Bản dịch
MIL 5.5.8 — CÂU HỎI VỀ LỜI NÓI LÀ BÀ-LA-MÔN VÀ LÀ VUA
8. Brāhmaṇarājavādapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela’ là sai trái. Nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Ta là đức vua Sela,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin’ cũng là sai trái. Bởi vì chỉ có thể hoặc là Sát-đế-lỵ hoặc là Bà-la-môn, nghĩa là không thể có hai giai cấp cho một lần sanh ra. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Ta là vị Bà-la-môn sẵn sàng đáp ứng sự cầu xin.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Ta là đức vua Sela.’ Ở đây có lý do, mà với lý do ấy đức Như Lai vừa là vị Bà-la-môn vừa là vua.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì lý do ấy là gì, mà với lý do ấy đức Như Lai vừa là vị Bà-la-môn vừa là vua?”
“Tâu đại vương, tất cả các ác bất thiện pháp của đức Như Lai đã được lánh xa, đã được dứt bỏ, đã được xa lìa, đã được dứt lìa, đã được chặt đứt, đã đi đến sự cạn kiệt, đã được diệt tắt, đã được an tịnh, vì thế đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là đã vượt qua sự nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng đã vượt qua sự nghi ngờ, phân vân, lưỡng lự. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là đã lìa khỏi tất cả các nguồn gốc đưa đến hữu và cảnh giới tái sanh, đã thoát ra khỏi việc bị dính líu đến ô nhiễm và bụi bặm, không có bạn đồng hành. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng đã lìa khỏi tất cả các nguồn gốc đưa đến hữu và cảnh giới tái sanh, đã thoát ra khỏi việc bị dính líu đến ô nhiễm và bụi bặm, không có bạn đồng hành. Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
BJT 3Bà-là-môn nghĩa là có nhiều sự an trú cao cả, tối thượng, cao quý, ưu tú thuộc về cõi trời. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng có nhiều sự an trú cao cả, tối thượng, cao quý, ưu tú thuộc về cõi trời. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là người duy trì dòng dõi về sự chỉ dạy và truyền thống trước đây về việc học thuộc lòng, giảng dạy, tiếp nhận vật thí, rèn luyện, thu thúc, và kiềm chế. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là người duy trì dòng dõi về sự chỉ dạy và truyền thống đã được thực hành bởi các đấng Chiến Thắng trước đây về việc học thuộc lòng, giảng dạy, tiếp nhận vật thí, rèn luyện, thu thúc, và kiềm chế. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là vị có sự tham thiền về thiền có sự trú vào lạc bao la. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là vị có sự tham thiền về thiền có sự trú vào lạc bao la. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Bà-là-môn nghĩa là vị biết sự vận hành và chọn lựa việc tái sanh ở tất cả các cảnh giới hữu và phi hữu. Tâu đại vương, đức thế Tôn cũng là vị biết sự vận hành và chọn lựa việc tái sanh ở tất cả các cảnh giới hữu và phi hữu. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’
Tâu đại vương, tên gọi ‘Bà-là-môn’ này của đức Thế Tôn không do mẹ tạo ra, không do cha tạo ra, không do anh trai tạo ra, không do chị gái tạo ra, không do các bạn bè thân hữu tạo ra, không do các thân quyến cùng huyết thống tạo ra, không do các Sa-môn và Bà-la-môn tạo ra, không do chư Thiên tạo ra. Tên gọi này của chư Phật Thế Tôn liên quan đến mốc cuối cùng của sự giải thoát, cùng với sự đạt được trí Toàn Tri sau khi tiêu diệt đạo binh của Ma Vương ở ngay dưới cội cây Bồ Đề, sau khi lánh xa các ác bất thiện pháp thuộc quá khứ, hiện tại, và vị lai, là sự xác định thực tế về việc đã đạt được, đã được hiển lộ, đã được sanh khởi, tức là ‘Bà-là-môn.’ Vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Bà-là-môn.’”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì với lý do gì đức Như Lai được gọi là ‘Vua’?”
“Tâu đại vương, vua nghĩa là người nào cai trị vương quốc, chỉ dạy thế gian. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng cai trị vương quốc bằng Giáo Pháp ở mười ngàn thế giới, chỉ dạy thế gian tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến loài người luôn cả các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là sau khi chế ngự toàn bộ dân chúng loài người, trong khi làm hoan hỷ tập thể thân quyến, trong khi gây sầu muộn cho tập thể kẻ thù, rồi cho giương lên chiếc lọng che màu trắng tinh khiết là vật đem lại danh vọng và vinh quang lớn lao vĩ đại, có thanh cầm bằng lõi cây cứng chắc, được trang hoàng với một trăm thanh nan không thiếu sót. Tâu đại vương, đức Thế Tôn trong khi gây sầu muộn cho đội binh của Ma Vương có sự thực hành sai trái, trong khi làm hoan hỷ chư thiên và nhân loại có sự thực hành đúng đắn, cũng cho giương lên ở mười ngàn thế giới chiếc lọng che màu trắng tinh khiết của sự giải thoát cao cả quý báu, là vật đem lại danh vọng và vinh quang lớn lao vĩ đại, có thanh cầm bằng lõi cây cứng chắc là sự nhẫn nại, được trang hoàng với một trăm thanh nan trí tuệ cao quý. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là vị đáng được đảnh lễ bởi số đông dân chúng đã đi đến và gặp gỡ. Tâu đại vương, đức Thế Tôn cũng là vị đáng được đảnh lễ bởi số đông chư Thiên và nhân loại đã đi đến và gặp gỡ. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là đối với người nào có sự ra sức thì tin tưởng, ban cho ân huệ đã chọn lựa, và làm thỏa mãn theo như ước muốn. Tâu đại vương, đức Thế Tôn đối với người nào có sự ra sức về thân, về khẩu, về ý, thì cũng tin tưởng, ban cho ân huệ vô thượng đã chọn lựa là sự giải thoát hoàn toàn mọi sự khổ đau, và làm thỏa mãn trọn vẹn ân huệ theo như ước muốn. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là đối với kẻ chống lại mệnh lệnh thì quở trách, loại trừ, tiêu diệt. Tâu đại vương, trong Giáo Pháp cao quý của đức Thế Tôn, kẻ vô liêm sỉ vượt qua sự quy định cũng bị chê bai, khinh miệt, khiển trách vì tình trạng yếu hèn và bị loại ra khỏi Giáo Pháp cao quý của đấng Chiến Thắng. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, vua nghĩa là sau khi giảng giải về đúng pháp và sai pháp theo truyền thống và sự chỉ dạy của các vị vua chính trực trước đây, trong khi cai quản vương quốc một cách chính trực thì trở thành vị được ước muốn, được yêu mến, được mong cầu đối với dân chúng và loài người, rồi duy trì dòng dõi hoàng tộc lâu dài nhờ vào năng lực và ân đức của sự chính trực. Tâu đại vương, đức Thế Tôn sau khi cũng giảng giải về đúng pháp và sai pháp theo truyền thống và sự chỉ dạy của các đấng Tự Chủ trước đây, trong khi chỉ dạy thế gian đúng theo Pháp thì sẽ trở thành vị được ước muốn, được yêu mến, được mong cầu đối với chư Thiên và nhân loại, rồi chuyển vận Giáo Pháp lâu dài nhờ vào năng lực và ân đức của Pháp bảo. Cũng vì lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘Vua.’
Tâu đại vương, như vậy lý do có nhiều loại, mà với lý do ấy đức Như Lai có thể vừa là Bà-la-môn có thể vừa là vua. Vị tỳ khưu vô cùng khôn khéo cũng không có thể thành tựu được việc ấy cho dầu là một kiếp. Có ích gì với việc nói quá nhiều, điều khái quát nên được chấp nhận.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về lời nói là Bà-la-môn và là vua là thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ tathāgatena ‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti. Puna ca bhaṇitaṃ ‘rājāhamasmi selā’ti. Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti, tena hi ‘rājāhamasmi selā’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi tathāgatena bhaṇitaṃ ‘rājāhamasmi selā’ti, tena hi ‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti tampi vacanaṃ micchā. Khattiyo vā hi bhaveyya brāhmaṇo vā, natthi ekāya jātiyā dve vaṇṇā nāma, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
8. “Venerable Nāgasena, it has been said by the Tathāgata: ‘I, monks, am a brahmin, one worthy of offerings.’ And further, it has been said: ‘I am a king, Sela.’ If, Venerable Nāgasena, the Blessed One said, ‘I, monks, am a brahmin, one worthy of offerings,’ then the statement ‘I am a king, Sela’ is false. If the Tathāgata said, ‘I am a king, Sela,’ then the statement ‘I, monks, am a brahmin, one worthy of offerings’ is also false. For one is either a khattiya or a brahmin; there cannot be two castes in one birth. This double-edged question has come to you, and you must resolve it.”
8. “Bạch Đại đức Nāgasena, điều này đã được Như Lai nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta là Bà-la-môn, người đáng được cúng dường’. Và lại được nói rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua’. Bạch Đại đức Nāgasena, nếu Thế Tôn đã nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta là Bà-la-môn, người đáng được cúng dường’, thì lời nói ‘Này Sela, Ta là đức vua’ là sai. Nếu Như Lai đã nói: ‘Này Sela, Ta là đức vua’, thì lời nói ‘Này các Tỳ khưu, Ta là Bà-la-môn, người đáng được cúng dường’ cũng là sai. Hoặc là Sát-đế-lỵ, hoặc là Bà-la-môn, chứ trong một đời không thể có hai giai cấp. Vấn đề lưỡng nan này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘ahamasmi, bhikkhave, brāhmaṇo yācayogo’ti, puna ca bhaṇitaṃ ‘rājāhamasmi selā’ti, tattha kāraṇaṃ atthi, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇo ca rājā ca hotī’’ti.
“This was indeed spoken, great king, by the Blessed One: ‘I, monks, am a brahmin, one worthy of offerings,’ and also: ‘I am a king, Sela.’ There is a reason for this, great king, a reason why the Tathāgata is both a brahmin and a king.”
“Tâu Đại vương, điều này đã được Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, Ta là Bà-la-môn, người đáng được cúng dường’, và lại được nói rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua’. Có lý do cho điều đó, do lý do ấy mà Như Lai vừa là Bà-la-môn vừa là đức vua.”
‘‘Kiṃ pana taṃ, bhante nāgasena, kāraṇaṃ, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇo ca rājā ca hoti’’? ‘‘Sabbe, mahārāja, pāpakā akusalā dhammā tathāgatassa bāhitā pahīnā apagatā byapagatā ucchinnā khīṇā khayaṃ pattā nibbutā upasantā, tasmā tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
“But what, Venerable Nāgasena, is the reason why the Tathāgata is both a brahmin and a king?” “Great king, all evil and unwholesome qualities have been put away from the Tathāgata, abandoned, removed, dispelled, uprooted, brought to an end, destroyed, exhausted, calmed, and stilled. Therefore, the Tathāgata is called a ‘brahmin.’”
“Bạch Đại đức Nāgasena, vậy lý do đó là gì, do lý do nào mà Như Lai vừa là Bà-la-môn vừa là đức vua?” “Tâu Đại vương, tất cả các pháp ác, bất thiện của Như Lai đã được loại trừ, từ bỏ, lìa xa, dứt hẳn, đoạn tận, tiêu diệt, đi đến chỗ tận diệt, đã được dập tắt, đã được an tịnh. Vì thế, Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
‘‘Brāhmaṇo nāma saṃsayamanekaṃsaṃ vimatipathaṃ vītivatto, bhagavāpi, mahārāja, saṃsayamanekaṃsaṃ vimatipathaṃ vītivatto, tena kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
“A brahmin is one who has overcome doubt, uncertainty, and the path of perplexity. The Blessed One, great king, has also overcome doubt, uncertainty, and the path of perplexity. For this reason, the Tathāgata is called a ‘brahmin.’”
“Người được gọi là Bà-la-môn là người đã vượt qua sự nghi ngờ, sự không chắc chắn, con đường của sự phân vân. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng đã vượt qua sự nghi ngờ, sự không chắc chắn, con đường của sự phân vân. Do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
‘‘Brāhmaṇo nāma sabbabhavagatiyoninissaṭo malarajagatavippamutto asahāyo, bhagavāpi, mahārāja, sabbabhavagatiyoninissaṭo malarajagatavippamutto asahāyo, tena kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
“A brahmin is one who has escaped from all states of existence, destinations, and births, is freed from the world of defilement and dust, and is without a companion. The Blessed One, great king, has also escaped from all states of existence, destinations, and births, is freed from the world of defilement and dust, and is without a companion. For this reason, the Tathāgata is called a ‘brahmin.’”
“Người được gọi là Bà-la-môn là người thoát khỏi tất cả các cõi hữu, các đường sanh, các loại sanh; đã giải thoát khỏi bụi bặm và cấu uế của thế gian; không có bạn đồng hành. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng đã thoát khỏi tất cả các cõi hữu, các đường sanh, các loại sanh; đã giải thoát khỏi bụi bặm và cấu uế của thế gian; không có bạn đồng hành. Do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
‘‘Brāhmaṇā nāma aggaseṭṭhavarapavaradibbavihārabahulo, bhagavāpi, mahārāja, aggaseṭṭhavarapavaradibbavihārabahulo, tenāpi kaparaṇena tathāgato ‘‘brāhmaṇo’’ti vuccati.
“A brahmin is one who abounds in the highest, most excellent, supreme, and sublime divine abidings. The Blessed One, great king, also abounds in the highest, most excellent, supreme, and sublime divine abidings. For this reason, too, the Tathāgata is called a ‘brahmin.’”
“Người được gọi là Bà-la-môn là người thường trú trong các cảnh giới trú thiêng liêng, tối thượng, cao tột, ưu việt, thù thắng. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng thường trú trong các cảnh giới trú thiêng liêng, tối thượng, cao tột, ưu việt, thù thắng. Cũng do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
‘‘Brāhmaṇo nāma ajjhayana ajjhāpana dānappaṭiggahaṇa dama saṃyamaniyamapubbamanusiṭṭhi paveṇi vaṃsa dharaṇo, bhagavāpi, mahārāja, ajjhayana ajjhāpana dānappaṭiggahaṇa dama saṃyama niyama pubbajināciṇṇa anusiṭṭhi paveṇi vaṃsa dharaṇo tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
“A brahmin is an upholder of the lineage, tradition, and instructions of the ancestors regarding study, teaching, giving and receiving, taming, restraint, and discipline. The Blessed One, great king, is also an upholder of the lineage, tradition, and instructions practiced by former Jinas regarding study, teaching, giving and receiving, taming, restraint, and discipline. For this reason, too, the Tathāgata is called a ‘brahmin.’”
“Người được gọi là Bà-la-môn là người duy trì dòng dõi, truyền thống, lời giáo huấn của tiền nhân về việc học tập, giảng dạy, bố thí, nhận lãnh, điều phục, chế ngự, và kỷ luật. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng là người duy trì dòng dõi, truyền thống, lời giáo huấn đã được các bậc Toàn Giác quá khứ thực hành về việc thuyết giảng, khuyến khích thuyết giảng, nhận lãnh vật cúng dường, điều phục, chế ngự, và kỷ luật. Cũng do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
‘‘Brāhmaṇo nāma brahāsukhavihārajjhānajhāyī; bhagavāpi, mahārāja, brahāsukhavihārajjhānajhāyī, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
“A brahmin is one who meditates, contemplating the jhāna of the blissful abiding of development. The Blessed One, great king, also meditates, contemplating the jhāna of the blissful abiding of development. For this reason, too, the Tathāgata is called a ‘brahmin.’”
“Người được gọi là Bà-la-môn là người thiền quán về thiền định của sự an trú trong hạnh phúc cao cả. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng là người thiền quán về thiền định của sự an trú trong hạnh phúc cao cả. Cũng do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
‘‘Brāhmaṇo nāma sabbabhavābhavagatīsu abhijātivattitamanucaritaṃ jānāti, bhagavāpi, mahārāja, sabbabhavābhavagatīsu abhijātivattitamanucaritaṃ jānāti, tenāpi kāraṇena tathāgato ‘brāhmaṇo’ti vuccati.
“A brahmin is one who knows the conduct and behavior that has occurred according to birth in all destinations of existence and non-existence. The Blessed One, great king, also knows the conduct and behavior that has occurred according to birth in all destinations of existence and non-existence. For this reason, too, the Tathāgata is called a ‘brahmin.’”
“Người được gọi là Bà-la-môn là người biết rõ hành vi và quá trình diễn tiến của dòng dõi sanh khởi trong tất cả các cõi hữu, vô hữu, và các đường sanh. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng biết rõ hành vi và quá trình diễn tiến của dòng dõi sanh khởi trong tất cả các cõi hữu, vô hữu, và các đường sanh. Cũng do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
‘‘Brāhmaṇoti, mahārāja, bhagavato netaṃ nāmaṃ mātarā kataṃ, na pitarā kataṃ, na bhātarā kataṃ, na bhaginiyā kataṃ, na mittāmaccehi kataṃ, na ñātisālohitehi kataṃ, na samaṇabrāhmaṇehi kataṃ, na devatāhi kataṃ, vimokkhantikametaṃ buddhānaṃ bhagavantānaṃ nāmaṃ bodhiyā yeva mūle mārasenaṃ vidhamitvā atītānāgatapaccuppanne pāpake akusale dhamme bāhetvā saha sabbaññutañāṇassa paṭilābhā paṭiladdhapātubhūtasamuppannamatte sacchikā paññatti yadidaṃ brāhmaṇoti, tena kāraṇena tathāgato vuccati ‘brāhmaṇo’’’ti.
“Great king, this name of the Blessed One, ‘brahmin,’ was not given by his mother, nor by his father, nor by his brother, nor by his sister, nor by his friends and colleagues, nor by his relatives and kin, nor by ascetics and brahmins, nor by the gods. This name of the Buddhas, the Blessed Ones, pertains to liberation. At the very root of the Bodhi tree, having shattered Māra’s army and having put away past, future, and present evil and unwholesome qualities, at the very moment of the attainment, manifestation, and arising, together with the gaining of omniscience, this is a designation that is directly realized, namely ‘brahmin.’ For this reason, the Tathāgata is called a ‘brahmin.’”
“Tâu Đại vương, danh xưng ‘Bà-la-môn’ này của Thế Tôn không phải do mẹ ngài đặt, không phải do cha ngài đặt, không phải do anh em ngài đặt, không phải do chị em ngài đặt, không phải do bạn bè thân hữu đặt, không phải do quyến thuộc bà con đặt, không phải do các Sa-môn, Bà-la-môn đặt, không phải do chư thiên đặt. Đây là danh xưng liên quan đến sự giải thoát của các đức Phật, các đấng Thế Tôn, là một danh hiệu được chứng thực ngay khi chứng đắc và làm hiển lộ Toàn Giác Trí, sau khi đã phá tan ma quân tại cội Bồ-đề, đã loại trừ các pháp ác, bất thiện trong quá khứ, tương lai, và hiện tại. Đó chính là danh hiệu ‘Bà-la-môn’. Do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘Bà-la-môn’.”
‘‘Kena pana, bhante nāgasena, kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’’’ti? ‘‘Rājā nāma, mahārāja, yo koci rajjaṃ kāreti lokamanusāsati, bhagavāpi, mahārāja, dasasahassiyā lokadhātuyā dhammena rajjaṃ kāreti, sadevakaṃ lokaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ anusāsati, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
“For what reason, Venerable Nāgasena, is the Tathāgata called ‘king’?” “A king, great king, is one who exercises sovereignty and governs the world. The Blessed One, great king, exercises sovereignty righteously over the ten-thousandfold world-system and instructs the world with its gods, Māras, and Brahmās, the populace with its ascetics and brahmins, gods and humans. For this reason, the Tathāgata is called ‘king.’”
“Bạch Đại đức Nāgasena, vậy do lý do nào Như Lai được gọi là ‘vua’?” “Tâu Đại vương, người được gọi là vua là người cai trị vương quốc và giáo huấn dân chúng. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng cai trị một vạn thế giới bằng Chánh pháp, và giáo huấn thế gian cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, cùng chúng sanh gồm các Sa-môn, Bà-la-môn, cùng chư thiên và loài người. Cũng do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘vua’.”
‘‘Rājā nāma, mahārāja, sabbajanamanusse abhibhavitvā nandayanto ñātisaṅghaṃ, socayanto amittasaṅghaṃ, mahatimahāyasasiriharaṃ thirasāradaṇḍaṃ anūnasatasalākālaṅkataṃ ussāpeti paṇḍaravimalasetacchattaṃ, bhagavāpi, mahārāja, socayanto mārasenaṃ micchāpaṭipannaṃ, nandayanto devamanusse sammāpaṭipanne dasasahassiyā lokadhātuyā mahatimahāyasasiriharaṃ khantithirasāradaṇḍaṃ ñāṇavarasatasalākālaṅkataṃ ussāpeti aggavaravimuttipaṇḍaravimalasetacchattaṃ, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
“A king, great king, having overcome all people, delights his assembly of kin and grieves his assembly of enemies, and raises the great, glorious, pure, and spotless white parasol, adorned with no less than a hundred ribs and a sturdy, strong staff. The Blessed One, great king, grieving the army of Māra who are wrongly practicing and delighting the gods and humans who are rightly practicing, raises high in the ten-thousandfold world-system the great, glorious, supreme, excellent, pure, and spotless white parasol of liberation, adorned with a hundred ribs of excellent wisdom and the sturdy, strong staff of patience. For this reason, too, the Tathāgata is called ‘king.’”
“Tâu Đại vương, người được gọi là vua, sau khi chinh phục tất cả mọi người, làm hoan hỷ quyến thuộc, làm sầu não kẻ thù, giương lên chiếc lọng trắng tinh không tỳ vết, mang lại danh tiếng và vinh quang vĩ đại, có cán vững chắc và cứng cáp, được trang hoàng với không dưới một trăm nan. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng vậy, làm sầu não ma quân thực hành tà vạy, làm hoan hỷ chư thiên và loài người thực hành chân chánh, trong một vạn thế giới, giương lên chiếc lọng trắng tinh không tỳ vết của sự giải thoát tối thượng, ưu việt, mang lại danh tiếng và vinh quang vĩ đại, có cán vững chắc và cứng cáp là sự nhẫn nại, được trang hoàng với hàng trăm nan tuyệt vời là trí tuệ. Cũng do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘vua’.”
‘‘Rājā nāma upagatasampattajanānaṃ bahūnamabhivandanīyo bhavati, bhagavāpi, mahārāja, upagatasampattadevamanussānaṃ bahūnamabhivandanīyo, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
“A king is worthy of the homage of many people who have attained success. The Blessed One, great king, is also worthy of the homage of many gods and humans who have attained success. For this reason, too, the Tathāgata is called ‘king.’”
“Người được gọi là vua là người đáng được nhiều người đã đến và tiếp cận đảnh lễ. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng là người đáng được nhiều chư thiên và loài người đã đến và tiếp cận đảnh lễ. Cũng do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘vua’.”
‘‘Rājā nāma yassa kassaci ārādhakassa pasīditvā varitaṃ varaṃ datvā kāmena tappayati, bhagavāpi, mahārāja, yassa kassaci kāyena vācāya manasā ārādhakassa pasīditvā varitaṃ varamanuttaraṃ sabbadukkhaparimuttiṃ datvā asesakāmavarena ca tappayati, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
“A king, being pleased with any supplicant, grants a requested boon and satisfies them with what they desire. The Blessed One, great king, being pleased with any supplicant in body, speech, or mind, grants the requested, unsurpassed boon of complete liberation from all suffering and satisfies them with the boon of the complete end of desires. For this reason, too, the Tathāgata is called ‘king.’”
“Người được gọi là vua, khi hài lòng với bất kỳ ai làm mình vui lòng, sẽ ban cho điều ước mong muốn và làm người ấy thỏa mãn với ước nguyện đó. Tâu Đại vương, Thế Tôn cũng vậy, khi hài lòng với bất kỳ ai làm mình vui lòng bằng thân, khẩu, hay ý, sẽ ban cho điều ước mong muốn, vô thượng, là sự giải thoát khỏi mọi khổ đau, và làm người ấy thỏa mãn với điều ước trọn vẹn không còn dư sót. Cũng do lý do đó, Như Lai được gọi là ‘vua’.”
‘‘Rājā nāma āṇaṃ vītikkamantaṃ vigarahati jhāpeti † dhaṃseti, bhagavatopi, mahārāja, sāsanavare āṇaṃ atikkamanto alajjī maṅkubhāvena oññāto hīḷito garahito bhavitvā vajjati jinasāsanavaramhā, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti.
“A king reproaches, torments, and punishes one who transgresses his command. In the Blessed One's excellent teaching, great king, a shameless one who transgresses the command is, with humiliation, despised, scorned, and reproached, and is excluded from the excellent teaching of the Jina. For this reason, the Tathāgata is called ‘king.’”
“Tâu Đại vương, bậc được gọi là vua thì khiển trách, làm cho phiền não, và tiêu diệt kẻ vi phạm quyền uy. Cũng vậy, tâu Đại vương, trong giáo pháp cao thượng của Đức Thế Tôn, kẻ vô liêm sỉ vi phạm quyền uy, do bị bối rối, nên bị khinh miệt, bị chê bai, bị khiển trách, và bị loại ra khỏi giáo pháp cao thượng của bậc Chiến Thắng. Cũng vì lý do ấy, Như Lai được gọi là ‘vua’.”
‘‘Rājā nāma pubbakānaṃ dhammikānaṃ rājūnaṃ paveṇimanusiṭṭhiyā dhammādhammamanudīpayitvā dhammena rajjaṃ kārayamāno pihayito piyo patthito bhavati janamanussānaṃ, ciraṃ rājakulavaṃsaṃ ṭhapayati dhammaguṇabalena, bhagavāpi, mahārāja, pubbakānaṃ sayambhūnaṃ paveṇimanusiṭṭhiyā dhammādhammamanudīpayitvā dhammena lokamanusāsamāno pihayito piyo patthito devamanussānaṃ ciraṃ sāsanaṃ pavatteti dhammaguṇabalena, tenāpi kāraṇena tathāgato vuccati ‘rājā’ti. Evamanekavidhaṃ, mahārāja, kāraṇaṃ, yena kāraṇena tathāgato brāhmaṇopi bhaveyya rājāpi bhaveyya, sunipuṇo bhikkhu kappampi no naṃ sampādeyya, kiṃ atibahuṃ bhaṇitena, saṃkhittaṃ sampaṭicchitabba’’nti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“A king, following the tradition and instructions of former righteous kings, clarifying what is righteous and unrighteous, and ruling the kingdom righteously, becomes longed for, dear, and desired by the people. He establishes his royal lineage for a long time through the power of the quality of righteousness. Similarly, great king, the Blessed One, following the tradition and instructions of former self-awakened ones, clarifying what is righteous and unrighteous, and instructing the world righteously, becomes longed for, dear, and desired by gods and humans, and makes his teaching endure for a long time through the power of the quality of righteousness. For this reason, too, the Tathāgata is called ‘king.’ Thus, great king, there are many reasons why the Tathāgata could be a brahmin or a king. A very skilled monk could not fully explain it even in an eon. What is the use of speaking at great length? It should be accepted in brief.” “Excellent, Venerable Nāgasena, so it is; I accept it thus.”
“Tâu Đại vương, bậc được gọi là vua, theo truyền thống của các vị vua hiền đức đời trước, sau khi đã làm sáng tỏ điều chánh pháp và phi pháp, trị vì vương quốc theo chánh pháp, trở thành người được dân chúng mong mỏi, yêu mến, và ao ước. Nhờ sức mạnh của đức hạnh chánh pháp, vị ấy làm cho dòng dõi hoàng tộc được tồn tại lâu dài. Cũng vậy, tâu Đại vương, Đức Thế Tôn, theo truyền thống của các bậc Tự Giác đời trước, sau khi đã làm sáng tỏ điều chánh pháp và phi pháp, giáo hóa thế gian theo chánh pháp, trở thành người được chư thiên và nhân loại mong mỏi, yêu mến, và ao ước. Nhờ sức mạnh của đức hạnh chánh pháp, Ngài làm cho giáo pháp được lưu truyền lâu dài. Cũng vì lý do ấy, Như Lai được gọi là ‘vua’. Tâu Đại vương, có nhiều lý do như vậy, do những lý do ấy Như Lai có thể là Bà-la-môn, cũng có thể là vua. Một vị tỳ khưu rất thiện xảo cũng không thể trình bày cho đầy đủ dẫu cho trải qua một kiếp. Nói nhiều quá để làm gì? Nên chấp nhận một cách tóm tắt.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.”
Brāhmaṇarājavādapañho aṭṭhamo.
The Eighth Question: The Discourse on the Brahmin and the King.
Câu hỏi về Luận Thuyết Bà-la-môn và Vua là câu thứ tám.