Bản dịch
MIL 5.5.9 — CÂU HỎI GIẢNG VỀ VẬT THỰC
9. Gāthābhigītabhojanakathāpañha
DO VIỆC NGÂM NGA CÁC BÀI KỆ
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng. Này Bà-la-môn, đối với những vị đang xem xét thì việc ấy không phải là Pháp. Chư Phật khước từ việc ngâm nga các bài kệ. Này Bà-la-môn, việc ấy là cách hành xử khi Giáo Pháp hiện hữu.’
Và thêm nữa, đức Thế Tôn trong khi thuyết giảng Giáo Pháp có phương pháp, trong khi giảng giải theo thứ lớp, trước tiên hết giảng giải bài thuyết về bố thí, kế đến là bài thuyết về giới. Sau khi lắng nghe lời giảng giải của đức Thế Tôn ấy, vị chúa tể của tất cả các thế giới, chư Thiên và nhân loại chuẩn bị và dâng cúng vật thí. Vật thí ấy đã được gởi đến cho Ngài và các đệ tử thọ dụng.
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên’ là sai trái. Nếu Ngài giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên, như thế thì lời nói rằng: ‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng’ cũng là sai trái. Vì lý do gì? Thưa ngài, vị nào đó, là bậc xứng đáng cúng dường, giảng giải cho hàng tại gia bài thuyết về quả thành tựu của việc bố thí vật thực, sau khi lắng nghe bài giảng về Giáo Pháp của vị ấy, họ có tâm tịnh tín rồi liên tục dâng cúng vật thí. Các vị nào thọ dụng vật thí ấy, tất cả các vị ấy thọ dụng (vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, khôn khéo, thâm sâu, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘(Vật thực do) việc ngâm nga các bài kệ sẽ không được Ta thọ dụng. Này Bà-la-môn, đối với những vị đang xem xét thì việc ấy không phải là Pháp. Chư Phật khước từ việc ngâm nga các bài kệ. Này Bà-la-môn, việc ấy là cách hành xử khi Giáo Pháp hiện hữu.’
Và đức Thế Tôn giảng giải bài thuyết về bố thí trước tiên. Hơn nữa, điều ấy là việc làm của tất cả các đức Như Lai, trước hết bằng bài thuyết về bố thí, các Ngài làm cho tâm (người nghe) được thích thú vào việc ấy, sau đó khiến cho (người nghe) gắn bó vào giới. Tâu đại vương, giống như đối với những đứa trẻ còn nhỏ, người ta trước tiên hết cho chúng những món đồ chơi, như là móc câu, gậy ngắn, cối xay, vật đong đo, xe kéo, cây cung, sau đó gắn bó chúng theo hành động của mỗi đứa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức như Lai trước tiên hết làm cho tâm (người nghe) được thích thú bằng bài thuyết về bố thí sau đó khiến cho (người nghe) gắn bó vào giới.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người thầy thuốc đối với những người bệnh, trước tiên hết cho uống dầu bốn năm ngày để tạo ra sức mạnh để làm cho mềm, sau đó cho thuốc xổ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức như Lai trước hết làm cho tâm được thích thú bằng bài thuyết về bố thí sau đó khiến cho gắn bó vào giới.
Tâu đại vương, tâm của những người bố thí, của những thí chủ là nhu thuận, dịu dàng, mềm mại. Nhờ cây cầu và đường đi của việc bố thí ấy, những người ấy tiến đến gần bờ bên kia của biển cả luân hồi nhờ vào con thuyền của sự bố thí. Do đó, đối với những người ấy trước hết Ngài chỉ dạy về nền tảng của nghiệp, nhưng không vì điều ấy mà phạm vào sự yêu cầu.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là ‘yêu cầu,’ vậy thì các sự yêu cầu ấy có bao nhiêu loại?”
BJT 4“Tâu đại vương, đây là hai sự yêu cầu: Yêu cầu bằng thân và yêu cầu bằng khẩu. Trong trường hợp ấy, có sự yêu cầu bằng thân là có tội, có sự yêu cầu bằng thân là không có tội; có sự yêu cầu bằng khẩu là có tội, có sự yêu cầu bằng khẩu là không có tội. Sự yêu cầu bằng thân nào là có tội? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, đứng ở chỗ không thích hợp, rồi đứng lì tại chỗ; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, đứng ở chỗ không thích hợp, nhướng cổ, nhìn soi mói với cái nhìn của loài công (nghĩ rằng): ‘Như vậy thì những người này sẽ nhìn thấy.’ Và do việc ấy, những người ấy nhìn thấy; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó yêu cầu bằng quai hàm, hoặc bằng lông mày, hoặc bằng ngón cái; đây là sự yêu cầu bằng thân có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Sự yêu cầu bằng thân nào là không có tội? Ở đây, một vị tỳ khưu nào đó đi đến các gia đình, có niệm, được định tĩnh, có sự tỉnh giác, đi đến chỗ đứng cũng như ở nơi không phải chỗ đứng theo lời chỉ dạy, rồi đứng tại chỗ, ở những người có ý định bố thí thì đứng (chờ), ở những người không có ý định bố thí thì bước đi; đây là sự yêu cầu bằng thân không có tội. Các bậc Thánh thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy được khen ngợi, được ca tụng, được tán dương, được xem là ‘có hạnh giảm thiểu, có sự nuôi mạng trong sạch.’
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến:
‘Các bậc có trí tuệ không cầu xin, các bậc Thánh chê trách việc cầu xin. Các bậc Thánh đứng theo quy định, việc ấy là sự cầu xin của các bậc Thánh.’
BJT 5Sự yêu cầu bằng khẩu nào là có tội? Tâu đại vương, ở đây vị tỳ khưu yêu cầu các vật dụng là y, vật thực, chỗ ngụ, và thuốc men chữa bệnh bằng lời nói theo nhiều cách; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó nói như vậy khiến cho những người khác nghe được: ‘Tôi có sự cần dùng với vật này.’ Và do lời nói ấy, do việc làm cho những người khác nghe được, lợi lộc phát sanh đến vị ấy; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, ở đây một vị tỳ khưu nào đó thông báo cho hội chúng với việc loan tin bằng khẩu rằng: ‘Nên dâng cúng vật như vầy và như vầy đến các vị tỳ khưu.’ Và do việc ấy, những người ấy nghe theo lời nói rồi mang lại vật đã được thông báo; đây là sự yêu cầu bằng khẩu có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
Tâu đại vương, quả là trưởng lão Sāriputta, trong lúc bị bệnh vào ban đêm khi mặt trời đã lặn, trong khi được trưởng lão Mahāmoggallāna hỏi về thuốc chữa bệnh, đã nói ra lời. Do việc nói ra lời ấy của vị ấy, thuốc chữa bệnh đã phát sanh. Rồi trưởng lão Sāriputta (nghĩ rằng): ‘Do việc nói ra lời của ta mà thuốc chữa bệnh này đã được phát sanh. Chớ để cho sự nuôi mạng của ta bị hư hỏng,’ do sự lo âu về việc làm hư hỏng sự nuôi mạng nên đã từ chối, đã không sử dụng thuốc chữa bệnh ấy. Sự yêu cầu bằng khẩu như vậy cũng có tội. Các bậc Thánh không thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy bị chê bai, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách, bị xem thường, không được đếm xỉa đến, bị xem là ‘có sự nuôi mạng bị hư hỏng.’
BJT 6Sự yêu cầu bằng khẩu nào là không có tội? Tâu đại vương, ở đây vị tỳ khưu khi có duyên cớ rồi yêu cầu thuốc chữa bệnh ở các gia đình đã được thỉnh cầu và ở thân quyến; đây là sự yêu cầu bằng khẩu không có tội. Các bậc Thánh thọ dụng vật đã được yêu cầu ấy. Và theo quan điểm của các bậc Thánh, nhân vật ấy được khen ngợi, được ca tụng, được tán dương, được xem là ‘có hạnh giảm thiểu, có sự nuôi mạng được trong sạch,’ và được cho phép bởi các đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác.
Tâu đại vương, trái lại việc đức Như Lai đã từ chối bữa ăn của Bà-la-môn Kasībhāradvāja, bữa ăn ấy được phát sanh do việc gây rối, việc tháo gỡ, việc lôi kéo, việc phê bình, và việc công kích. Do đó, đức Như Lai đã khước từ, đã không sử dụng phần vật thực ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải chư Thiên luôn luôn rắc dưỡng chất của cõi trời vào bình bát trong lúc đức Như Lai đang thọ thực, hay là đã rắc vào ở hai món là ở món thịt lợn rừng và ở món cơm sữa ngọt mà thôi?”
“Tâu đại vương, trong lúc đức Như Lai thọ thực chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng gần bên, rồi rắc vào những nắm cơm mỗi một lúc được đưa lên (miệng). Tâu đại vương, giống như trong lúc đức vua đang ăn, người đầu bếp của vua cầm lấy món xúp, đứng gần bên, rồi rưới xúp vào mỗi một nắm cơm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong lúc đức Như Lai thọ thực chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng gần bên, rồi rắc vào những nắm cơm mỗi một lúc được đưa lên (miệng).
Tâu đại vương, thậm chí ở Verañjā trong lúc đức Như Lai đang thọ thực những hạt lúa mạch khô khan, chư Thiên cũng tuần tự tẩm ướt (chúng) với dưỡng chất của cõi trời rồi đem lại. Nhờ thế, cơ thể của đức Như Lai đã được bồi bổ.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là điều lợi ích đối với chư Thiên ấy, là các vị đã thường xuyên, liên tục thể hiện sự nỗ lực trong việc chăm sóc thân thể của đức Như Lai. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi giảng về vật thực do việc ngâm nga các bài kệ là thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘gāthābhigītaṃ me abhojaneyyaṃ, sampassataṃ brāhmaṇa nesa dhammo. Gāthābhigītaṃ panudanti buddhā, dhamme satī brāhmaṇa vuttiresā’ti, katheti ca bhagavā paṭhamaṃ dānakathaṃ, tañca pana kiriyaṃ sabbesaṃ tathāgatānaṃ paṭhamaṃ dānakathāya, tattha cittaṃ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojenti. Yathā, mahārāja, manussā taruṇadārakānaṃ paṭhamaṃ tāva kīḷābhaṇḍakāni denti. Seyyathidaṃ, vaṅkakaṃ ghaṭikaṃ ciṅgulakaṃ pattāḷhakaṃ rathakaṃ dhanukaṃ, pacchā te sake sake kamme niyojenti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato paṭhamaṃ dānakathāya cittaṃ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojeti.
“Great king, this was spoken by the Blessed One: ‘Food obtained by chanting verses is not to be eaten by me. Brahmin, this is not the Dhamma for those who see clearly. The Buddhas reject what is obtained by chanting verses; Brahmin, when the Dhamma is present, this is their way of life.’ And the Blessed One does first speak on giving, for this is the practice of all Tathāgatas: first delighting the mind with a discourse on giving, and afterward guiding them to virtue. Just as, great king, people first give young children toys—such as a toy plough, a stick for games, a spinning top, a leaf-cup, a toy cart, or a toy bow—and afterward engage them in their respective duties. In the same way, great king, the Tathāgata first delights the mind with a discourse on giving and afterward guides them to virtue.
“Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Này Bà-la-môn, vật thực có được do ngâm kệ, Ta không nên thọ dụng. Đây không phải là pháp của những bậc thấy rõ. Các bậc Giác Ngộ loại bỏ vật thực có được do ngâm kệ. Này Bà-la-môn, khi có chánh pháp, đây là cách sinh sống (của các Ngài).’ Và Đức Thế Tôn cũng nói về bố thí trước tiên. Và đó là hành động của tất cả các bậc Như Lai: trước hết làm cho tâm hoan hỷ với pháp thoại về bố thí, sau đó hướng họ vào giới. Tâu Đại vương, ví như người ta trước hết cho trẻ nhỏ những món đồ chơi, tức là: cái cày nhỏ, cái gậy, cái bánh xe, cái lá cây, cái xe nhỏ, cái cung nhỏ. Sau đó, họ hướng chúng vào công việc riêng của chúng. Cũng vậy, tâu Đại vương, Như Lai trước hết làm cho tâm hoan hỷ với pháp thoại về bố thí, sau đó hướng họ vào giới.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, bhisakko nāma āturānaṃ paṭhamaṃ tāva catūhapañcāhaṃ telaṃ pāyeti balakaraṇāya sinehanāya, pacchā vireceti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato paṭhamaṃ tāva dānakathāya cittaṃ abhiramāpetvā pacchā sīle niyojeti. Dāyakānaṃ, mahārāja, dānapatīnaṃ cittaṃ mudukaṃ hoti maddavaṃ siniddhaṃ, tena te dānasetusaṅkamena dānanāvāya saṃsārasāgarapāramanugacchanti, tasmā tesaṃ paṭhamaṃ kammabhūmimanusāsati, na ca kenaci † viññattimāpajjatī’’ti.
“Or, great king, just as a physician first has a sick patient drink oil for four or five days for strengthening and lubricating, and then administers a purge. In the same way, great king, the Tathāgata first delights the mind with a discourse on giving, and then directs them to virtue. For donors, great king, for patrons of giving, the mind becomes pliable, soft, and supple. By that bridge of giving, by that boat of giving, they cross to the far shore of the ocean of saṃsāra. Therefore, he first instructs them in this ground for kamma, and does not thereby engage in any form of intimation.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, một vị thầy thuốc trước hết cho bệnh nhân uống dầu trong bốn năm ngày để tăng cường sức lực và làm cho mềm mại, sau đó mới cho xổ. Cũng vậy, tâu Đại vương, Như Lai trước hết làm cho tâm hoan hỷ với pháp thoại về bố thí, sau đó hướng họ vào giới. Tâu Đại vương, tâm của người thí chủ, người bố thí, trở nên mềm mại, nhu thuận, dịu dàng. Nhờ đó, họ đi đến bờ kia của đại dương luân hồi bằng cây cầu bố thí, bằng con thuyền bố thí. Do đó, Ngài trước hết giáo huấn họ về nền tảng của hành động, và không rơi vào sự gợi ý bằng bất cứ cách nào.”
‘‘Bhante nāgasena, ‘viññatti’nti yaṃ vadesi, kati pana tā viññattiyo’’ti? ‘‘Dvemā, mahārāja, viññattiyo kāyaviññatti vacīviññatti cāti. Tattha atthi kāyaviññatti sāvajjā, atthi anavajjā. Atthi vacīviññatti sāvajjā, atthi anavajjā.
“Venerable Nāgasena, regarding what you call ‘intimation,’ how many kinds of intimations are there?” “There are two, great king: bodily intimation and verbal intimation. Among these, there is blameworthy bodily intimation and blameless bodily intimation. There is blameworthy verbal intimation and blameless verbal intimation.”
“Thưa Đại đức Nāgasena, ngài nói về ‘sự gợi ý,’ vậy có bao nhiêu loại gợi ý?” “Tâu Đại vương, có hai loại gợi ý: thân biểu và khẩu biểu. Trong đó, có thân biểu đáng chê trách, và có thân biểu không đáng chê trách. Có khẩu biểu đáng chê trách, và có khẩu biểu không đáng chê trách.”
‘‘Katamā kāyaviññatti sāvajjā? Idhekacco bhikkhu kulāni upagantvā anokāse ṭhito ṭhānaṃ bhañjati, ayaṃ kāyaviññatti sāvajjā. Tāya ca viññāpitaṃ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṃ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṃ gacchati.
“What is blameworthy bodily intimation? Here, a certain monk approaches families and, standing in an unsuitable place, behaves improperly in his standing. This is a blameworthy bodily intimation. The noble ones do not make use of what is obtained by such intimation, and that person, in the estimation of the noble ones, is despised, scorned, reviled, censured, disdained, and disregarded. He is reckoned as one with a corrupt livelihood.”
“Thân biểu đáng chê trách là gì? Ở đây, có vị tỳ khưu đến các gia đình, đứng ở nơi không thích hợp, rồi phá vỡ tư thế đứng. Đây là thân biểu đáng chê trách. Các bậc Thánh không thọ dụng vật được gợi ý theo cách đó. Và người ấy, trong giới luật của các bậc Thánh, bị khinh miệt, bị chê bai, bị chế giễu, bị khiển trách, bị xem thường, không được tôn trọng, và được xem là người có sinh kế hư hỏng.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, idhekacco bhikkhu kulāni upagantvā anokāse ṭhito galaṃ paṇāmetvā morapekkhitaṃ pekkhati ‘evaṃ ime passantī’ti, tena ca te passanti. Ayampi kāyaviññatti sāvajjā. Tāya ca viññāpitaṃ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṃ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṃ gacchati.
“Furthermore, great king, here a certain monk approaches families and, standing in an unsuitable place, cranes his neck and gazes like a peacock, thinking, ‘In this way they will see me’; and they do see him. This too is a blameworthy bodily intimation. The noble ones do not make use of what is obtained by such intimation, and that person, in the estimation of the noble ones, is despised, scorned, reviled, censured, disdained, and disregarded. He is reckoned as one with a corrupt livelihood.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, ở đây có vị tỳ khưu đến các gia đình, đứng ở nơi không thích hợp, nghển cổ và nhìn liếc như con công, nghĩ rằng ‘làm thế này họ sẽ thấy mình,’ và họ thấy vị ấy. Đây cũng là thân biểu đáng chê trách. Các bậc Thánh không thọ dụng vật được gợi ý theo cách đó. Và người ấy, trong giới luật của các bậc Thánh, bị khinh miệt, bị chê bai, bị chế giễu, bị khiển trách, bị xem thường, không được tôn trọng, và được xem là người có sinh kế hư hỏng.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, idhekacco bhikkhu hanukāya vā bhamukāya vā aṅguṭṭhena vā viññāpeti, ayampi kāyaviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṃ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṃ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṃ gacchati.
“Furthermore, great king, here a certain monk makes an intimation with his jaw, his eyebrow, or his thumb. This too is a blameworthy bodily intimation. The noble ones do not make use of what is obtained by such intimation, and that person, in the estimation of the noble ones, is despised, scorned, reviled, censured, disdained, and disregarded. He is reckoned as one with a corrupt livelihood.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, ở đây có vị tỳ khưu ra dấu bằng cằm, hoặc bằng lông mày, hoặc bằng ngón tay. Đây cũng là thân biểu thị có tội lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật được gợi ý bằng cách ấy, và người ấy trong giới luật của các bậc Thánh thì bị xem thường, bị khinh miệt, bị chê bai, bị khiển trách, bị coi rẻ, không được tôn trọng, và được xem là người có sinh kế hư hỏng.”
‘‘Katamā kāyaviññatti anavajjā? Idha bhikkhu kulāni upagantvā sato samāhito sampajāno ṭhānepi aṭṭhānepi yathānusiṭṭhiṃ gantvā ṭhāne tiṭṭhati, dātukāmesu tiṭṭhati, adātukāmesu pakkamati. Ayaṃ kāyaviññatti anavajjā, tāya ca viññāpitaṃ ariyā paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṃ samaye vaṇṇito hoti thuto pasattho sallekhitācāro, parisuddhājīvotveva saṅkhaṃ gacchati. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā devātidevena –
“What is blameless bodily intimation? Here, a monk approaches families mindful, composed, and clearly aware. Whether in a suitable or unsuitable place, he goes according to the instructions and stands in a proper place. He stands when they wish to give, and departs when they do not wish to give. This is blameless bodily intimation. The noble ones make use of what is obtained by such intimation, and that person, in the estimation of the noble ones, is praised, extolled, and lauded as one of austere conduct. He is reckoned as one of purified livelihood. This, great king, was spoken by the Blessed One, the god beyond gods:
“Thân biểu thị không có tội lỗi là thế nào? Ở đây, vị tỳ khưu đi đến các gia đình, có chánh niệm, định tĩnh, tỉnh giác, ở nơi thích hợp hay không thích hợp, đi theo lời chỉ dạy rồi đứng lại ở nơi cần đứng. Nếu họ muốn cúng dường thì đứng lại, nếu họ không muốn cúng dường thì ra đi. Đây là thân biểu thị không có tội lỗi. Các bậc Thánh thọ dụng vật được gợi ý bằng cách ấy, và người ấy trong giới luật của các bậc Thánh thì được tán dương, được ca ngợi, được khen tặng, có hạnh kiểm khắc khổ, và được xem là người có sinh kế trong sạch. Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn, bậc Thiên Nhân Sư, nói rằng –”
‘Na ve yācanti sappaññā, dhīro ca veditumarahati †;
Uddissa ariyā tiṭṭhanti, esā ariyāna yācanā’ti.
‘Truly, the wise do not beg; the discerning one should understand. The noble ones stand with a purpose; this is the asking of the noble ones.’
“‘Bậc trí không hề xin xỏ, người hiền nên tự biết; các bậc Thánh đứng im lặng, đó là cách xin của bậc Thánh.’”
‘‘Katamā vacīviññatti sāvajjā? Idha, mahārāja, bhikkhu vācāya bahuvidhaṃ viññāpeti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṃ, ayaṃ vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṃ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṃ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṃ gacchati.
“What is blameworthy verbal intimation? Here, great king, a monk verbally makes intimations in many ways for robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick. This is a blameworthy verbal intimation. The noble ones do not make use of what is obtained by such intimation, and that person, in the estimation of the noble ones, is despised, scorned, reviled, censured, disdained, and disregarded. He is reckoned as one with a corrupt livelihood.”
“Khẩu biểu thị có tội lỗi là thế nào? Tâu Đại vương, ở đây, vị tỳ khưu dùng lời nói để xin nhiều thứ: y phục, vật thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Đây là khẩu biểu thị có tội lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật được xin bằng cách ấy, và người ấy trong giới luật của các bậc Thánh thì bị xem thường, bị khinh miệt, bị chê bai, bị khiển trách, bị coi rẻ, không được tôn trọng, và được xem là người có sinh kế hư hỏng.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, idhekacco bhikkhu paresaṃ sāvento evaṃ bhaṇati ‘iminā me attho’ti, tāya ca vācāya paresaṃ sāvitāya tassa lābho uppajjati, ayampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṃ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṃ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṃ gacchati.
“Furthermore, great king, here a certain monk, speaking within earshot of others, says, ‘I have need of this.’ And by that speech made audible to others, gain arises for him. This too is a blameworthy verbal intimation. The noble ones do not make use of what is obtained by such intimation, and that person, in the estimation of the noble ones, is despised, scorned, reviled, censured, disdained, and disregarded. He is reckoned as one with a corrupt livelihood.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, ở đây có vị tỳ khưu nói cho người khác nghe rằng: ‘Tôi cần vật này.’ Và do lời nói cho người khác nghe ấy mà vị ấy có được lợi lộc. Đây cũng là khẩu biểu thị có tội lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật được xin bằng cách ấy, và người ấy trong giới luật của các bậc Thánh thì bị xem thường, bị khinh miệt, bị chê bai, bị khiển trách, bị coi rẻ, không được tôn trọng, và được xem là người có sinh kế hư hỏng.”
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, idhekacco bhikkhu vacīvipphārena parisāya sāveti ‘evañca evañca bhikkhūnaṃ dātabba’nti, tañca te vacanaṃ sutvā parikittitaṃ abhiharanti, ayampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṃ ariyā na paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṃ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṃ gacchati.
“Furthermore, great king, here a certain monk, with a flourish of speech, announces to an assembly, ‘Such and such should be given to the monks.’ Hearing that statement, they bring what was mentioned. This too is a blameworthy verbal intimation. The noble ones do not make use of what is obtained by such intimation, and that person, in the estimation of the noble ones, is despised, scorned, reviled, censured, disdained, and disregarded. He is reckoned as one with a corrupt livelihood.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, ở đây có vị tỳ khưu dùng lời nói bóng gió để cho hội chúng nghe rằng: ‘Nên cúng dường cho các tỳ khưu vật này vật kia.’ Và khi nghe lời ấy, họ bèn mang đến vật đã được kể ra. Đây cũng là khẩu biểu thị có tội lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật được xin bằng cách ấy, và người ấy trong giới luật của các bậc Thánh thì bị xem thường, bị khinh miệt, bị chê bai, bị khiển trách, bị coi rẻ, không được tôn trọng, và được xem là người có sinh kế hư hỏng.”
‘‘Nanu, mahārāja, theropi sāriputto atthaṅgate sūriye rattibhāge gilāno samāno therena mahāmoggallānena bhesajjaṃ pucchīyamāno vācaṃ bhindi, tassa tena vacībhedena bhesajjaṃ uppajji. Atha thero sāriputto ‘vacībhedena me imaṃ bhesajjaṃ uppannaṃ, mā me ājīvo bhijjī’ti ājīvabhedabhayā taṃ bhesajjaṃ pajahi na upajīvi. Evampi vacīviññatti sāvajjā, tāya ca viññāpitaṃ ariyā na paribhuñjanti. So ca puggalo ariyānaṃ samaye oññāto hoti hīḷito khīḷito garahito paribhūto acittīkato, bhinnājīvotveva saṅkhaṃ gacchati.
Indeed, great king, the Elder Sāriputta, being ill at night after the sun had set, when asked about a medicine by the Elder Mahāmoggallāna, uttered a word. By that utterance, a medicine arose. Then the Elder Sāriputta thought, 'This medicine has arisen for me through an utterance; may my livelihood not be broken.' Fearing the breaking of his livelihood, he forsook that medicine and did not make use of it. Thus, verbal intimation is blameworthy, and that which is obtained by intimation is not used by the noble ones. Such a person, in the estimation of the noble ones, is looked down upon, scorned, reviled, censured, treated with contempt, and disregarded; he is reckoned as one whose livelihood is broken.
“Tâu Đại vương, há không phải Trưởng lão Sāriputta, sau khi mặt trời lặn, vào ban đêm, đang bị bệnh, khi được Trưởng lão Mahāmoggallāna hỏi về thuốc men, đã thốt ra lời nói sao? Và do lời nói ấy mà có được thuốc men. Bấy giờ, Trưởng lão Sāriputta, vì sợ sinh kế bị hư hỏng, đã nghĩ rằng: ‘Thuốc này có được là do lời nói của ta, mong rằng sinh kế của ta không bị hư hỏng,’ rồi ngài đã từ bỏ thuốc ấy, không dùng đến. Như vậy, khẩu biểu thị cũng có tội lỗi. Các bậc Thánh không thọ dụng vật được xin bằng cách ấy. Và người ấy trong giới luật của các bậc Thánh thì bị xem thường, bị khinh miệt, bị chê bai, bị khiển trách, bị coi rẻ, không được tôn trọng, và được xem là người có sinh kế hư hỏng.”
‘‘Katamā vacīviññatti anavajjā? Idha, mahārāja, bhikkhu sati paccaye bhesajjaṃ viññāpeti ñātipavāritesu kulesu, ayaṃ vacīviññatti anavajjā, tāya ca viññāpitaṃ ariyā paribhuñjanti, so ca puggalo ariyānaṃ samaye vaṇṇito hoti thomito pasattho, parisuddhājīvotveva saṅkhaṃ gacchati, anumato tathāgatehi arahantehi sammāsambuddhehi.
What, great king, is blameless verbal intimation? Here, great king, a monk, when there is a reason, requests medicine from the families of his relatives or from those who have extended an invitation. This is blameless verbal intimation, and that which is obtained by such intimation is used by the noble ones. And such a person, in the estimation of the noble ones, is praised, extolled, and lauded; he is reckoned as one whose livelihood is pure, and is approved by the Tathāgatas, the Arahants, the Perfectly Enlightened Ones.
“Khẩu biểu thị không có tội lỗi là thế nào? Tâu Đại vương, ở đây, vị tỳ khưu khi có duyên cớ, có thể xin thuốc men ở các gia đình thân quyến hoặc những người đã thỉnh mời. Đây là khẩu biểu thị không có tội lỗi. Các bậc Thánh thọ dụng vật được xin bằng cách ấy, và người ấy trong giới luật của các bậc Thánh thì được tán dương, được ca ngợi, được khen tặng, và được xem là người có sinh kế trong sạch, được các đấng Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác cho phép.”
‘‘Yaṃ pana, mahārāja, tathāgato kasibhāradvājassa brāhmaṇassa bhojanaṃ pajahi †, taṃ āveṭhanaviniveṭhanakaḍḍhananiggahappaṭikammena nibbatti, tasmā tathāgato taṃ piṇḍapātaṃ paṭikkhipi na upajīvī’’ti.
Furthermore, great king, the Tathāgata rejected the meal of the brahmin Kasibhāradvāja because it was produced through the process of entanglement, disentanglement, drawing out, subduing, and counter-action. Therefore, the Tathāgata refused that almsfood and did not make use of it.
“Tâu Đại vương, còn việc đức Như Lai đã từ chối vật thực của Bà-la-môn Kasibhāradvāja, đó là vì vật thực ấy có được do sự thuyết phục, giải tỏa, lôi kéo, áp chế, và đối đáp. Vì thế, đức Như Lai đã khước từ vật thực khất thực ấy và không thọ dụng.”
‘‘Sabbakālaṃ, bhante nāgasena, tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṃ ojaṃ patte ākiranti, udāhu ‘sūkaramaddave ca madhupāyāse cā’ti dvīsu yeva piṇḍapātesu ākiriṃsū’’ti? ‘‘Sabbakālaṃ, mahārāja, tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṃ ojaṃ gahetvā upatiṭṭhitvā uddhaṭuddhaṭe ālope ākiranti.
“Venerable Nāgasena, when the Tathāgata eats, do the deities always pour divine essence into his bowl, or did they do so only with the two alms-foods, the sūkaramaddava and the milk-rice with honey?” “Always, great king, when the Tathāgata eats, the deities, having taken divine essence, attend upon him and pour it onto each morsel as it is lifted.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải lúc nào đức Như Lai thọ thực, chư thiên cũng rắc tinh chất trời vào bát của ngài, hay chỉ rắc vào hai món vật thực là ‘sūkaramaddava’ và cháo sữa?” “Tâu Đại vương, lúc nào đức Như Lai thọ thực, chư thiên cũng lấy tinh chất trời, đứng hầu cận và rắc vào từng miếng cơm được lấy lên.”
‘‘Yathā, mahārāja, rañño sūdo rañño bhuñjantassa sūpaṃ gahetvā upatiṭṭhitvā kabaḷe kabaḷe sūpaṃ ākirati, evameva kho, mahārāja, sabbakālaṃ tathāgate bhuñjamāne devatā dibbaṃ ojaṃ gahetvā upatiṭṭhitvā uddhaṭuddhaṭe ālope dibbaṃ ojaṃ ākiranti. Verañjāyampi, mahārāja, tathāgatassa sukkhayavapulake † bhuñjamānassa devatā dibbena ojena temayitvā temayitvā upasaṃhariṃsu, tena tathāgatassa kāyo upacito ahosī’’ti. ‘‘Lābhā vata, bhante nāgasena, tāsaṃ devatānaṃ, yā tathāgatassa sarīrappaṭijaggane satataṃ samitaṃ ussukkamāpannā. Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Just as, great king, a king's cook, taking soup, stands by the king as he eats and pours soup onto each mouthful, so too, great king, always when the Tathāgata is eating, the deities, taking divine essence, stand by and pour divine essence onto each mouthful as it is raised. Even in Verañjā, great king, when the Tathāgata was eating dry barley cakes, the deities moistened them again and again with divine essence and offered them; and thus the Tathāgata's body was nourished.” “It is indeed a gain, venerable Nāgasena, for those deities who are constantly and perpetually devoted to the care of the Tathāgata's body. Good, venerable Nāgasena, I accept it as just so.”
“Tâu Đại vương, ví như người đầu bếp của vua, khi vua đang dùng bữa, lấy canh đứng hầu cận và rưới canh vào từng miếng cơm. Cũng vậy, tâu Đại vương, lúc nào đức Như Lai thọ thực, chư thiên cũng lấy tinh chất trời, đứng hầu cận và rắc tinh chất trời vào từng miếng cơm được lấy lên. Ngay cả ở Verañjā, tâu Đại vương, khi đức Như Lai dùng bánh lúa mạch khô, chư thiên cũng đã tẩm đi tẩm lại tinh chất trời rồi dâng lên, nhờ đó mà thân của đức Như Lai được nuôi dưỡng.” “Thật là may mắn thay, thưa ngài Nāgasena, cho các vị trời ấy, những vị đã luôn luôn nhiệt tâm chăm sóc thân thể của đức Như Lai. Lành thay, thưa ngài Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như lời ngài nói.”
Gāthābhigītabhojanakathāpañho navamo.
The Ninth Question Concerning Food Obtained Through Verses.
Câu hỏi về vật thực có được do đọc kệ, phẩm thứ chín.