Bản dịch
MIL 6.1.1 — CÂU HỎI VỀ VIỆC SANH LÊN CỦA HAI VỊ PHẬT
1 Dvinnaṁbuddhānaṁanuppajjamānapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, điều này là không hợp lý và không có cơ sở, là việc hai bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có thể sanh lên trong một thế giới không trước không sau, sự kiện này không được biết đến!’ Thưa ngài Nāgasena, tất cả các đức Như Lai, trong khi thuyết giảng đều thuyết giảng ba mươi bảy pháp góp phần trong việc giác ngộ, trong khi giảng giải đều giảng giải bốn Chân Lý cao thượng, trong khi huấn luyện đều huấn luyện về ba sự học tập, trong khi chỉ dạy đều chỉ dạy sự thực hành về không xao lãng. Thưa ngài Nāgasena, nếu tất cả các đức Như Lai đều có sự thuyết giảng thống nhất, sự giảng giải thống nhất, sự huấn luyện thống nhất, sự chỉ dạy thống nhất, vì lý do gì hai đức Như Lai không sanh lên trong cùng một thời điểm? Thế gian này được phát sáng với việc sanh lên của vị Phật cho dầu chỉ một vị, nếu có thêm vị Phật thứ nhì, với hai luồng ánh sáng thế gian này có thể được phát sáng nhiều hơn thế nữa. Và hai đức Như Lai, trong khi giáo giới có thể giáo giới một cách thoải mái, [trong khi chỉ dạy, có thể chỉ dạy một cách thoải mái]. Về việc này, xin ngài hãy nói cho trẫm lý do, theo đó trẫm có thể dứt khỏi sự nghi ngờ.”
BJT 2“Tâu đại vương, mười ngàn thế giới này, có sự nâng đỡ chỉ một vị Phật, nâng đỡ đức hạnh của chỉ một đức Như Lai. Nếu vị Phật thứ nhì sanh lên, mười ngàn thế giới này không thể nâng đỡ, có thể lay động, rúng động, nghiêng qua, hạ thấp xuống, uốn cong, phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, tiến đến việc bị hoại diệt.
Tâu đại vương, giống như chiếc thuyền là có sự nâng đỡ một người, khi có một người bước lên thì có thể đạt được sự yên ổn. Khi người thứ nhì đi đến có cùng tuổi tác, vóc dáng, thọ mạng, kích thước, ốm mập, toàn bộ cơ thể tứ chi tương đương người kia, rồi người ấy bước lên chiếc thuyền ấy. Tâu đại vương, phải chăng chiếc thuyền ấy cũng có thể nâng đỡ cả hai người?”
“Thưa ngài, không đúng. Nó có thể lay động, rúng động, nghiêng qua, hạ thấp xuống, uốn cong, phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, tiến đến việc bị hoại diệt, có thể chìm xuống nước.”
BJT 3“Tâu đại vương, tương tợ y như thế mười ngàn thế giới này, có sự nâng đỡ chỉ một vị Phật, nâng đỡ đức hạnh của chỉ một đức Như Lai. Nếu vị Phật thứ nhì sanh lên, mười ngàn thế giới này không thể nâng đỡ, có thể lay động, rúng động, nghiêng qua, hạ thấp xuống, uốn cong, phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, tiến đến việc bị hoại diệt.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nam ăn thức ăn theo như ý thích. Người ấy, sau khi chứa đầy món ăn được ưa thích đến tận cổ họng, được thỏa mãn, căng phồng, đầy ứ, không còn chỗ chứa, bị làm mệt, bị như cây gậy không khom xuống được, rồi lại ăn thức ăn chừng ấy thêm lần nữa. Tâu đại vương, phải chăng người nam ấy có thể được thoải mái?”
“Thưa ngài, không được. Đã được ăn một lần thôi cũng có thể chết.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế mười ngàn thế giới này, có sự nâng đỡ chỉ một vị Phật, nâng đỡ đức hạnh của chỉ một đức Như Lai. Nếu vị Phật thứ nhì sanh lên, mười ngàn thế giới này không thể nâng đỡ, có thể lay động, rúng động, nghiêng qua, hạ thấp xuống, uốn cong, phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, tiến đến việc bị hoại diệt.”
“Thưa ngài Nāgasena, phải chăng quả đất lay động với gánh nặng Giáo Pháp quá tải?”
“Tâu đại vương, ở đây hai chiếc xe hàng có thể được chứa đầy châu báu đến ngang miệng, sau khi lấy châu báu từ một chiếc xe hàng rồi đổ vào chiếc xe hàng kia. Tâu đại vương, phải chăng chiếc xe kéo ấy có thể chứa đựng châu báu của hai chiếc xe kéo?”
“Thưa ngài, không thể. Thậm chí ổ trục bánh xe của nó có thể nứt, các cây căm của nó có thể bị gãy, vành bánh xe của nó có thể sụm xuống, trục xe của nó có thể bị gãy.”
“Tâu đại vương, phải chăng chiếc xe hàng bị gãy đổ với gánh nặng châu báu quá tải?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế quả đất lay động với gánh nặng Giáo Pháp quá tải. Tâu đại vương, hơn nữa lý do này được đưa ra để làm rõ năng lực của vị Phật. Xin đại vương hãy lắng nghe lý do xác đáng khác nữa cho trường hợp ấy, mà vì lý do ấy hai vị Chánh Đẳng Giác không thể sanh lên trong cùng một thời điểm: [Tâu đại vương, nếu hai vị Chánh Đẳng Giác sanh lên trong cùng một thời điểm,] Sự tranh cãi giữa hội chúng của hai vị ấy có thể sanh khởi: ‘Phật của các vị, Phật của chúng tôi,’ rồi có thể bị sanh ra hai nhóm. Tâu đại vương, giống như sự tranh cãi giữa hội chúng của hai vị quan đại thần có quyền lực có thể sanh khởi: ‘Quan đại thần của các vị, quan đại thần của chúng tôi,’ rồi bị sanh ra hai nhóm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nếu hai vị Chánh Đẳng Giác sanh lên trong cùng một thời điểm, sự tranh cãi giữa hội chúng của hai vị ấy có thể sanh khởi: ‘Phật của các vị, Phật của chúng tôi,’ rồi có thể bị sanh ra hai nhóm. Tâu đại vương, đây còn là một lý do, mà vì lý do ấy hai vị Chánh Đẳng Giác không thể sanh lên trong cùng một thời điểm.
BJT 5Tâu đại vương, xin đại vương hãy lắng nghe thêm lý do khác nữa, mà vì lý do ấy hai vị Chánh Đẳng Giác không sanh lên trong cùng một thời điểm.
Tâu đại vương, nếu hai vị Chánh Đẳng Giác có thể sanh lên trong cùng một thời điểm, thì lời nói rằng: ‘Đức Phật là cao cả’ có thể là sai trái, thì lời nói rằng: ‘Đức Phật là lớn nhất’ có thể là sai trái, thì lời nói rằng: ‘Đức Phật là hạng nhất’ có thể là sai trái, thì lời nói rằng: ‘Đức Phật là nổi bật … (như trên) … ‘Đức Phật là tối thượng’ —nt— ‘Đức Phật là quý cao’ —nt— ‘Đức Phật là không người sánh bằng’ —nt— ‘Đức Phật là không kẻ tương đương’ —nt— ‘Đức Phật là không người đối xứng’ —nt— ‘Đức Phật là không kẻ tương tợ’ —nt— ‘Đức Phật là không người đối thủ’ có thể là sai trái. Tâu đại vương, xin đại vương hãy chấp nhận theo ý nghĩa đây cũng là lý do, mà vì lý do ấy hai vị Chánh Đẳng Giác không thể sanh lên trong cùng một thời điểm.
Tâu đại vương, thêm nữa tính chất tự nhiên về bản thể của chư Phật Thế Tôn là chỉ một vị Phật sanh lên ở thế gian. Bởi vì lý do gì? Bởi vì tính chất vĩ đại về các đức hạnh của đức Phật Toàn Tri.
Tâu đại vương, vật khác cũng là vĩ đại ở thế gian, vật ấy là chỉ có một. Tâu đại vương, quả đất là vĩ đại, nó chỉ có một. Biển cả là vĩ đại, nó chỉ có một. Núi Chúa Sineru là vĩ đại, nó chỉ có một. Không gian là vĩ đại, nó chỉ có một. (Chúa Trời) Sakka là vĩ đại, vị ấy chỉ có một. Ma Vương là vĩ đại, vị ấy chỉ có một. Đại Phạm Thiên là vĩ đại, vị ấy chỉ có một ở thế gian. Nơi nào chúng sanh lên, thì nơi ấy không còn chỗ cho cái khác. Tâu đại vương, vì thế đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sanh lên ở thế gian chỉ có một vị.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã khéo được giảng giải bằng các ví dụ, với các lý kẽ. Ngay cả người không khôn ngoan sau khi lắng nghe điều này cũng có thể trở nên hoan hỷ, người có đại trí tuệ như là trẫm thì đâu có điều gì. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc sanh lên của hai vị Phật là thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘aṭṭhānametaṃ, bhikkhave, anavakāso, yaṃ ekissā lokadhātuyā dve arahanto sammāsambuddho apubbaṃ acarimaṃ uppajjeyyuṃ, netaṃ ṭhānaṃ vijjatī’ti. Desentā ca, bhante nāgasena, sabbepi tathāgatā sattatiṃsa bodhipakkhiyadhamme desenti, kathayamānā ca cattāri ariyasaccāni kathenti, sikkhāpentā ca tīsu sikkhāsu sikkhāpenti, anusāsamānā ca appamādappaṭipattiyaṃ anusāsanti. Yadi, bhante nāgasena, sabbesampi tathāgatānaṃ ekā desanā ekā kathā ekā sikkhā ekā anusiṭṭhi, kena kāraṇena dve tathāgatā ekakkhaṇe nuppajjanti? Ekenapi tāva buddhuppādena ayaṃ loko obhāsajāto, yadi dutiyo buddho bhaveyya, dvinnaṃ pabhāya ayaṃ loko bhiyyosomattāya obhāsajāto bhaveyya, ovadamānā ca dve tathāgatā sukhaṃ ovadeyyuṃ, anusāsamānā ca sukhaṃ anusāseyyuṃ, tattha me kāraṇaṃ brūhi, yathāhaṃ nissaṃsayo bhaveyya’’nti.
1. “Venerable Nāgasena, it has been said by the Blessed One: ‘Monks, it is impossible, it cannot happen, that in one world-system two Arahants, Perfectly Enlightened Ones, should arise at the same time, neither one before nor one after the other. Such a thing cannot be.’ Yet, Venerable Nāgasena, all Tathāgatas teach the thirty-seven factors of enlightenment, they declare the Four Noble Truths, they train in the threefold training, and they instruct in the practice of diligence. If, Venerable Nāgasena, all Tathāgatas have the same teaching, the same discourse, the same training, and the same instruction, for what reason do two Tathāgatas not arise at the same moment? With the arising of just one Buddha, this world becomes illuminated. If a second Buddha were to arise, this world would become even more greatly illuminated by the radiance of the two. Moreover, two Tathāgatas, when advising, would advise with ease, and when instructing, would instruct with ease. Tell me the reason for this, so that I may be free from doubt.”
1. “Bạch Đại đức Nāgasena, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, đây là điều không thể có, là điều không xảy ra, rằng trong một thế giới hệ có hai vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuất hiện không trước không sau. Điều ấy không thể có.’ Và bạch Đại đức Nāgasena, khi thuyết giảng, tất cả các đức Như Lai đều thuyết giảng ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Khi trình bày, các Ngài trình bày về Bốn Thánh Đế. Khi huấn luyện, các Ngài huấn luyện trong ba học giới. Khi giáo huấn, các Ngài giáo huấn về sự thực hành không dể duôi. Bạch Đại đức Nāgasena, nếu như tất cả các đức Như Lai đều có cùng một lời thuyết giảng, cùng một lời trình bày, cùng một sự huấn luyện, cùng một lời giáo huấn, thì do nguyên nhân nào mà hai vị Như Lai không xuất hiện trong cùng một khoảnh khắc? Chỉ với sự xuất hiện của một đức Phật thôi mà thế gian này đã được chiếu sáng. Nếu có vị Phật thứ hai, thì do ánh sáng của cả hai, thế gian này sẽ được chiếu sáng rực rỡ hơn nữa. Khi khuyên dạy, hai vị Như Lai sẽ khuyên dạy một cách dễ dàng. Khi giáo huấn, các Ngài sẽ giáo huấn một cách dễ dàng. Xin Đại đức hãy nói cho trẫm biết nguyên nhân về điều ấy, để trẫm được hết hoài nghi.”
‘‘Ayaṃ, mahārāja, dasasahassī lokadhātu ekabuddhadhāraṇī, ekasseva tathāgatassa guṇaṃ dhāreti, yadi dutiyo buddho uppajjeyya, nāyaṃ dasasahassī lokadhātu dhāreyya, caleyya kampeyya nameyya onameyya vinameyya vikireyya vidhameyya viddhaṃseyya, na ṭhānamupagaccheyya.
“Great King, this ten-thousandfold world-system is capable of sustaining only one Buddha; it bears the qualities of a single Tathāgata. If a second Buddha were to arise, this ten-thousandfold world-system could not sustain it. It would shake, tremble, bend, incline, collapse, be scattered, be dispersed, and be utterly destroyed—it would not remain in its place.”
“Tâu Đại vương, hệ thống mười ngàn thế giới này chỉ có thể chứa đựng một đức Phật, chỉ có thể mang nổi oai đức của một vị Như Lai mà thôi. Nếu vị Phật thứ hai xuất hiện, hệ thống mười ngàn thế giới này sẽ không thể chịu đựng nổi; nó sẽ rung chuyển, chấn động, nghiêng xuống, cúi xuống, oằn xuống, tan rã, phân tán, bị hủy diệt, không thể giữ được vị trí của mình.”
‘‘Yathā, mahārāja, nāvā ekapurisasandhāraṇī † bhaveyya, ekasmiṃ purise abhirūḷhe sā nāvā samupādikā † bhaveyya. Atha dutiyo puriso āgaccheyya tādiso āyunā vaṇṇena vayena pamāṇena kisathūlena sabbaṅgapaccaṅgena, so taṃ nāvaṃ abhirūheyya, api nu sā, mahārāja, nāvā dvinnampi dhāreyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, caleyya kampeyya nameyya onameyya vinameyya vikireyya vidhameyya viddhaṃseyya, na ṭhānamupagaccheyya, osīdeyya udake’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ayaṃ dasasahassī lokadhātu ekabuddhadhāraṇī, ekasseva tathāgatassa guṇaṃ dhāreti, yadi dutiyo buddho uppajjeyya, nāyaṃ dasasahassī lokadhātu dhāreyya, caleyya kampeyya nameyya onameyya vinameyya vikireyya vidhameyya viddhaṃseyya, na ṭhānamupagaccheyya.
“Just as, great king, a boat might be able to carry only one person. When one man has boarded it, that boat would be laden to the water's edge. Then a second man might come, of the same age, complexion, stature, and build, and he might board that boat. Could that boat, great king, bear both of them?” “Certainly not, venerable sir. It would shake, tremble, bend, incline, collapse, be scattered, be dispersed, and be utterly destroyed; it would not remain in its place, but would sink in the water.” “In the same way, great king, this ten-thousandfold world-system is capable of bearing only one Buddha; it bears the qualities of a single Tathāgata. If a second Buddha were to arise, this ten-thousandfold world-system could not bear it. It would shake, tremble, bend, incline, collapse, be scattered, be dispersed, and be utterly destroyed—it would not remain in its place.”
“Tâu Đại vương, ví như có một chiếc thuyền chỉ có thể chở được một người. Khi một người lên thuyền, chiếc thuyền ấy vừa bằng với mặt nước. Rồi một người thứ hai đến, giống hệt người trước về tuổi thọ, dung sắc, vóc dáng, kích thước, gầy béo, và tất cả các bộ phận lớn nhỏ. Người ấy cũng lên chiếc thuyền đó. Tâu Đại vương, liệu chiếc thuyền ấy có thể chở được cả hai người không? – Thưa không, bạch Đại đức. Nó sẽ rung chuyển, chấn động, nghiêng xuống, cúi xuống, oằn xuống, tan rã, phân tán, bị hủy diệt, không thể giữ được vị trí của mình, và sẽ chìm trong nước. – Cũng vậy, tâu Đại vương, hệ thống mười ngàn thế giới này chỉ có thể chứa đựng một đức Phật, chỉ có thể mang nổi oai đức của một vị Như Lai mà thôi. Nếu vị Phật thứ hai xuất hiện, hệ thống mười ngàn thế giới này sẽ không thể chịu đựng nổi; nó sẽ rung chuyển, chấn động, nghiêng xuống, cúi xuống, oằn xuống, tan rã, phân tán, bị hủy diệt, không thể giữ được vị trí của mình.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, puriso yāvadatthaṃ bhojanaṃ bhuñjeyya chādentaṃ yāva kaṇṭhamabhipūrayitvā, so dhāto pīṇito paripuṇṇo nirantaro tandikato anonamitadaṇḍajāto punadeva tattakaṃ bhojanaṃ bhuñjeyya, api nu kho so, mahārāja, puriso sukhito bhaveyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, sakiṃ bhuttova mareyyā’’ti †. ‘‘Evameva kho, mahārāja, ayaṃ dasasahassī lokadhātu ekabuddhadhāraṇī, ekasseva tathāgatassa guṇaṃ dhāreti, yadi dutiyo buddho uppajjeyya, nāyaṃ dasasahassī lokadhātu dhāreyya, caleyya kampeyya nameyya onameyya vinameyya vikireyya vidhameyya viddhaṃseyya, na ṭhānamupagaccheyyā’’ti.
“Or just as, great king, a man might eat as much food as he desires, filling himself right up to his throat, so that he is sated, plump, full, constantly drowsy, and has become like a rigid staff, unable to bend—if he were then to eat that same amount of food again, would that man, great king, be comfortable?” “Certainly not, venerable sir; if he ate again, he would die.” “In the same way, great king, this ten-thousandfold world-system can bear only one Buddha; it can sustain the qualities of only a single Tathāgata. If a second Buddha were to arise, this ten-thousandfold world-system could not bear it. It would shake, tremble, bend, incline, collapse, be scattered, be dispersed, and be utterly destroyed—it would not remain in its place.”
“Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như một người ăn thức ăn thỏa thích, ăn no đến tận cổ họng. Người ấy đã no đủ, mãn nguyện, đầy ắp, mệt mỏi, đờ đẫn, cứng đơ như một cây gậy không thể uốn cong. Rồi người ấy lại ăn thêm một lượng thức ăn bằng như thế nữa. Tâu Đại vương, liệu người ấy có được an lạc không? – Thưa không, bạch Đại đức. Ăn thêm một lần nữa thì người ấy sẽ chết. – Cũng vậy, tâu Đại vương, hệ thống mười ngàn thế giới này chỉ có thể chứa đựng một đức Phật, chỉ có thể mang nổi oai đức của một vị Như Lai mà thôi. Nếu vị Phật thứ hai xuất hiện, hệ thống mười ngàn thế giới này sẽ không thể chịu đựng nổi; nó sẽ rung chuyển, chấn động, nghiêng xuống, cúi xuống, oằn xuống, tan rã, phân tán, bị hủy diệt, không thể giữ được vị trí của mình.”
‘‘Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, atidhammabhārena pathavī calatī’’ti? ‘‘Idha, mahārāja, dve sakaṭā ratanaparipūritā bhaveyyuṃ yāva mukhasamā, ekasmā sakaṭato ratanaṃ gahetvā ekasmiṃ sakaṭe ākireyyuṃ, api nu kho taṃ, mahārāja, sakaṭaṃ dvinnampi sakaṭānaṃ ratanaṃ dhāreyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, nābhipi tassa phaleyya, arāpi tassa bhijjeyyuṃ, nemipi tassa opateyya, akkhopi tassa bhijjeyyā’’ti. ‘‘Kiṃ nu kho, mahārāja, atiratanabhārena sakaṭaṃ bhijjatī’’ti? ‘‘Āma, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, atidhammabhārena pathavī calati.
“But, venerable Nāgasena, does the earth tremble from the excessive burden of the Dhamma?” “Suppose, great king, there were two carts filled to the brim with jewels. If one were to take the jewels from one cart and pile them onto the other, could that one cart, great king, bear the jewels of both carts?” “Certainly not, venerable sir. Its nave would split, its spokes would break, its rim would fall off, and its axle would shatter.” “Is it not, great king, because of the excessive burden of the jewels that the cart breaks?” “Yes, venerable sir.” “In the same way, great king, the earth trembles from the excessive burden of the Dhamma.”
“Bạch Đại đức Nāgasena, có phải trái đất rung chuyển vì gánh nặng của Pháp quá lớn chăng? – Tâu Đại vương, ở đây, giả sử có hai cỗ xe chứa đầy châu báu cho đến miệng thành xe. Người ta lấy châu báu từ một cỗ xe đổ sang cỗ xe kia. Tâu Đại vương, liệu cỗ xe ấy có thể chở nổi châu báu của cả hai cỗ xe không? – Thưa không, bạch Đại đức. Cái đùm của nó sẽ vỡ, các nan hoa của nó sẽ gãy, vành xe của nó sẽ rớt ra, và trục xe của nó cũng sẽ gãy. – Tâu Đại vương, có phải cỗ xe bị gãy vỡ là do gánh nặng của châu báu quá lớn chăng? – Thưa vâng, bạch Đại đức. – Cũng vậy, tâu Đại vương, trái đất rung chuyển vì gánh nặng của Pháp quá lớn.”
‘‘Api ca, mahārāja, imaṃ kāraṇaṃ buddhabalaparidīpanāya osāritaṃ. Aññampi tattha abhirūpaṃ kāraṇaṃ suṇohi, yena kāraṇena dve sammāsambuddho ekakkhaṇe nuppajjanti. Yadi, mahārāja, dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe uppajjeyyuṃ, tesaṃ parisāya vivādo uppajjeyya ‘tumhākaṃ buddho, amhākaṃ buddho’ti, ubhato pakkhajātā bhaveyyuṃ, yathā, mahārāja, dvinnaṃ balavāmaccānaṃ parisāya vivādo uppajjeyya ‘tumhākaṃ amacco, amhākaṃ amacco’ti, ubhato pakkhajātā honti, evameva kho, mahārāja, yadi dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe uppajjeyyuṃ, tesaṃ parisāya vivādo uppajjeyya ‘tumhākaṃ buddho, amhākaṃ buddho’ti, ubhato pakkhajātā bhaveyyuṃ. Idaṃ tāva, mahārāja, ekaṃ kāraṇaṃ, yena kāraṇena dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe nuppajjanti.
“Moreover, great king, this reason concerning the earth has been given to demonstrate the power of a Buddha. Now listen to another, fitting reason why two Perfectly Enlightened Ones do not arise at the same moment. If, great king, two Perfectly Enlightened Ones were to arise at the same moment, a dispute would arise among their followers: ‘He is your Buddha; He is our Buddha.’ They would split into two factions. Just as, great king, when there are two powerful ministers, a dispute arises among their followers: ‘He is your minister; he is our minister,’ and they split into two factions, in the same way, great king, if two Perfectly Enlightened Ones were to arise at the same moment, a dispute would arise among their followers: ‘He is your Buddha; He is our Buddha,’ and they would split into two factions. This, great king, is the first reason why two Perfectly Enlightened Ones do not arise at the same moment.”
“Hơn nữa, tâu Đại vương, nguyên nhân này được đưa ra để làm rõ năng lực của đức Phật. Xin Đại vương hãy lắng nghe một nguyên nhân thích hợp khác, vì lý do đó mà hai vị Chánh Đẳng Giác không xuất hiện trong cùng một khoảnh khắc. Tâu Đại vương, nếu hai vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện trong cùng một khoảnh khắc, sự tranh cãi sẽ khởi lên trong hội chúng của các Ngài rằng: ‘Phật của các ông, Phật của chúng tôi,’ và họ sẽ trở thành hai phe phái. Tâu Đại vương, ví như trong hội chúng của hai vị đại thần có quyền lực, sự tranh cãi sẽ khởi lên rằng: ‘Đại thần của các ông, đại thần của chúng tôi,’ và họ trở thành hai phe phái. Cũng vậy, tâu Đại vương, nếu hai vị Chánh Đẳng Giác xuất hiện trong cùng một khoảnh khắc, sự tranh cãi sẽ khởi lên trong hội chúng của các Ngài rằng: ‘Phật của các ông, Phật của chúng tôi,’ và họ sẽ trở thành hai phe phái. Tâu Đại vương, trước hết đây là một nguyên nhân, vì lý do đó mà hai vị Chánh Đẳng Giác không xuất hiện trong cùng một khoảnh khắc.”
‘‘Aparampi, mahārāja, uttariṃ kāraṇaṃ suṇohi, yena kāraṇena dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe nuppajjanti. Yadi, mahārāja, dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe uppajjeyyuṃ, ‘aggo buddho’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā bhaveyya, ‘jeṭṭho buddho’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā bhaveyya, ‘seṭṭho buddho’ti, ‘visiṭṭho buddho’ti, ‘uttamo buddho’ti, ‘pavaro buddho’ti, ‘asamo buddho’ti, ‘asamasamo buddho’ti, ‘appaṭimo buddho’ti, ‘appaṭibhāgo buddho’ti, ‘appaṭipuggalo buddho’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā bhaveyya. Idampi kho tvaṃ, mahārāja, kāraṇaṃ atthato sampaṭiccha, yena kāraṇena dve sammāsambuddhā ekakkhaṇe nuppajjanti.
“Furthermore, great king, listen to a further reason why two Perfectly Enlightened Ones do not arise at the same moment. If, great king, two Perfectly Enlightened Ones were to arise at the same moment, the saying, ‘The Buddha is the foremost,’ would be false; the saying, ‘The Buddha is the eldest,’ would be false; the sayings, ‘The Buddha is the best,’ ‘the most distinguished,’ ‘the supreme,’ ‘the most excellent,’ ‘the unequalled,’ ‘the equal to the unequalled,’ ‘the matchless,’ ‘the one without a counterpart,’ and ‘the person without a peer,’ would all be false. This, great king, is another reason that you should accept in its true meaning, why two Perfectly Enlightened Ones do not arise at the same moment.”
Tâu Đại vương, xin ngài hãy lắng nghe thêm một lý do khác nữa, vì lý do này mà hai vị Chánh Đẳng Chánh Giác không xuất hiện trong cùng một khoảnh khắc. Tâu Đại vương, nếu hai vị Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện trong cùng một khoảnh khắc, thì lời nói rằng ‘Đức Phật là tối thượng’ sẽ trở thành sai lầm, lời nói rằng ‘Đức Phật là bậc trưởng thượng’ sẽ trở thành sai lầm, lời nói rằng ‘Đức Phật là bậc tối thắng’, ‘Đức Phật là bậc đặc thù’, ‘Đức Phật là bậc vô thượng’, ‘Đức Phật là bậc cao cả’, ‘Đức Phật là bậc vô song’, ‘Đức Phật là bậc vô đẳng đẳng’, ‘Đức Phật là bậc không thể sánh bằng’, ‘Đức Phật là bậc không có đối thủ’, ‘Đức Phật là bậc không có người ngang hàng’ sẽ trở thành sai lầm. Tâu Đại vương, xin ngài hãy chấp nhận lý do này về mặt ý nghĩa, vì lý do này mà hai vị Chánh Đẳng Chánh Giác không xuất hiện trong cùng một khoảnh khắc.
‘‘Api ca kho, mahārāja, buddhānaṃ bhagavantānaṃ sabhāvapakati esāyaṃ, eko yeva buddho loke uppajjati. Kasmā kāraṇā? Mahantatāya sabbaññubuddhaguṇānaṃ. Aññampi, mahārāja, yaṃ loke mahantaṃ, taṃ ekaṃ yeva hoti. Pathavī, mahārāja, mahantī, sā ekā yeva. Sāgaro mahanto, so eko yeva. Sineru girirājā mahanto, so eko yeva. Ākāso mahanto, so eko yeva. Sakko mahanto, so eko yeva. Māro mahanto, so eko yeva. Mahābrahmā mahanto, so eko yeva. Tathāgato arahaṃ sammāsambuddho mahanto, so eko yeva lokasmiṃ. Yattha te uppajjanti, tattha aññassa okāso na hoti, tasmā, mahārāja, tathāgato arahaṃ sammāsambuddho eko yeva lokasmiṃ uppajjatī’’ti.
“Furthermore, great king, it is the very nature of the Buddhas, the Blessed Ones, that only one Buddha arises in the world. For what reason? Because of the greatness of the qualities of an Omniscient Buddha. Moreover, great king, whatever is great in the world is singular. The earth, great king, is great, and it is singular. The ocean is great, and it is singular. Sineru, the king of mountains, is great, and it is singular. Space is great, and it is singular. Sakka is great, and he is singular. Māra is great, and he is singular. Mahābrahmā is great, and he is singular. The Tathāgata, the Arahant, the Perfectly Enlightened One is great, and he is singular in the world. Where one arises, there is no room for another. Therefore, great king, a Tathāgata, an Arahant, a Perfectly Enlightened One arises alone in the world.”
Hơn nữa, tâu Đại vương, đây là bản chất tự nhiên của các Đức Phật, các Đức Thế Tôn, rằng chỉ có một vị Phật duy nhất xuất hiện trên thế gian. Vì lý do gì? Vì sự vĩ đại của các phẩm hạnh của một vị Phật Toàn Giác. Tâu Đại vương, những gì khác vĩ đại trên thế gian, chúng cũng chỉ có một. Tâu Đại vương, đất là vĩ đại, nó chỉ có một. Biển cả là vĩ đại, nó chỉ có một. Vua núi Tu-di là vĩ đại, nó chỉ có một. Hư không là vĩ đại, nó chỉ có một. Đế Thích là vĩ đại, vị ấy chỉ có một. Ma vương là vĩ đại, vị ấy chỉ có một. Đại Phạm Thiên là vĩ đại, vị ấy chỉ có một. Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác là vĩ đại, vị ấy chỉ có một trên thế gian. Nơi nào các vị ấy xuất hiện, nơi đó không có chỗ cho một vị khác. Do đó, tâu Đại vương, Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác chỉ có một vị duy nhất xuất hiện trên thế gian.
‘‘Sukathito, bhante nāgasena, pañho opammehi kāraṇehi. Anipuṇopetaṃ sutvā attamano bhaveyya, kiṃ pana mādiso mahāpañño. Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Well spoken, Venerable Nāgasena! The question has been well answered with similes and reasons. Even an unskillful person, upon hearing this, would be pleased—how much more so one of great wisdom like myself. Excellent, Venerable Nāgasena! I accept it just as you have stated.”
Bạch Đại đức Nāgasena, vấn đề đã được giải đáp rất hay bằng các ví dụ và lý do. Ngay cả người không có trí tuệ khi nghe điều này cũng sẽ hoan hỷ, huống chi là người có đại trí tuệ như tôi. Lành thay, bạch Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.
Dvinnaṃ buddhānaṃ anuppajjamānapañho paṭhamo.
The First Question, Concerning the Non-Arising of Two Buddhas, is concluded.
Vấn đề thứ nhất về việc hai vị Phật không xuất hiện đồng thời.