Bản dịch
MIL 5.5.11 — CÂU HỎI VỀ TRẠNG THÁI KHÔNG CÓ THẦY CỦA VỊ THẦY
11. Ācariyānācariyapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình, và đã tôn vinh Ta với sự tôn vinh tột bực.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’
Và Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, như vậy Āḷāra Kālāma, trong khi đang là thầy của Ta, đã đặt Ta, đang là người đệ tử, ngang hàng với mình, và đã tôn vinh Ta với sự tôn vinh tột bực.’ Tuy nhiên, lời nói ấy đã được nói liên quan đến bản thân vị thầy của chính đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ.
Tâu đại vương, năm vị này là những người thầy của đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ. Được chỉ dạy bởi những vị này, đức Bồ Tát đã trải qua ở nơi kia ở nơi nọ. Năm vị nào?
Tâu đại vương, khi đức Bồ Tát ở giai đoạn đã được sanh ra, các vị ấy là tám vị Bà-la-môn đã xét đoán các tướng tốt, tức là các vị Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Mantī, Yañña, Suyāma, Subhoja, Sudatta. Các vị ấy đã tuyên bố về điềm lành của đức Bồ Tát và đã thực hiện công việc bảo hộ; các vị ấy là những vị thầy đầu tiên.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là vị Bà-la-môn tên Sabbamitta, được sanh ra ở nơi quý phái, cao thượng, có dòng dõi, biết về cú pháp, về văn phạm, có sáu chi phần (của kinh Vệ Đà). Vào lúc bấy giờ, người cha của đức Bồ Tát, đức vua Suddhodana, sau khi rước về đã rưới nước với chiếc bình vàng, rồi đã trao cho (nói rằng): ‘Hãy cho đứa bé trai này học tập;’ đây là vị thầy thứ nhì.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là vị Thiên nhân đã khiến cho đức Bồ Tát chấn động tâm. Sau khi lắng nghe lời nói của vị ấy, đức Bồ Tát đã bị chấn động, kinh hoàng, rồi vào chính thời khắc ấy đã ra đi xuất ly và đã xuất gia; đây là vị thầy thứ ba.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là Āḷāra Kālāma; đây là vị thầy thứ tư.
Tâu đại vương, còn có vị khác nữa là Uddaka Rāmaputta; đây là vị thầy thứ năm.
Tâu đại vương, đây là năm vị thầy của đức Bồ Tát lúc chưa là bậc Chánh Đẳng Giác, trước khi giác ngộ. Tuy nhiên, các vị này là những người thầy về pháp thế gian. Tâu đại vương, trái lại trong việc thấu triệt trí Toàn Tri về các pháp xuất thế gian này, thì không có vị hướng dẫn nào trội hơn đức Như Lai. Tâu đại vương, đức Như Lai là đấng Tự Chủ, bậc không có thầy.
Bởi lý do ấy, đức Như Lai đã nói rằng:
‘Không có ai là thầy của ta, người tương đương với ta không tìm thấy. Ở thế gian luôn cả cõi trời, không có ai là đối thủ của ta.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về trạng thái không có thầy của vị thầy là thứ mười một.
Phẩm Thân Thiết là thứ năm.
(Trong phẩm này có mười một câu hỏi)
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘‘Na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati;
Sadevakasmiṃ lokasmiṃ, natthi me paṭipuggalo’ti †.
‘I have no teacher; one like me does not exist. In the world with its devas, there is no counterpart to me.’
“‘Ta không có thầy, người bằng ta không có; Trong thế gian cùng với chư thiên, không có ai đối thủ của ta.’”
‘‘Puna ca bhaṇitaṃ ‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṃ maṃ samānaṃ attanā samasamaṃ ṭhapesi, uḷārāya ca maṃ pūjāya pūjesī’ti. Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena bhaṇitaṃ ‘na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati. Sadevakasmiṃ lokasmiṃ, natthi me paṭipuggalo’ti, tena hi ‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṃ maṃ samānaṃ attanā samasamaṃ ṭhapesī’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi tathāgatena bhaṇitaṃ ‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṃ maṃ samānaṃ attanā samasamaṃ ṭhapesī’ti, tena hi ‘na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati. Sadevakasmiṃ lokasmiṃ, natthi me paṭipuggalo’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“And yet, it was also stated: ‘Thus, monks, Āḷāra Kālāma, being my teacher, placed me, his pupil, on an equal footing with himself and honored me with the highest honor.’ If, Venerable Nāgasena, the Tathāgata said, ‘I have no teacher; one like me does not exist. In the world with its devas, there is no counterpart to me,’ then the statement, ‘Thus, monks, Āḷāra Kālāma, being my teacher, placed me, his pupil, on an equal footing with himself,’ is false. If the Tathāgata said, ‘Thus, monks, Āḷāra Kālāma, being my teacher, placed me, his pupil, on an equal footing with himself,’ then the statement, ‘I have no teacher; one like me does not exist. In the world with its devas, there is no counterpart to me,’ is also false. This too is a dilemma with two horns that has come to you, and it must be resolved by you.”
“Lại nữa, ngài cũng đã nói: ‘Này các Tỳ khưu, như vậy đó, Āḷāra Kālāma, là thầy của ta, đã đặt ta, là đệ tử, ngang hàng với chính mình, và đã cúng dường ta bằng sự cúng dường cao thượng.’ Thưa Đại đức Nāgasena, nếu Đức Như Lai đã nói: ‘Ta không có thầy, người bằng ta không có; trong thế gian cùng với chư thiên, không có ai đối thủ của ta,’ thì lời nói: ‘Này các Tỳ khưu, như vậy đó, Āḷāra Kālāma, là thầy của ta, đã đặt ta, là đệ tử, ngang hàng với chính mình’ là sai. Nếu Đức Như Lai đã nói: ‘Này các Tỳ khưu, như vậy đó, Āḷāra Kālāma, là thầy của ta, đã đặt ta, là đệ tử, ngang hàng với chính mình,’ thì lời nói: ‘Ta không có thầy, người bằng ta không có; trong thế gian cùng với chư thiên, không có ai đối thủ của ta’ cũng là sai. Câu hỏi lưỡng nan này lại đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, tathāgatena ‘na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati. Sadevakasmiṃ lokasmiṃ, natthi me paṭipuggalo’ti, bhaṇitañca ‘iti kho, bhikkhave, āḷāro kālāmo ācariyo me samāno antevāsiṃ maṃ samānaṃ attanā samasamaṃ ṭhapesi, uḷārāya ca maṃ pūjāya pūjesī’ti.
“Great king, this was spoken by the Tathāgata: ‘I have no teacher; one like me does not exist. In the world with its devas, there is no counterpart to me.’ And it was also said: ‘Thus, monks, Āḷāra Kālāma, being my teacher, placed me, his pupil, on an equal footing with himself and honored me with the highest honor.’”
“Tâu Đại vương, Đức Như Lai đã nói rằng: ‘Ta không có thầy, người bằng ta không có; trong thế gian cùng với chư thiên, không có ai đối thủ của ta,’ và ngài cũng đã nói: ‘Này các Tỳ khưu, như vậy đó, Āḷāra Kālāma, là thầy của ta, đã đặt ta, là đệ tử, ngang hàng với chính mình, và đã cúng dường ta bằng sự cúng dường cao thượng.’”
‘‘Tañca pana vacanaṃ pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato ācariyabhāvaṃ sandhāya bhāsitaṃ.
“But that statement was spoken with reference to his having had a teacher while he was still a Bodhisatta, before his full awakening, while he was yet to be fully awakened.
“Nhưng lời nói ấy được nói ra là nhắm đến vai trò làm thầy khi ngài còn là Bồ-tát, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng đắc Chánh Đẳng Giác.”
‘Pañcime, mahārāja, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattassa sato ācariyā, yehi anusiṭṭho bodhisatto tattha tattha divasaṃ vītināmesi. Katame pañca? Ye te, mahārāja, aṭṭha brāhmaṇā jātamatte bodhisatte lakkhaṇāni pariggaṇhiṃsu, seyyathīdaṃ, rāmo dhajo lakkhaṇo mantī yañño suyāmo subhojo sudattoti. Te tassa sotthiṃ pavedayitvā rakkhākammaṃ akaṃsu, te ca paṭhamaṃ ācariyā.
“Great king, there were five teachers of the Bodhisatta before his full awakening, while he was yet to be fully awakened, under whose instruction the Bodhisatta passed his days. Who are the five? Great king, those eight brahmins who examined the marks on the Bodhisatta as soon as he was born—namely, Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Mantī, Yañña, Suyāma, Subhoja, and Sudatta. Having proclaimed his future welfare, they performed protective rites for him. These were his first teachers.
“Tâu Đại vương, có năm vị thầy này của Bồ-tát khi ngài chưa giác ngộ, chưa chứng đắc Chánh Đẳng Giác, mà Bồ-tát đã được họ chỉ dạy và trải qua ngày tháng ở nơi này nơi kia. Năm vị ấy là ai? Tâu Đại vương, đó là tám vị Bà-la-môn đã xem tướng cho Bồ-tát ngay khi ngài vừa đản sanh, đó là: Rāma, Dhaja, Lakkhaṇa, Mantī, Yañña, Suyāma, Subhoja, và Sudatta. Họ đã tiên đoán sự an lành cho ngài và thực hiện việc bảo hộ. Họ là những vị thầy đầu tiên.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, bodhisattassa pitā suddhodano rājā yaṃ tena samayena abhijātaṃ udiccajātimantaṃ padakaṃ veyyākaraṇaṃ chaḷaṅgavantaṃ sabbamittaṃ nāma brāhmaṇaṃ upanetvā sovaṇṇena bhiṅgārena † udakaṃ oṇojetvā ‘imaṃ kumāraṃ sikkhāpehī’ti adāsi, ayaṃ dutiyo ācariyo.
“Furthermore, great king, the Bodhisatta’s father, King Suddhodana, brought a brahmin named Sabbamitta, who at that time was of noble birth, of the Udicca caste, an expert in metrics and grammar, and master of the six auxiliary disciplines. Pouring water from a golden pitcher, he entrusted the prince to him, saying, ‘Teach this prince.’ This was the second teacher.
“Lại nữa, tâu Đại vương, phụ thân của Bồ-tát là vua Suddhodana, vào thời điểm ấy, đã mời một vị Bà-la-môn tên là Sabbamitta, người có dòng dõi cao quý, thuộc gia tộc Udicca, thông thạo từ cú, văn phạm, và sáu bộ phận của kinh Vệ-đà, rồi dùng bình vàng rưới nước và giao phó rằng: ‘Xin hãy dạy dỗ vị hoàng tử này.’ Vị này là người thầy thứ hai.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, yā sā devatā bodhisattaṃ saṃvejesī, yassā vacanaṃ sutvā bodhisatto saṃviggo ubbiggo tasmiṃ yeva khaṇe nekkhammaṃ nikkhamitvā pabbaji, ayaṃ tatiyo ācariyo.
“Furthermore, great king, that deity who inspired a sense of spiritual urgency in the Bodhisatta—having heard whose words the Bodhisatta became agitated and alarmed, and in that very moment went forth in the great renunciation—this was the third teacher.
“Lại nữa, tâu Đại vương, vị thiên nhân đã làm cho Bồ-tát xúc động, nghe lời của vị ấy, Bồ-tát đã xúc động, kinh hãi, và ngay trong khoảnh khắc ấy đã xuất gia đi tu. Vị thiên nhân ấy là người thầy thứ ba.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, āḷāro kālāmo ākiñcaññāyatanassa parikammaṃ ācikkhi, ayaṃ catuttho ācariyo.
“Furthermore, great king, Āḷāra Kālāma taught the preliminary meditation for attaining the sphere of nothingness; this was the fourth teacher.
“Lại nữa, tâu Đại vương, Āḷāra Kālāma đã chỉ dạy pháp chuẩn bị cho Vô Sở Hữu Xứ thiền. Vị này là người thầy thứ tư.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, udako rāmaputto nevasaññānāsaññāyatanassa parikammaṃ ācikkhi †, ayaṃ pañcamo ācariyo. Ime kho, mahārāja, pubbeva sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattassa sato pañca ācariyā. Te ca pana ācariyā lokiye dhamme. Imasmiñca pana, mahārāja, lokuttare dhamme sabbaññutañāṇappaṭivedhāya natthi tathāgatassa anuttaro anusāsako, sayambhū, mahārāja, tathāgato anācariyako, tasmā kāraṇā tathāgatena bhaṇitaṃ ‘na me ācariyo atthi, sadiso me na vijjati. Sadevakasmiṃ lokasmiṃ, natthi me paṭipuggalo’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Furthermore, great king, Uddaka Rāmaputta taught the preliminary meditation for attaining the sphere of neither-perception-nor-non-perception; this was the fifth teacher. These, great king, were the five teachers of the Bodhisatta before his full awakening, while he was yet to be fully awakened. But those teachers taught in worldly matters. However, in this supramundane Dhamma, for the penetration to the knowledge of omniscience, the Tathāgata has no instructor who is his superior. The Tathāgata, great king, is self-awakened, without a teacher. It is for this reason that the Tathāgata declared: ‘I have no teacher; one like me does not exist. In the world with its devas, there is no counterpart to me.’” “Excellent, Venerable Nāgasena, so it is; I accept it as such.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, Udaka Rāmaputta đã chỉ dạy pháp chuẩn bị cho Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thiền. Vị này là người thầy thứ năm. Tâu Đại vương, đây là năm vị thầy của Bồ-tát khi ngài chưa giác ngộ, chưa chứng đắc Chánh Đẳng Giác. Và những vị thầy ấy là thầy về pháp thế gian. Còn về pháp siêu thế này, tâu Đại vương, để chứng đắc Nhất thiết trí, Đức Như Lai không có vị thầy nào cao hơn. Tâu Đại vương, Đức Như Lai là bậc Tự Giác Ngộ, không có thầy. Vì lý do đó, Đức Như Lai đã nói: ‘Ta không có thầy, người bằng ta không có; trong thế gian cùng với chư thiên, không có ai đối thủ của ta.’ “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, trẫm xin chấp nhận điều này đúng là như vậy.”
Ācariyānācariyapañho ekādasamo.
The eleventh question, concerning having a teacher or not.
Câu hỏi thứ mười một về việc có thầy và không có thầy.
Santhavavaggo pañcamo.
The Fifth Chapter: On Acquaintance.
Phẩm Giao Thiệp, thứ năm.
Imasmiṃ vagge ekādasa pañho.
In this chapter, there are eleven questions.
Trong phẩm này có mười một câu hỏi.
The Dilemmas are concluded.
Các câu hỏi nan giải đã được hoàn tất.