Bản dịch
MIL 6.1.3 — CÂU HỎI VỀ VIỆC THỰC HÀNH ĐÚNG ĐẮN
3. Gihipabbajitasammāpaṭipattipañha
CỦA HÀNG TẠI GIA VÀ XUẤT GIA
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta khen ngợi sự thực hành đúng đắn của người tại gia hoặc của vị xuất gia. Này các tỳ khưu, người tại gia hoặc vị xuất gia đã thực hành đúng đắn, do kết quả của việc thực hành đúng đắn mà trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu người tại gia, mặc y phục màu trắng, trong khi sinh sống có sự thọ hưởng các dục, có việc nằm chen chúc với vợ và con, trong khi hưởng thụ vải Kāsi và trầm hương, trong khi đeo tràng hoa, vật thơm, và vật thoa, trong khi ưng thuận vàng và bạc, buộc búi tóc có trang điểm ngọc ma-ni và vàng, đã thực hành đúng đắn, và trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo; còn vị xuất gia, đầu được cạo, mặc y ca-sa, đi đến khất thực ở những người khác, có sự thực hành trọn vẹn đúng đắn bốn giới uẩn, thọ lãnh và hành trì một trăm năm mươi điều học, hành trì không thiếu sót mười ba hạnh từ khước, đã thực hành đúng đắn, thì cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo. Thưa ngài, ở đây người tại gia hoặc vị xuất gia có cái gì là khác biệt? Có phải việc hành khổ hạnh là không có kết quả, việc xuất gia là không có lợi ích, việc gìn giữ các điều học là vô ích, sự thọ trì các hạnh từ khước là rồ dại? Ở đây, có gì với việc theo đuổi sự khó khăn? Chẳng phải là sự an lạc có thể được chứng đạt bằng chính sự an lạc?”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta khen ngợi sự thực hành đúng đắn của người tại gia hoặc của vị xuất gia. Này các tỳ khưu, người tại gia hoặc vị xuất gia đã thực hành đúng đắn, do kết quả của việc thực hành đúng đắn mà trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.’
Tâu đại vương, tương tợ y như thế chỉ có người đã thực hành đúng đắn là hạng nhất. Tâu đại vương, thậm chí vị xuất gia (nghĩ rằng): ‘Ta là vị xuất gia’ rồi không thực hành đúng đắn, thì vị ấy bị xa rời bản thể Sa-môn, bị xa rời phẩm vị Bà-la-môn; không cần đề cập đến người tại gia mặc y phục màu trắng. Tâu đại vương, ngay cả người tại gia đã thực hành đúng đắn cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo. Tâu đại vương, luôn cả vị xuất gia đã thực hành đúng đắn cũng trở nên người thành tựu thiện pháp đúng theo Thánh đạo.
Tâu đại vương, thêm nữa chính vị xuất gia là chúa tể, là người chủ của bản thể Sa-môn. Tâu đại vương, việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, giống như không thể thực hiện việc đo lường giá trị bằng tài sản đối với bảo ngọc ma-ni, vật ban cho điều ước, là: ‘Giá tiền của viên bảo ngọc ma-ni là chừng này.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, hoặc là giống như không thể thực hiện việc đo lường các làn sóng ở đại dương rằng: ‘Các làn sóng ở đại dương là chừng này.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc xuất gia là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, không thể thực hiện việc đo lường đức tính của việc xuất gia.
Tâu đại vương, đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc. Vì lý do gì? Tâu đại vương, vị xuất gia ít ham muốn, tự biết đủ, sống tách ly, không giao du, có sự nỗ lực tinh tấn, không mong cầu, không nhà ở, có giới tròn đủ, có hạnh giảm thiểu, thiện xảo việc thực hành các pháp từ khước. Vì lý do ấy, đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc. Tâu đại vương, giống như mũi tên, không sần sùi, bằng phẳng, khéo được làm sạch, ngay thẳng, không vết nhơ, được bắn ra khéo léo thì di chuyển chính xác. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với vị xuất gia điều gì cần phải làm, tất cả mọi việc ấy được thành tựu thật nhanh chóng, không lâu lắc.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc thực hành đúng đắn
của hàng tại gia và xuất gia là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
[3] ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘gihino vāhaṃ, bhikkhave, pabbajitassa vā sammāpaṭipattiṃ vaṇṇemi, gihī vā bhikkhave pabbajito vā sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṃ dhammaṃ kusala’’nti. Yadi, bhante nāgasena, gihī odātavasano kāmabhogī puttadārasambādhasayanaṃ ajjhāvasanto kāsikacandanaṃ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṃ dhārento jātarūparajataṃ sādiyanto maṇikuṇḍala † vicittamoḷibaddho sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṃ dhammaṃ kusalaṃ, pabbajitopi bhaṇḍukāsāvavatthavasano parapiṇḍamajjhupagato catūsu sīlakkhandhesu sammāparipūrakārī diyaḍḍhesu sikkhāpadasatesu samādāya vattanto terasasu dhutaguṇesu anavasesaṃ vattanto sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṃ dhammaṃ kusalaṃ. Tattha, bhante, ko viseso gihino vā pabbajitassa vā? Aphalaṃ hoti tapokammaṃ, niratthakā pabbajjā. Vañjhā sikkhāpadagopanā, moghaṃ dhutaguṇasamādānaṃ, kiṃ tattha dukkhamanuciṇṇena, nanu nāma sukheneva sukhaṃ adhigantabba’’nti.
“Venerable Nāgasena, this too was spoken by the Blessed One: ‘Monks, I praise the right practice of a householder or of one gone forth. Monks, whether a householder or one gone forth, one who practices rightly, because of right practice, is capable of realizing what is proper, the Dhamma, what is skillful.’ If, Venerable Nāgasena, a householder—clad in white, enjoying sensual pleasures, living amidst the crowded life of wife and children, enjoying Kāsi sandalwood, wearing garlands, perfumes, and ointments, accepting gold and silver, adorned with jeweled earrings and various crests—can be rightly practicing and capable of realizing what is proper, the Dhamma, what is skillful, and if one gone forth—shaven-headed, wearing saffron-dyed robes, living on alms, perfectly fulfilling the four groups of virtue, observing one hundred and fifty training rules, practicing the thirteen ascetic qualities completely—can also be rightly practicing and capable of realizing what is proper, the Dhamma, what is skillful, then, Venerable Sir, what is the difference between a householder and one gone forth? Ascetic practice is fruitless, the going forth is meaningless, guarding the precepts is barren, undertaking ascetic qualities is futile. Why should suffering be practiced there? Is it not that happiness should be attained by happiness itself?”
“Bạch ngài Nāgasena, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các tỳ khưu, ta tán dương sự thực hành đúng đắn của người tại gia hoặc của người xuất gia. Này các tỳ khưu, người tại gia hay người xuất gia, nếu thực hành đúng đắn, do nhân duyên thực hành đúng đắn ấy, vị ấy có thể thành tựu được Chánh Pháp, là điều thiện.’ Bạch ngài Nāgasena, nếu người tại gia mặc y phục trắng, hưởng thụ các dục lạc, sống trong nhà cửa chật chội với vợ con, dùng gỗ chiên-đàn xứ Kāsi, mang vòng hoa, dùng hương liệu và vật thoa xức, vui thích với vàng bạc, đeo bông tai bằng ngọc, búi tóc trang điểm lộng lẫy, khi thực hành đúng đắn, có thể thành tựu được Chánh Pháp, là điều thiện; và người xuất gia cạo đầu, mặc y nhuộm màu, đi khất thực của người khác, là người thực hành viên mãn bốn nhóm giới, đã thọ trì và sống theo hai trăm hai mươi bảy học giới, thực hành không thiếu sót mười ba phẩm hạnh đầu-đà, khi thực hành đúng đắn, cũng có thể thành tựu được Chánh Pháp, là điều thiện. Bạch ngài, trong trường hợp ấy, có gì khác biệt giữa người tại gia và người xuất gia? Việc tu khổ hạnh trở nên vô quả, sự xuất gia trở nên vô ích. Việc gìn giữ học giới trở thành cằn cỗi, việc thọ trì các phẩm hạnh đầu-đà trở thành trống rỗng. Có ích lợi gì trong việc thực hành khổ cực ấy? Há chẳng phải hạnh phúc chỉ có thể đạt được bằng hạnh phúc hay sao?”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘gihino vāhaṃ, bhikkhave, pabbajitassa vā sammāpaṭipattiṃ vaṇṇemi, gihī vā, bhikkhave, pabbajito vā sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṃ dhammaṃ kusala’’nti. Evametaṃ, mahārāja, sammāpaṭipannova seṭṭho, pabbajitopi, mahārāja, ‘pabbajitomhī’ti na sammā paṭipajjeyya, atha kho so ārakāva sāmaññā, ārakāva brahmaññā, pageva gihī odātavasano. Gihīpi, mahārāja, sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṃ dhammaṃ kusalaṃ, pabbajitopi, mahārāja, sammāpaṭipanno ārādhako hoti ñāyaṃ dhammaṃ kusalaṃ.
“Great king, this too was spoken by the Blessed One: ‘Monks, I praise the right practice of a householder or of one gone forth. Monks, whether a householder or one gone forth, one who practices rightly, because of right practice, is capable of realizing what is proper, the Dhamma, what is skillful.’ Thus, great king, one who practices rightly is the best. If one gone forth, great king, thinking ‘I am one gone forth,’ does not practice rightly, then he is far from recluseship, far from the holy life—how much more so a householder clad in white. Great king, a householder who practices rightly is capable of realizing what is proper, the Dhamma, what is skillful. Great king, one gone forth who practices rightly is capable of realizing what is proper, the Dhamma, what is skillful.”
“Tâu đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các tỳ khưu, ta tán dương sự thực hành đúng đắn của người tại gia hoặc của người xuất gia. Này các tỳ khưu, người tại gia hay người xuất gia, nếu thực hành đúng đắn, do nhân duyên thực hành đúng đắn ấy, vị ấy có thể thành tựu được Chánh Pháp, là điều thiện.’ Đúng là như vậy, tâu đại vương, người thực hành đúng đắn là cao quý nhất. Tâu đại vương, nếu người xuất gia nghĩ rằng: ‘Ta là người xuất gia,’ rồi không thực hành đúng đắn, thì người ấy xa lìa quả vị Sa-môn, xa lìa đời sống phạm hạnh, huống hồ là người tại gia mặc y phục trắng. Tâu đại vương, người tại gia nếu thực hành đúng đắn có thể thành tựu được Chánh Pháp, là điều thiện. Tâu đại vương, người xuất gia nếu thực hành đúng đắn cũng có thể thành tựu được Chánh Pháp, là điều thiện.
‘‘Api ca kho, mahārāja, pabbajitova sāmaññassa issaro adhipati; pabbajjā, mahārāja, bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṃ parimāṇaṃ kātuṃ.
“Furthermore, great king, it is one gone forth who is the master and lord of recluseship. The going forth, great king, has many qualities, manifold qualities, immeasurable qualities. It is not possible to measure the qualities of the going forth.”
“Tuy nhiên, tâu đại vương, chính người xuất gia mới là người chủ, là người thống lãnh của quả vị Sa-môn. Tâu đại vương, sự xuất gia có nhiều phẩm chất, có vô số phẩm chất, có vô lượng phẩm chất. Không thể nào đo lường được phẩm chất của sự xuất gia.
‘‘Yathā, mahārāja, kāmadadassa maṇiratanassa na sakkā dhanena aggho parimāṇaṃ kātuṃ ‘ettakaṃ maṇiratanassa mūla’nti, evameva kho, mahārāja, pabbajjā bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṃ parimāṇaṃ kātuṃ.
“Just as, great king, it is impossible to estimate the price of a wish-granting jewel by wealth, saying, ‘The value of the jewel is so much,’ just so, great king, the going forth has many qualities, manifold qualities, immeasurable qualities. It is not possible to measure the qualities of the going forth.”
“Tâu Đại vương, ví như không thể dùng tiền của để đo lường giá trị của ngọc báu như ý, rằng: ‘Giá trị của ngọc báu là chừng này,’ cũng vậy, tâu Đại vương, sự xuất gia có nhiều đức hạnh, có vô số đức hạnh, có đức hạnh không thể lường được, không thể đo lường được đức hạnh của sự xuất gia.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, mahāsamudde ūmiyo na sakkā parimāṇaṃ kātuṃ ‘ettakā mahāsamudde ūmiyo’ti, evameva kho, mahārāja, pabbajjā bahuguṇā anekaguṇā appamāṇaguṇā, na sakkā pabbajjāya guṇaṃ parimāṇaṃ kātuṃ.
“Or just as, great king, it is not possible to measure the waves in the great ocean, saying, ‘There are this many waves in the great ocean,’ so too, great king, the going forth has many qualities, manifold qualities, immeasurable qualities. It is not possible to measure the qualities of the going forth.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, không thể đo lường được các ngọn sóng ở trong biển lớn, rằng: ‘Có chừng này ngọn sóng ở trong biển lớn,’ cũng vậy, tâu Đại vương, sự xuất gia có nhiều đức hạnh, có vô số đức hạnh, có đức hạnh không thể lường được, không thể đo lường được đức hạnh của sự xuất gia.
‘‘Pabbajitassa, mahārāja, yaṃ kiñci karaṇīyaṃ, sabbaṃ taṃ khippameva samijjhati no cirarattāya. Kiṃ kāraṇā? Pabbajito, mahārāja, appiccho hoti santuṭṭho pavivitto asaṃsaṭṭho āraddhavīriyo nirālayo aniketo paripuṇṇasīlo sallekhitācāro dhutappaṭipattikusalo hoti, taṃ kāraṇā pabbajitassa yaṃ kiñci karaṇīyaṃ, sabbaṃ taṃ khippameva samijjhati no cirarattāya. Yathā, mahārāja, niggaṇṭhisamasudhotaujuvimalanārāco susajjito sammā vahati, evameva kho, mahārāja, pabbajitassa yaṃ kiñci karaṇīyaṃ, sabbaṃ taṃ khippameva samijjhati no cirarattāyā’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“For one gone forth, great king, whatever needs to be done is accomplished quickly, not after a long time. What is the reason? One gone forth, great king, is one of few desires, content, secluded, unassociated, with aroused energy, without clinging, homeless, perfect in virtue, with refined conduct, skilled in the practice of the ascetic qualities. For this reason, whatever needs to be done by one gone forth is accomplished quickly, not after a long time. Just as, great king, a knotless, well-polished, straight, and flawless arrow, well-prepared, flies accurately, so too, great king, whatever needs to be done by one gone forth is accomplished quickly, not after a long time.’ ‘Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it thus.’”
“Tâu Đại vương, đối với người xuất gia, bất cứ việc gì cần làm, tất cả việc ấy đều được thành tựu nhanh chóng, không lâu dài. Vì lý do gì? Tâu Đại vương, người xuất gia là người ít ham muốn, biết đủ, sống độc cư, không giao du, tinh tấn, không luyến ái, không nhà cửa, có giới hạnh viên mãn, có hạnh kiểm thanh lọc, và thiện xảo trong pháp hành đầu-đà. Vì lý do ấy, đối với người xuất gia, bất cứ việc gì cần làm, tất cả việc ấy đều được thành tựu nhanh chóng, không lâu dài. Tâu Đại vương, ví như mũi tên không mấu, được chuốt láng, thẳng tắp, không tì vết, khi được chuẩn bị kỹ càng thì bay đi đúng hướng, cũng vậy, tâu Đại vương, đối với người xuất gia, bất cứ việc gì cần làm, tất cả việc ấy đều được thành tựu nhanh chóng, không lâu dài.” – “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, hạ thần xin thọ nhận lời dạy này đúng như vậy.”
Gihipabbajitasammāpaṭipattipañho tatiyo.
The Third Question on the Right Practice of Householders and Those Gone Forth.
Câu hỏi thứ ba về chánh hạnh của tại gia và xuất gia.