kính hơn và đáng được tán dương hơn.’ Tâu đại vương, trong các cõi sống, không có chúng sanh nào là đối tượng xứng đáng thọ nhận vật cúng dường hơn, hoặc cao thượng hơn, hoặc cao cả hơn, hoặc đặc biệt hơn đức Như Lai. Chỉ có đức Như Lai là cao thượng, cao cả, và đặc biệt.
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, saṃyuttanikāyavare māṇavagāmikena devaputtena bhagavato purato ṭhatvā devamanussamajjhe –
“This was also spoken, great king, in the excellent Saṃyutta Nikāya by the devaputta Māṇavagāmika, standing before the Blessed One amidst an assembly of gods and humans:
“Tâu đại vương, điều này cũng đã được vị thiên tử tên là Māṇavagāmika nói đến trong Tương Ưng Bộ Kinh ưu việt, trong khi đứng trước mặt đức Thế Tôn, giữa chư thiên và nhân loại: –
‘‘‘Vipulo rājagahīyānaṃ †, giri seṭṭho pavuccati;
Seto himavataṃ seṭṭho, ādicco aghagāminaṃ.
“‘Vipula is said to be the best of Rājagaha’s mountains; Seto is the best of the Himalayas; the sun is the best of those that move through the sky.
“‘Trong các ngọn núi ở Rājagaha, núi Vipula được gọi là cao tột; trong các ngọn núi ở Himavanta, núi Seto là cao tột; trong các vật thể di chuyển trên hư không, mặt trời là cao tột.
‘‘‘Samuddo udadhinaṃ seṭṭho, nakkhattānañca candimā;
Sadevakassa lokassa, buddho aggo pavuccatī’ti.
“‘The ocean is the best of waters; the moon, the best of constellations; for the world with its gods, the Buddha is called the foremost.’”
“‘Trong các nguồn nước, biển cả là cao tột; trong các vì sao, mặt trăng là cao tột; trong thế gian cùng với chư thiên, đức Phật được gọi là bậc tối thượng.’”
‘‘Tā kho panetā, mahārāja, māṇavagāmikena devaputtena gāthā sugītā na duggītā, subhāsitā na dubbhāsitā, anumatā ca bhagavatā, nanu, mahārāja, therenapi sāriputtena dhammasenāpatinā bhaṇitaṃ –
“Now, great king, these verses were well sung by the devaputta Māṇavagāmika, not poorly sung; well spoken, not poorly spoken; and they were approved by the Blessed One. And indeed, great king, has it not also been said by the Elder Sāriputta, the General of the Dhamma:
“Tâu đại vương, những câu kệ ấy đã được vị thiên tử Māṇavagāmika khéo nói lên chứ không phải vụng về nói lên, khéo trình bày chứ không phải vụng về trình bày, và đã được đức Thế Tôn chấp thuận. Tâu đại vương, há không phải trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, cũng đã nói rằng: –
‘‘‘Eko manopasādo; Saraṇagamanamañjalipaṇāmo vā;
Ussahate tārayituṃ, mārabalanisūdane buddhe’ti.
“‘A single instance of mental confidence, or going for refuge, or paying homage with folded hands, is able to ferry one across, when directed toward the Buddha, the destroyer of Māra’s army.’”
“‘Chỉ một niệm tín tâm, hoặc sự quy y, hoặc cử chỉ chắp tay đảnh lễ đối với đức Phật, bậc đã diệt trừ quân lực của Māra, cũng có năng lực cứu vớt.’”
‘‘Bhagavatā ca bhaṇitaṃ devātidevena ‘ekapuggalo, bhikkhave, loke uppajjamāno uppajjati bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṃ. Katamo ekapuggalo? Tathāgato arahaṃ sammāsambuddho…pe… devamanussāna’’’nti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“And the Blessed One, the god beyond gods, has said: ‘Monks, one person, arising in the world, arises for the welfare of many, for the happiness of many, out of compassion for the world, for the good, welfare, and happiness of gods and humans. Who is that one person? The Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Enlightened One… for the good, welfare, and happiness of gods and humans.’ ‘Excellent, Venerable Nāgasena! I accept it just as you have stated.’”
“Và đức Thế Tôn, bậc Trời vượt hơn các trời, cũng đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, có một người khi sanh ra ở đời là sanh ra vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại. Người ấy là ai? Đó là đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác ... vì sự tốt đẹp, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và nhân loại.’” – “Lành thay, bạch ngài Nāgasena, con xin thọ nhận đúng theo như vậy.”
Gotamivatthadānapañho dutiyo.
The Second Question, Concerning Gotamī's Offering of a Robe, is concluded.
Câu hỏi về việc dâng y của bà Gotamī, phần thứ hai.