Bản dịch
MIL 5.5.7 — CÂU HỎI VỀ GHATĪKĀRA
7. Ghaṭikārapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã tồn tại suốt cả ba tháng, và đã không bị nước mưa.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột.’ Thưa ngài Nāgasena, tại sao cốc liêu của đức Như Lai Kassapa, bậc có thiện căn đầy đủ như thế, lại bị mưa dột? Oai lực ấy của đức Như Lai là điều đáng được ao ước. Thưa ngài Nāgasena, nếu căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã không có mưa dột, như thế thì lời nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột’ là sai trái. Nếu cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột, như thế thì lời nói rằng: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã không có mưa dột’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Căn nhà của người thợ gốm Ghaṭīkāra, có mái che là bầu trời, đã tồn tại suốt cả ba tháng, và đã không bị nước mưa.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Cốc liêu của đức Như Lai Kassapa bị mưa dột.’ Tâu đại vương, người thợ gốm Ghaṭīkāra là người có giới hạnh, có thiện pháp, có thiện căn đầy đủ, đang nuôi dưỡng cha mẹ mù lòa già yếu. (Các tỳ khưu) không có mặt của vị ấy, còn chưa có hỏi ý, đã lấy đi cỏ (lợp mái) ở nhà của vị ấy rồi che mái cho cốc liêu của đức Thế Tôn. Vị ấy, với việc lấy đi cỏ (lợp mái) ấy, đã đạt được niềm vui không bị lay chuyển, không bị dao động, khéo được ổn định, bao la, không thể sánh bằng, và còn làm sanh lên tâm hoan hỷ không thể ước lượng hơn thế nữa: ‘Ôi, quả nhiên đức Thế Tôn, bậc tối thượng ở thế gian, đã vô cùng tin tưởng ở ta!’ Do việc ấy, quả thành tựu hiện tiền đã sanh lên cho vị ấy. Tâu đại vương, bởi vì đức Như Lai không bị dao động vì chừng ấy sự xáo trộn.
Tâu đại vương, giống như núi chúa Sineru cũng không rúng động không dao động bởi sự dồn dập của hàng trăm ngàn cơn gió; đại dương, biển cả cao quý và ưu tú, cũng không tràn đầy, không đi đến sự xáo trộn vì hàng trăm vạn trăm ngàn con sông lớn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai không bị dao động vì chừng ấy sự xáo trộn.
Tâu đại vương, hơn nữa về việc cốc liêu của đức Như Lai bị mưa dột, việc ấy là vì lòng thương tưởng đối với số đông nhân loại. Tâu đại vương, trong khi xem xét hai điều lợi ích này, các đức Như Lai không sử dụng vật thiết yếu được tự mình hóa hiện ra: -Chư Thiên và nhân loại (nghĩ rằng): ‘Bậc Đạo Sư này là bậc đáng cúng dường hạng nhất’ sẽ dâng cúng vật thiết yếu đến đức Thế Tôn và sẽ được hoàn toàn giải thoát khỏi mọi cảnh giới khổ đau -Chớ để những kẻ khác trách móc rằng: ‘Những vị này phô diễn điều kỳ diệu và tầm cầu sinh kế.’ Trong khi xem xét hai điều lợi ích này, các đức Như Lai không sử dụng vật thiết yếu được tự mình hóa hiện ra.
Tâu đại vương, nếu (Chúa Trời) Sakka hoặc đấng Brahmā, hoặc tự thân (đức Thế Tôn) làm cho cốc liêu ấy hết mưa dột thì có thể có điều đáng nói; chính việc làm ấy là có sự sai trái, có sự khiển trách rằng: ‘Những người này gây ra chuyện rồi mê hoặc thế gian, làm việc có tính chất dư thừa.’ Do đó, việc làm ấy là đáng bị chê trách. Tâu đại vương, các đức Như Lai không cầu xin vật chất. Do việc không cầu xin vật chất ấy, các Ngài không đáng bị quở trách.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Ghaṭīkāra là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṃ sabbaṃ temāsaṃ ākāsacchadanaṃ aṭṭhāsi, na devotivassī’ti. Puna ca bhaṇitaṃ ‘kassapassa tathāgatassa † kuṭi ovassatī’ti. Kissa pana, bhante nāgasena, tathāgatassa evamussannakusalamūlassa † kuṭi ovassati, tathāgatassa nāma so ānubhāvo icchitabbo? Yadi, bhante nāgasena, ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṃ anovassaṃ ākāsacchadanaṃ ahosi, tena hi ‘tathāgatassa kuṭi ovassatī’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi tathāgatassa kuṭi ovassati, tena hi ‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṃ anovassakaṃ ahosi ākāsacchadana’nti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
7. “Venerable Nāgasena, this was spoken by the Blessed One: ‘For the entire three months, the workshop of Ghaṭikāra the potter stood with the sky as its roof, and the heavens did not rain upon it.’ And again, it was said: ‘The hut of the Tathāgata Kassapa was rained upon.’ Why then, venerable Nāgasena, was the hut of the Tathāgata—one with such abundant roots of merit—rained upon? Should not such power be expected of a Tathāgata? If, venerable Nāgasena, the workshop of Ghaṭikāra the potter remained unrained upon with the sky as its roof, then the statement ‘the Tathāgata’s hut was rained upon’ is false. If the Tathāgata’s hut was rained upon, then the statement ‘the workshop of Ghaṭikāra the potter remained unrained upon with the sky as its roof’ is also false. This two-horned dilemma has come to you, and it must be resolved by you.”
7. “Thưa Đại đức Nāgasena, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Toàn bộ nhà xưởng của người thợ gốm Ghaṭikāra suốt ba tháng (mùa mưa) đã được lợp bằng bầu trời, và trời đã không mưa (vào trong đó).’ Nhưng rồi ngài lại nói rằng: ‘Cốc của đức Như Lai Kassapa đã bị dột.’ Thưa Đại đức Nāgasena, tại sao cốc của một đức Như Lai, người có các cội rễ thiện lành dồi dào như vậy, lại bị dột? Chẳng lẽ một oai lực như thế không phải là điều đáng mong muốn đối với một đức Như Lai sao? Thưa Đại đức Nāgasena, nếu nhà xưởng của người thợ gốm Ghaṭikāra đã được lợp bằng bầu trời mà không bị dột, thì lời nói ‘cốc của đức Như Lai bị dột’ là sai. Nếu cốc của đức Như Lai bị dột, thì lời nói ‘nhà xưởng của người thợ gốm Ghaṭikāra đã được lợp bằng bầu trời mà không bị dột’ cũng là sai. Vấn đề nan giải này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṃ sabbaṃ temāsaṃ ākāsacchadanaṃ aṭṭhāsi, na devotivassī’ti. Bhaṇitañca ‘kassapassa tathāgatassa kuṭi ovassatī’ti. Ghaṭikāro, mahārāja, kumbhakāro sīlavā kalyāṇadhammo ussannakusalamūlo andhe jiṇṇe mātāpitaro poseti, tassa asammukhā anāpucchāyevassa ghare tiṇaṃ haritvā bhagavato kuṭiṃ chādesuṃ, so tena tiṇaharaṇena akampitaṃ asañcalitaṃ susaṇṭhitaṃ vipulamasamaṃ pītiṃ paṭilabhati, bhiyyo somanassañca atulaṃ uppādesi ‘aho vata me bhagavā lokuttamo suvissattho’ti, tena tassa diṭṭhadhammiko vipāko nibbatto. Na hi, mahārāja, tathāgato tāvatakena vikārena calati.
“It has indeed been said, great king, by the Blessed One, ‘For the entire three months, the workshop of Ghaṭikāra the potter stood with the sky as its roof, and the heavens did not rain upon it.’ And it has also been said, ‘The hut of the Tathāgata Kassapa was rained upon.’ Ghaṭikāra the potter, great king, was virtuous, of noble nature, with abundant roots of merit, and he supported his blind and aged parents. Without his being present and without asking him, people took grass from his house and thatched the Blessed One’s hut. Because of that taking of grass, he obtained unshaken, unmoving, well-established, abundant, and unequalled joy, and he produced further incomparable mental happiness, thinking, ‘Ah, the Blessed One, the supreme one in the world, has such trust in me!’ For that reason, the result to be experienced in this very life was produced for him. Indeed, great king, the Tathāgata is not perturbed by such a minor alteration.”
“Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Toàn bộ nhà xưởng của người thợ gốm Ghaṭikāra suốt ba tháng (mùa mưa) đã được lợp bằng bầu trời, và trời đã không mưa (vào trong đó).’ Và ngài cũng nói rằng: ‘Cốc của đức Như Lai Kassapa đã bị dột.’ Tâu Đại vương, người thợ gốm Ghaṭikāra là người có giới hạnh, có thiện pháp, có các cội rễ thiện lành dồi dào, và nuôi dưỡng cha mẹ già, mù lòa. Khi ông vắng mặt và không được hỏi ý kiến, người ta đã lấy cỏ trên nhà ông để lợp lại cốc của đức Thế Tôn. Do việc cỏ bị lấy đi ấy, ông đã có được niềm hỷ lạc rộng lớn, vô song, không lay động, không dao động, vững chắc, và đã phát sanh thêm niềm hoan hỷ vô lượng (nghĩ rằng): ‘Ôi, đức Thế Tôn, bậc Siêu Việt trên đời, thật là thân thiết với ta!’ Do đó, quả báo hiện tiền đã xảy đến với ông. Tâu Đại vương, đức Như Lai không hề dao động bởi một sự thay đổi nhỏ như vậy.”
‘‘Yathā, mahārāja, sineru girirājā anekasatasahassavātasampahārenapi na kampati na calati, mahodadhi varappavarasāgaro anekasatanahutamahāgaṅgāsatasahassehipi na pūrati na vikāramāpajjati, evameva kho, mahārāja, tathāgato na tāvatakena vikārena calati.
“Just as, great king, Sineru, the king of mountains, does not shake or move even when struck by many hundreds of thousands of winds, and just as the great ocean, the most excellent of seas, is not filled up nor undergoes alteration even by many hundreds of thousands of myriads of great Ganges rivers, so too, great king, the Tathāgata is not perturbed by such a minor alteration.”
“Tâu Đại vương, ví như vua núi Sineru không rung chuyển, không lay động dù bị hàng trăm ngàn cơn gió thổi vào, và đại dương, biển cả mênh mông, không bị đầy lên hay biến đổi dù có hàng trăm ngàn vạn con sông Hằng lớn đổ vào. Cũng vậy, tâu Đại vương, đức Như Lai không hề dao động bởi một sự thay đổi nhỏ như vậy.”
‘‘Yaṃ pana, mahārāja, tathāgatassa kuṭi ovassati, taṃ mahato janakāyassa anukampāya. Dveme, mahārāja, atthavase sampassamānā tathāgatā sayaṃ nimmitaṃ paccayaṃ nappaṭisevanti, ‘ayaṃ aggadakkhiṇeyyo satthā’ti bhagavato paccayaṃ datvā devamanussā sabbaduggatito parimuccissantīti, dassetvā vuttiṃ pariyesantīti ‘mā aññe upavadeyyu’nti. Ime dve atthavase sampassamānā tathāgatā sayaṃ nimmitaṃ paccayaṃ nappaṭisevanti. Yadi, mahārāja, sakko vā taṃ kuṭiṃ anovassaṃ kareyya brahmā vā sayaṃ vā, sāvajjaṃ bhaveyya taṃ yeva karaṇaṃ † sadosaṃ saniggahaṃ, ime vibhūtaṃ † katvā lokaṃ sammohenti adhikataṃ karontīti, tasmā taṃ karaṇaṃ vajjanīyaṃ. Na, mahārāja, tathāgatā vatthuṃ yācanti, tāya avatthuyācanāya aparibhāsiyā bhavantī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“However, great king, that the Tathāgata’s hut was rained upon was out of compassion for the great multitude of people. Seeing two benefits, great king, the Tathāgatas do not make use of self-created requisites: first, so that gods and humans, thinking, ‘This Teacher is the most worthy of offerings,’ might give requisites to the Blessed One and be freed from all unfortunate destinations; and second, lest others should criticize them, saying, ‘They seek their livelihood by making a display of their powers.’ For these two reasons, the Tathāgatas do not make use of self-created requisites. If, great king, Sakka or Brahmā were to make that hut not be rained upon, or if he himself were to do so, that very act would be blameworthy, faulty, and censurable, for people would say, ‘These ones confuse the world by making a display of their power; they do what is excessive.’ Therefore, such an act is to be avoided. Great king, the Tathāgatas do not ask for things, and by not asking for things, they are irreproachable.” “Excellent, venerable Nāgasena, I accept it just as you have said.”
“Tâu Đại vương, việc cốc của đức Như Lai bị dột là vì lòng bi mẫn đối với đại chúng. Tâu Đại vương, thấy rõ hai lợi ích này, các đức Như Lai không dùng các vật dụng do chính mình hóa hiện ra: (thứ nhất là) ‘chư thiên và nhân loại, sau khi dâng cúng vật dụng lên đức Thế Tôn với suy nghĩ “vị Đạo Sư này là bậc đáng cúng dường tối thượng,” sẽ được giải thoát khỏi tất cả các ác thú,’ và (thứ hai là) ‘để người khác không thể chỉ trích rằng “họ tìm kiếm sinh kế bằng cách phô diễn thần thông.”’ Thấy rõ hai lợi ích này, các đức Như Lai không dùng các vật dụng do chính mình hóa hiện ra. Tâu Đại vương, nếu vua Sakka, hay Phạm Thiên, hay chính ngài làm cho cốc ấy không bị dột, thì chính hành động ấy sẽ đáng bị khiển trách, có lỗi lầm, đáng bị chỉ trích, (vì người ta sẽ nói) ‘những vị này làm phép lạ để mê hoặc thế gian, làm những điều thái quá.’ Do đó, hành động ấy cần phải tránh. Tâu Đại vương, các đức Như Lai không xin xỏ vật dụng, và do không xin xỏ, các ngài không thể bị phỉ báng.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Ghaṭikārapañho sattamo.
The seventh question concerning Ghaṭikāra.
Câu hỏi thứ bảy về Ghaṭikāra.