Bản dịch
MIL 5.5.10 — CÂU HỎI VỀ TRẠNG THÁI KHÔNG NỖ LỰC
10. Dhammadesanāyaappossukkapañha
TRONG VIỆC THUYẾT GIẢNG GIÁO PHÁP
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng.’ Và thêm nữa: ‘Tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp.’
Thưa ngài Nāgasena, giống như viên xạ thủ, hoặc các học trò của viên xạ thủ, sau khi học tập thuật bắn cung vì mục đích chiến trận trong nhiều ngày, đến khi cuộc chiến đấu lớn xảy ra thì có thể thối lui. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, nhưng khi đã đạt đến phẩm vị Toàn Tri thì Ngài đã thối lui trong việc thuyết giảng Giáo Pháp.
Thưa ngài Nāgasena, hoặc là giống như người võ sĩ đấu vật, hoặc các học trò của người võ sĩ đấu vật, sau khi học tập thuật đấu vật trong nhiều ngày, đến khi trận đấu lớn xảy ra thì có thể thối lui. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, nhưng khi đã đạt đến phẩm vị Toàn Tri thì Ngài đã thối lui trong việc thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 2Thưa ngài Nāgasena, phải chăng đức Như Lai đã thối lui vì sợ hãi? Hay đã thối lui vì chưa được rành rẽ? Hay đã thối lui vì năng lực yếu kém? Hay đã thối lui vì chưa phải phẩm vị Toàn Tri? Ở đây, điều gì là lý do? Nào, xin ngài hãy nói cho trẫm lý do nhằm vượt qua nỗi nghi hoặc.
Thưa ngài Nāgasena, nếu trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng, như thế thì lời nói rằng: ‘Tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp’ là sai trái. Nếu tâm của vị đạt đến phẩm vị Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp, như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, đức Như Lai đã làm cho trí Toàn Tri được chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, thâm sâu, khó tháo gỡ, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 3“Tâu đại vương, trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ kiếp và một trăm ngàn kiếp, trí Toàn Tri đã được đức Như Lai làm cho chín muồi nhằm tế độ đám đông dân chúng. Và tâm của vị đạt đến trí Toàn Tri đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Vả lại, sau khi nhìn thấy tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, trạng thái ham thích tiềm ẩn của chúng sanh, và tính chất bám víu cứng nhắc vào quan điểm của chính mình, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Điều này chính là sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh.
Tâu đại vương, giống như người thầy thuốc phẫu thuật, sau khi đi đến gặp người bị hành hạ bởi nhiều căn bệnh, thì suy nghĩ như vầy: ‘Bằng cách thức gì, hoặc với phương thuốc nào thì căn bệnh của người này có thể được lắng xuống?’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, sau khi nhìn thấy loài người bị hành hạ bởi mọi căn bệnh phiền não và tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Điều này chính là sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh.
BJT 4Tâu đại vương, giống như đối với đức vua dòng Sát-đế-lỵ đã được rưới nước thơm ở đầu (làm lễ phong vương), sau khi nhìn thấy những người giữ cổng, lính gác, quần thần, thị dân, nhân công, binh lính, quan đại thần, hoàng tộc, và thuộc hạ thì có thể khởi tâm như vầy: ‘Trẫm sẽ hậu đãi cái gì cho những người này? Bằng cách nào?’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với đức Như Lai, sau khi nhìn thấy tính chất thâm sâu, khôn khéo, khó thấy, khó giác ngộ, tinh vi, khó thấu triệt của Giáo Pháp, trạng thái ham thích tiềm ẩn của chúng sanh, và tính chất bám víu cứng nhắc vào quan điểm của chính mình, (thì nghĩ rằng): ‘(Thuyết giảng) về cái gì? Bằng cách nào?’ và tâm đã thiên về sự không nỗ lực và không thuyết giảng Giáo Pháp. Sự suy nghĩ và tâm ý về việc giác ngộ của chúng sanh chính là điều này.
BJT 5Tâu đại vương, thêm nữa điều này là quy luật của các đức Như Lai, là việc các Ngài thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu. Vậy trong trường hợp ấy, điều gì là lý do? Vào lúc bấy giờ, tất cả các vị đạo sĩ khổ hạnh, du sĩ, Sa-môn, Bà-la-môn là những người thờ phụng đấng Brahmā, kính trọng đấng Brahmā, nương tựa đấng Brahmā. Do đó, (nghĩ rằng): ‘Với sự hạ mình của vị (Brahmā) có năng lực, có danh vọng, được biết tiếng, được nổi tiếng, hơn hẳn, được vượt trội ấy, thì thế gian luôn cả chư Thiên sẽ hạ mình, sẽ tin tưởng, sẽ quy thuận (Ta).’ Tâu đại vương, và vì lý do này mà đức Như Lai thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu.
Tâu đại vương, giống như vị vua nào đó, hoặc quan đại thần của vị vua, hạ mình, thể hiện sự cung kính đối với người nào, do sự hạ mình của vị ấy đối với người có năng lực trội hơn, mà số dân chúng còn lại hạ mình, thể hiện sự cung kính. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi Phạm Thiên hạ mình đối với các đức Như Lai thì thế gian luôn cả chư Thiên sẽ hạ mình. Tâu đại vương, thế gian tôn vinh bậc đã được tôn vinh. Do đó, vị Phạm Thiên ấy thỉnh cầu tất cả các đức Như Lai về việc thuyết giảng Giáo Pháp. Và vì lý do ấy, các đức Như Lai thuyết giảng Giáo Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ, việc giải thích thật là tuyệt hảo. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về trạng thái không nỗ lực
trong việc thuyết giảng Giáo Pháp của đức Thế Tôn là thứ mười.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Yathā nāma, bhante nāgasena, issāso vā issāsantevāsī vā bahuke divase saṅgāmatthāya upāsanaṃ sikkhitvā sampatte mahāyuddhe osakkeyya, evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṃ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṃ paripācetvā mahato janakāyassa samuddharaṇāya sabbaññutaṃ pattena dhammadesanāya osakkitaṃ.
“Just as, venerable Nāgasena, an archer or an archer's apprentice, having trained in archery for many days for the sake of battle, might shrink back when the great battle arrives; even so, venerable Nāgasena, the Tathāgata, having matured the knowledge of omniscience over four incalculable and one hundred thousand aeons for the deliverance of the great multitude of beings, shrank back from teaching the Dhamma upon attaining omniscience.”
Bạch Đại đức Nāgasena, ví như một cung thủ hay đệ tử của cung thủ, sau khi đã luyện tập bắn cung trong nhiều ngày vì mục đích chiến đấu, lại có thể chùn bước khi trận đại chiến xảy ra. Cũng thế ấy, bạch Đại đức Nāgasena, Đức Như Lai, sau khi đã làm cho toàn giác được viên mãn trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để cứu vớt đại chúng, khi đã đạt được toàn giác, lại chùn bước trước việc thuyết Pháp.
‘‘Yathā vā pana, bhante nāgasena, mallo vā mallantevāsī vā bahuke divase nibbuddhaṃ sikkhitvā sampatte mallayuddhe osakkeyya, evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṃ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṃ paripācetvā mahato janakāyassa samuddharaṇāya sabbaññutaṃ pattena dhammadesanāya osakkitaṃ.
“Or just as, venerable Nāgasena, a wrestler or a wrestler's apprentice, having trained in wrestling for many days, might shrink back when the great wrestling match arrives; even so, venerable Nāgasena, the Tathāgata, having matured the knowledge of omniscience over four incalculable and one hundred thousand aeons for the deliverance of the great multitude of beings, shrank back from teaching the Dhamma upon attaining omniscience.”
Hoặc lại nữa, bạch Đại đức Nāgasena, ví như một võ sĩ đấu vật hay đệ tử của võ sĩ đấu vật, sau khi đã luyện tập môn đấu vật trong nhiều ngày, lại có thể chùn bước khi trận đấu vật lớn xảy ra. Cũng thế ấy, bạch Đại đức Nāgasena, Đức Như Lai, sau khi đã làm cho toàn giác được viên mãn trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để cứu vớt đại chúng, khi đã đạt được toàn giác, lại chùn bước trước việc thuyết Pháp.
‘‘Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, tathāgatena bhayā osakkitaṃ, udāhu apākaṭatāya osakkitaṃ, udāhu dubbalatāya osakkitaṃ, udāhu asabbaññutāya osakkitaṃ, kiṃ tattha kāraṇaṃ, iṅgha me tvaṃ kāraṇaṃ brūhi kaṅkhāvitaraṇāya. Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṃ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṃ paripācitaṃ mahato janakāyassa samuddharaṇāya, tena hi ‘sabbaññutaṃ pattassa appossukkatāya cittaṃ nami, no dhammadesanāyā’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi sabbaññutaṃ pattassa appossukkatāya cittaṃ nami no dhammadesanāya, tena hi ‘tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyeti kappānaṃ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṃ paripācitaṃ mahato janakāyassa samuddharaṇāyā’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho gambhīro dunnibbeṭho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“Venerable Nāgasena, did the Tathāgata shrink back out of fear, or did he shrink back because the teaching was not clear to him, or out of weakness, or from a lack of omniscience? What was the reason? Come, tell me the reason, to dispel my doubt. If, venerable Nāgasena, the Tathāgata truly matured the knowledge of omniscience over four incalculable and one hundred thousand aeons for the deliverance of the great multitude of beings, then the statement, 'having attained omniscience, his mind inclined to inaction, not to the teaching of the Dhamma,' is false. And if, having attained omniscience, his mind truly inclined to inaction and not to the teaching of the Dhamma, then the statement, 'the Tathāgata matured the knowledge of omniscience over four incalculable and one hundred thousand aeons for the deliverance of the great multitude of beings,' is also false. This two-horned question, profound and difficult to unravel, has now come before you. It is for you to resolve it.”
Bạch Đại đức Nāgasena, có phải Đức Như Lai đã chùn bước vì sợ hãi, hay chùn bước vì không có khả năng, hay chùn bước vì yếu đuối, hay chùn bước vì không phải là bậc toàn giác? Nguyên nhân ở đây là gì? Xin ngài hãy cho trẫm biết nguyên nhân để xua tan mối nghi ngờ này. Bạch Đại đức Nāgasena, nếu Đức Như Lai đã làm cho toàn giác được viên mãn trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để cứu vớt đại chúng, thì lời nói rằng: ‘Sau khi đã đạt được toàn giác, tâm của ngài đã hướng về sự an tịnh, không hướng về việc thuyết Pháp’ là sai lầm. Nếu sau khi đã đạt được toàn giác, tâm của ngài đã hướng về sự an tịnh, không hướng về việc thuyết Pháp, thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp đã làm cho toàn giác được viên mãn là để cứu vớt đại chúng’ cũng là sai lầm. Vấn đề lưỡng nan này thật là sâu sắc, khó giải quyết, đã được trình đến ngài; vậy xin ngài hãy giải quyết cho.
‘‘Paripācitañca, mahārāja, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṃ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṃ mahato janakāyassa samuddharaṇāya, pattasabbaññutassa ca appossukkatāya cittaṃ nami, no dhammadesanāya. Tañca pana dhammassa gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṃ sattānañca ālayārāmataṃ sakkāyadiṭṭhiyā daḷhasuggahitatañca disvā ‘kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’ti appossukkatāya cittaṃ nami, no dhammadesanāya, sattānaṃ paṭivedhacintanamānasaṃ yevetaṃ.
“Great king, the Tathāgata did indeed mature the knowledge of omniscience over four incalculable and one hundred thousand aeons for the deliverance of the great multitude of beings; and having attained omniscience, his mind did incline to inaction, not to the teaching of the Dhamma. This was because, seeing the profound, subtle, hard-to-see, difficult-to-understand, delicate, and hard-to-penetrate nature of the Dhamma, and also seeing beings' delight in attachments and their firm grasping of identity-view, he considered, 'How then shall this be taught? By what means?' Thus his mind inclined to inaction, not to the teaching of the Dhamma. This was simply his mind considering how beings might attain penetration.”
Tâu Đại vương, quả thật Đức Như Lai đã làm cho toàn giác được viên mãn trong khoảng thời gian bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để cứu vớt đại chúng, và sau khi đã đạt được toàn giác, tâm của ngài đã hướng về sự an tịnh, không hướng về việc thuyết Pháp. Điều ấy là do ngài đã nhận thấy được tính chất sâu sắc, vi tế, khó thấy, khó hiểu, tinh tế, khó thâm nhập của Giáo Pháp, và thấy được chúng sanh thì ưa thích sự ái luyến, lại còn chấp thủ vững chắc vào thân kiến, nên ngài đã suy nghĩ: ‘Phải làm sao đây? Phải làm thế nào đây?’ rồi tâm của ngài đã hướng về sự an tịnh, không hướng về việc thuyết Pháp. Đây chỉ là tâm tư duy về sự chứng ngộ của chúng sanh mà thôi.
‘‘Yathā, mahārāja, bhisakko sallakatto anekabyādhiparipīḷitaṃ naraṃ upasaṅkamitvā evaṃ cintayati ‘kena nu kho upakkamena katamena vā bhesajjena imassa byādhi vūpasameyyā’ti, evameva kho, mahārāja, tathāgatassa sabbakilesabyādhiparipīḷitaṃ janaṃ dhammassa ca gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṃ disvā ‘kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’ti appossukkatāya cittaṃ nami, no dhammadesanāya, sattānaṃ paṭivedhacintanamānasaṃ yevetaṃ.
“Just as, great king, a physician and surgeon, having approached a man afflicted with many diseases, considers, 'By what procedure, or by what medicine, might this man's disease be allayed?'; even so, great king, the Tathāgata, seeing the multitude of beings afflicted with all the diseases of the defilements, and seeing the profound, subtle, hard-to-see, difficult-to-understand, delicate, and hard-to-penetrate nature of the Dhamma, considered, 'How then shall this be taught? By what means?' Thus his mind inclined to inaction, not to the teaching of the Dhamma. This was simply his mind considering how beings might attain penetration.”
Tâu Đại vương, ví như một y sĩ phẫu thuật, sau khi đến gần một người đang bị nhiều bệnh tật hành hạ, đã suy nghĩ như vầy: ‘Bằng phương pháp nào hay bằng loại thuốc nào mà bệnh của người này có thể được chữa khỏi?’ Cũng thế ấy, tâu Đại vương, Đức Như Lai, khi thấy chúng sanh đang bị hành hạ bởi các chứng bệnh phiền não và thấy được tính chất sâu sắc, vi tế, khó thấy, khó hiểu, tinh tế, khó thâm nhập của Giáo Pháp, đã suy nghĩ: ‘Phải làm sao đây? Phải làm thế nào đây?’ rồi tâm của ngài đã hướng về sự an tịnh, không hướng về việc thuyết Pháp. Đây chỉ là tâm tư duy về sự chứng ngộ của chúng sanh mà thôi.
‘‘Yathā, mahārāja, rañño khattiyassa muddhāvasittassa dovārikaanīkaṭṭhapārisajjanegamabhaṭabala † amaccarājaññarājūpajīvine jane disvā evaṃ cittamuppajjeyya ‘kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho ime saṅgaṇhissāmī’ti, evameva kho, mahārāja, tathāgatassa dhammassa gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṃ sattānañca ālayārāmataṃ sakkāyadiṭṭhiyā daḷhasuggahitatañca disvā ‘kiṃ nu kho, kathaṃ nu kho’ti appossukkatāya cittaṃ nami, no dhammadesanāya, sattānaṃ paṭivedhacintanamānasaṃ yevetaṃ.
Great king, it is as if a Khattiya king, anointed at his consecration, upon seeing his gatekeepers, attendants, courtiers, townsfolk, soldiers, ministers, nobles, and royal dependents, were to think: ‘How now, in what way shall I win these people over?’ In the very same way, great king, the Tathāgata, seeing the profound, subtle, hard-to-see, difficult-to-understand, delicate, and hard-to-penetrate nature of the Dhamma, and also seeing beings’ delight in attachment and their firm and tenacious grasp of identity-view, thought: ‘How now, in what way?’ and his mind inclined toward disinclination, not toward teaching the Dhamma. This was merely a thought considering the ability of beings to penetrate the teaching.
Tâu Đại vương, ví như một vị vua dòng Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, sau khi nhìn thấy dân chúng gồm những người gác cổng, cận vệ, hội đồng, thị dân, lính đánh thuê, quân đội, các quan đại thần, các vương hầu, và những người sống nương tựa vào hoàng gia, tâm của vị ấy có thể khởi lên rằng: ‘Phải làm sao đây? Phải làm thế nào đây để ta có thể cai quản những người này?’ Cũng thế ấy, tâu Đại vương, Đức Như Lai, khi thấy được tính chất sâu sắc, vi tế, khó thấy, khó hiểu, tinh tế, khó thâm nhập của Giáo Pháp, và thấy được chúng sanh thì ưa thích sự ái luyến, lại còn chấp thủ vững chắc vào thân kiến, đã suy nghĩ: ‘Phải làm sao đây? Phải làm thế nào đây?’ rồi tâm của ngài đã hướng về sự an tịnh, không hướng về việc thuyết Pháp. Đây chỉ là tâm tư duy về sự chứng ngộ của chúng sanh mà thôi.
‘‘Api ca, mahārāja, sabbesaṃ tathāgatānaṃ dhammatā esā, yaṃ brahmunā āyācitā dhammaṃ desenti. Tattha pana kiṃ kāraṇaṃ? Ye tena samayena manussā tāpasaparibbājakā samaṇabrāhmaṇā, sabbete brahmadevatā honti brahmagarukā brahmaparāyaṇā, tasmā tassa balavato yasavato ñātassa paññātassa uttarassa accuggatassa onamanena sadevako loko onamissati okappessati adhimuccissatīti iminā ca, mahārāja, kāraṇena tathāgatā brahmunā āyācitā dhammaṃ desenti.
Furthermore, great king, it is the nature of all Tathāgatas that they teach the Dhamma only when requested by a Brahmā. And what is the reason for this? At that time, whatever human beings there were—ascetics, wanderers, contemplatives, and brahmins—they all regarded Brahmā as their deity, held Brahmā in high esteem, and were devoted to Brahmā. Therefore, through the bowing down of that powerful, famous, well-known, renowned, superior, and sublime being, the world with its devas will also bow down, place its trust, and become convinced. For this reason, great king, the Tathāgatas teach the Dhamma when requested by a Brahmā.
Hơn nữa, tâu Đại vương, đây là thông lệ của tất cả các vị Như Lai, rằng các ngài thuyết Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu. Vậy nguyên nhân ở đây là gì? Vào thời điểm ấy, tất cả những con người là các vị ẩn sĩ, du sĩ, Sa-môn, và Bà-la-môn đều xem Phạm Thiên là vị trời của họ, tôn kính Phạm Thiên, nương tựa vào Phạm Thiên. Do đó, nhờ sự cúi đầu của vị Phạm Thiên đầy quyền năng, danh tiếng, được nhiều người biết đến, nổi danh, tối thượng, và cao cả tột bậc ấy, thế giới cùng với chư thiên sẽ cúi đầu, sẽ có lòng tin, sẽ hướng tâm đến. Tâu Đại vương, cũng vì lý do này mà các vị Như Lai thuyết Pháp khi được Phạm Thiên thỉnh cầu.
‘‘Yathā, mahārāja, koci rājā vā rājamahāmatto vā yassa onamati apacitiṃ karoti, balavatarassa tassa onamanena avasesā janatā onamati apacitiṃ karoti, evameva kho, mahārāja, brahme onamite tathāgatānaṃ sadevako loko onamissati, pūjitapūjako mahārāja, loko, tasmā so brahmā sabbesaṃ tathāgatānaṃ āyācati dhammadesanāya, tena ca kāraṇena tathāgatā brahmunā āyācitā dhammaṃ desentī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho, atibhadrakaṃ veyyākaraṇaṃ, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Great king, it is as if a king or a great royal minister were to bow down and show respect to someone; because of the bowing down of that powerful person, the rest of the populace also bows down and shows respect. In the very same way, great king, when Brahmā bows down to the Tathāgatas, the world with its devas will also bow down. The world, great king, reveres those who are revered. Therefore, that Brahmā requests all the Tathāgatas to teach the Dhamma, and for that reason, the Tathāgatas teach the Dhamma when requested by a Brahmā.” “Excellent, Venerable Nāgasena! The question has been well-unravelled, the explanation is most excellent. I accept it as it is.”
“Tâu Đại vương, ví như một vị vua hay một vị đại thần nào đó cúi mình, tỏ lòng tôn kính đối với người nào, thì do sự cúi mình của vị có quyền thế ấy mà những người dân còn lại cũng cúi mình, tỏ lòng tôn kính. Tâu Đại vương, cũng giống như thế, khi Phạm thiên đã cúi mình thì thế gian cùng với chư thiên sẽ cúi mình trước các đấng Như Lai. Tâu Đại vương, thế gian thường cúng dường người được cúng dường. Do đó, vị Phạm thiên ấy đã thỉnh cầu tất cả các đấng Như Lai thuyết Pháp. Và vì lý do ấy, các đấng Như Lai, sau khi được Phạm thiên thỉnh cầu, mới thuyết Pháp.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, câu hỏi đã được giải đáp rất hay, lời giải thích thật vô cùng tốt đẹp. Trẫm xin chấp nhận điều này đúng là như vậy.”
Dhammadesanāya appossukkapañho dasamo.
The tenth question concerning disinclination to teach the Dhamma.
Câu hỏi thứ mười về sự không hăng hái trong việc thuyết Pháp.