Bản dịch
MIL 5.5.6 — CÂU HỎI VỀ CHADDANTA VÀ JOTIPĀLA
6. Chaddantajotipālārabbhapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi là voi chúa Chaddanta:‘Trong khi siết chặt (nghĩ rằng): Ta có thể hủy diệt gã này,’ con voi đã nhìn thấy tấm y ca-sa, biểu tượng của các vị ẩn sĩ. Con thú bị hành hạ đau khổ đã có ý tưởng sanh khởi rằng: Biểu tượng của các vị A-la-hán là cao quý, là hình bóng không thể bị hủy diệt.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Trong khi là người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla thì đã sỉ vả, đã chê bai đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Bồ Tát trong khi là loài thú đã tôn kính tấm y ca-sa, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi’ là sai trái. Nếu đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi, như thế thì lời nói rằng: ‘Y ca-sa đã được tôn kính bởi voi chúa Chaddanta’ cũng là sai trái. Nếu đức Bồ Tát, lúc là loài thú, dẫu đang chịu đựng cảm thọ thô thiển, nhức nhối, đau đớn, cũng đã tôn kính tấm y ca-sa được kẻ thợ săn khoác lên, tại sao trong khi là loài người, có trí tuệ đã chín muồi, có sự hiểu biết đã chín muồi, sau khi nhìn thấy đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đấng Thập Lực, vị Lãnh Đạo Thế Gian Kassapa, vô cùng nổi bật, có hào quang một sải tay rực sáng, bậc cao quý tối thượng đang khoác lên tấm y ca-sa vải xứ Kāsī cao quý và ưng ý thì đã không tôn kính? Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến khi là voi chúa Chaddanta: ‘Trong khi là người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla thì đã sỉ vả, đã chê bai đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi.’
Và đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Kassapa đã bị người thanh niên Bà-la-môn Jotipāla sỉ vả, chê bai bằng những lời nói vô lễ, thô lỗ nói là kẻ trọc đầu, nói là kẻ Sa-môn nhỏ nhoi. Tuy nhiên, điều đó là do tác động của dòng dõi, do tác động của gia tộc. Tâu đại vương, thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín. Cha mẹ, anh chị em, và những người tôi trai, tớ gái, kẻ hầu, và tùy tùng của anh ta là những người thờ phụng đấng Brahmā, kính trọng đấng Brahmā. Họ (nghĩ rằng): ‘Chỉ có các vị Bà-la-môn là tối thượng, cao quý’ rồi chê trách, nhờm gớm các vị xuất gia còn lại. Thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã nghe điều ấy từ những người ấy, nên khi được người thợ làm đồ gốm Ghaṭīkāra mời mọc về việc diện kiến đấng Đạo Sư đã nói như vầy: ‘Cái gì với việc diện kiến vị Sa-môn nhỏ nhoi trọc đầu của ngươi?’
Tâu đại vương, giống như thuốc trường sanh sau khi đặt gần thuốc độc thì trở nên đắng. Và giống như nước mát sau khi để gần ngọn lửa thì trở nên nóng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thanh niên Bà-la-môn Jotipāla đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín; anh ta, sau khi trở nên mù quáng vì tác động của gia tộc, đã sỉ vả, đã chê bai đức Như Lai.
Tâu đại vương, giống như khối lửa lớn đã được đốt lên phát cháy, có ánh sáng, sau khi gặp nước thì trở nên có màu đen, mát lạnh, ánh sáng và sức nóng bị mất đi, tợ như trái cây nigguṇḍi đã được chín muồi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế thanh niên Bà-la-môn Jotipāla có phước đức, có đức tin, có sự sáng láng bao la của trí tuệ, sau khi đã được sanh ra ở gia tộc không có đức tin, không có tịnh tín; anh ta, sau khi trở nên mù quáng vì tác động của gia tộc, đã sỉ vả, đã chê bai đức Như Lai, và sau khi đi đến gần và đã biết được ân đức của Phật thì đã trở thành như là người hầu, và sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, đã làm sanh khởi các thắng trí và các thiền chứng, rồi đã đi đến cõi Phạm Thiên.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Chaddanta và Jotipāla là thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā chaddanto nāgarājā –
6. “Venerable Nāgasena, this was spoken by the Blessed One concerning the elephant king Chaddanta:
6. – Tâu Đại đức Nāgasena, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến, về voi chúa Chaddanta:
‘‘‘Vadhissametanti parāmasanto, kāsāvamaddakkhi dhajaṃ isīnaṃ;
Dukkhena phuṭṭhassudapādi saññā, arahaddhajo sabbhi avajjharūpo’ti.
‘While reflecting, “I shall kill him,” he saw the saffron robe, the banner of the seers. Though afflicted by pain, this perception arose in him: “The banner of the Arahants is inviolable to the virtuous.’”
“‘Trong khi suy xét rằng: ‘Ta sẽ giết kẻ này,’ voi chúa đã nhìn thấy tấm y cà-sa, là lá cờ của các vị ẩn sĩ. Mặc dù bị đau đớn tác động, nhận thức đã sanh khởi rằng: ‘Lá cờ của bậc A-la-hán, đối với người thiện, là không thể bị sát hại.’”
‘‘Puna ca bhaṇitaṃ ‘jotipālamāṇavo samāno kassapaṃ bhagavantaṃ arahantaṃ sammāsambuddhaṃ muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkosi paribhāsī’ti. Yadi, bhante nāgasena, bodhisatto tiracchānagato samāno kāsāvaṃ abhipūjayi, tena hi ‘jotipālena māṇavena kassapo bhagavā arahaṃ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi jotipālena māṇavena kassapo bhagavā arahaṃ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito, tena hi ‘chaddantena nāgarājena kāsāvaṃ pūjita’nti tampi vacanaṃ micchā. Yadi tiracchānagatena bodhisattena kakkhaḷakharakaṭukavedanaṃ vedayamānena luddakena nivatthaṃ kāsāvaṃ pūjitaṃ, kiṃ manussabhūto samāno paripakkañāṇo paripakkāya bodhiyā kassapaṃ bhagavantaṃ arahantaṃ sammāsambuddhaṃ dasabalaṃ lokanāyakaṃ uditoditaṃ jalitabyāmobhāsaṃ pavaruttamaṃ pavararucirakāsikakāsāvamabhipārutaṃ disvā na pūjayi? Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabboti.
“Furthermore, it has been said: ‘The young man Jotipāla insulted and reviled the Blessed One Kassapa, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, with improper and harsh words, calling him a “shaveling” and a “sham ascetic.”’ If, venerable Nāgasena, the Bodhisatta, while an animal, revered the ochre robe, then the statement that ‘the young man Jotipāla insulted and reviled the Blessed One Kassapa, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, with improper and harsh words, calling him a “shaveling” and a “sham ascetic”’ is false. If the young man Jotipāla did insult and revile the Blessed One Kassapa, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, with such words, then the statement that ‘the elephant king Chaddanta revered the ochre robe’ is also false. If the Bodhisatta, while an animal and experiencing harsh, rough, and painful sensations, revered the ochre robe worn by a hunter, why, having become a human being with mature wisdom and a ripened potential for enlightenment, upon seeing the Blessed One Kassapa, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, the Ten-Powered One, the Leader of the World, renowned and celebrated, with a shining fathom-wide aura, the most excellent and supreme one, clad in a most excellent and beautiful ochre robe from Kasi, would he not revere him? This two-horned dilemma has come to you, and it must be resolved by you.”
– Và lại nữa, đã được nói rằng: ‘Khi là thanh niên Jotipāla, vị ấy đã mắng nhiếc, đã lăng mạ đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bằng cách gọi là ‘gã trọc đầu,’ bằng cách gọi là ‘gã sa-môn,’ bằng những lời lẽ không tốt đẹp, thô lỗ.’ Tâu Đại đức Nāgasena, nếu Bồ-tát, trong khi sanh vào loài thú, đã tôn kính tấm y cà-sa, thì trong trường hợp ấy lời nói rằng: ‘Thanh niên Jotipāla đã mắng nhiếc, đã lăng mạ đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bằng cách gọi là ‘gã trọc đầu,’ bằng cách gọi là ‘gã sa-môn,’ bằng những lời lẽ không tốt đẹp, thô lỗ’ là sai. Nếu thanh niên Jotipāla đã mắng nhiếc, đã lăng mạ đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bằng cách gọi là ‘gã trọc đầu,’ bằng cách gọi là ‘gã sa-môn,’ bằng những lời lẽ không tốt đẹp, thô lỗ, thì trong trường hợp ấy lời nói rằng: ‘Voi chúa Chaddanta đã tôn kính tấm y cà-sa’ cũng là sai. Nếu Bồ-tát, trong khi sanh vào loài thú, đang cảm nhận cảm thọ khốc liệt, thô bạo, cay đắng, đã tôn kính tấm y cà-sa được người thợ săn mặc, tại sao khi đã trở thành người, có trí tuệ chín muồi, với tuệ giác Bồ-đề đã chín muồi, lại không tôn kính đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Thập Lực, vị lãnh đạo thế gian, vô cùng lừng lẫy, với hào quang rực rỡ, bậc tối thượng, khoác tấm y cà-sa bằng lụa Kāsī tuyệt hảo, sau khi đã nhìn thấy ngài? Câu hỏi lưỡng nan này lại đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā chaddanto nāgarājā ‘vadhissametanti…pe… avajjharūpo’ti. Jotipālena ca māṇavena kassapo bhagavā arahaṃ sammāsambuddho muṇḍakavādena samaṇakavādena asabbhāhi pharusāhi vācāhi akkuṭṭho paribhāsito, tañca pana jātivasena kulavasena. Jotipālo, mahārāja, māṇavo assaddhe appasanne kule paccājāto, tassa mātāpitaro bhaginibhātaro dāsidāsaceṭakaparivārakamanussā brahmadevatā brahmagarukā, te ‘brāhmaṇā eva uttamā pavarā’ti avasese pabbajite garahanti jigucchanti, tesaṃ taṃ vacanaṃ sutvā jotipālo māṇavo ghaṭikārena kumbhakārena satthāraṃ dassanāya pakkosito evamāha ‘kiṃ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti.
“It has been said, great king, by the Blessed One that the elephant king Chaddanta thought, ‘I will kill him,’ but realized he was of a nature not to be killed. And the young man Jotipāla did insult and revile the Blessed One Kassapa, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, with improper and harsh words, calling him a ‘shaveling’ and a ‘sham ascetic’—and that was due to his birth and his family. Jotipāla, great king, was reborn into a faithless and unbelieving family. His parents, siblings, male and female servants, attendants, and retainers held Brahmā as their deity and revered Brahmā. They, holding that ‘Brahmins alone are superior and excellent,’ would censure and despise other renunciants. Having heard their words, the young man Jotipāla, when invited by Ghaṭikāra the potter to see the Teacher, said, ‘What is the use of seeing that shaveling, that sham ascetic?’”
“Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: Vua voi Chaddanta (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ giết hắn… cho đến… không thể bị giết.’ Và thanh niên Jotipāla đã mắng nhiếc, phỉ báng đức Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, bằng những lời lẽ thô tục, ác độc, gọi ngài là ‘gã trọc đầu,’ là ‘gã sa-môn.’ Và điều ấy là do dòng dõi, do gia tộc. Tâu Đại vương, thanh niên Jotipāla đã sanh ra trong một gia tộc không có đức tin, không có lòng tịnh tín. Cha mẹ, chị em, anh em, tôi trai tớ gái, người hầu kẻ hạ của cậu ta đều tôn thờ Phạm Thiên, xem Phạm Thiên là đáng kính. Họ chê bai, ghê tởm các vị xuất gia khác (với quan niệm rằng) ‘chỉ có Bà-la-môn là cao thượng, là ưu việt.’ Nghe những lời ấy của họ, khi được người thợ gốm Ghaṭikāra mời đến yết kiến đức Đạo Sư, thanh niên Jotipāla đã nói rằng: ‘Gặp gã sa-môn trọc đầu ấy thì có ích gì chứ?’”
‘‘Yathā, mahārāja, amataṃ visamāsajja tittakaṃ hoti, yathā ca sītodakaṃ aggimāsajja uṇhaṃ hoti, evameva kho, mahārāja, jotipālo māṇavo assaddhe appasanne kule paccājāto, so kulavasena andho hutvā † tathāgataṃ akkosi paribhāsi.
“Just as, great king, nectar becomes bitter upon encountering poison, and cool water becomes hot upon encountering fire, just so, great king, the young man Jotipāla, being born into a family without faith or devotion, and blinded by that family background, insulted and reviled the Tathāgata.”
“Tâu Đại vương, ví như cam lồ khi gặp phải chất độc thì trở nên đắng, và ví như nước lạnh khi gặp phải lửa thì trở nên nóng. Cũng vậy, tâu Đại vương, thanh niên Jotipāla đã sanh ra trong một gia tộc không có đức tin, không có lòng tịnh tín. Do ảnh hưởng của gia tộc, cậu ta đã trở nên mù quáng mà mắng nhiếc, phỉ báng đức Như Lai.”
‘‘Yathā, mahārāja, jalitapajjalito mahāaggikkhandho sappabhāso udakamāsajja upahatappabhātejo sītalo kāḷako bhavati paripakkanigguṇḍiphalasadiso, evameva kho, mahārāja, jotipālo māṇavo puññavā saddho ñāṇavipulasappabhāso assaddhe appasanne kule paccājāto, so kulavasena andho hutvā tathāgataṃ akkosi paribhāsi, upagantvā ca buddhaguṇamaññāya ceṭakabhūto viya ahosi, jinasāsane pabbajitvā abhiññā ca samāpattiyo ca nibbattetvā brahmalokūpago ahosī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Just as, great king, a great mass of blazing fire, radiant and bright, upon encountering water, has its radiance and heat destroyed and becomes cool and black like a ripe nigguṇḍī fruit, so too, great king, the young man Jotipāla, though meritorious, faithful, and radiant with extensive wisdom, was reborn in a family lacking faith and devotion. Blinded by his family’s influence, he reviled and insulted the Tathāgata. But having approached him and understood the virtues of the Buddha, he became like a servant. After going forth in the dispensation of the Victor, he produced the higher knowledges and meditative attainments and went to the Brahma world.” “Excellent, venerable Nāgasena, I accept it just as you have said.”
“Tâu Đại vương, ví như một khối lửa lớn đang cháy rực rỡ, sáng chói, khi gặp nước thì ánh sáng và sức nóng bị dập tắt, trở nên nguội lạnh và đen như quả nigguṇḍi chín. Cũng vậy, tâu Đại vương, thanh niên Jotipāla là người có phước, có đức tin, có trí tuệ rộng lớn sáng ngời, nhưng đã sanh ra trong một gia tộc không có đức tin, không có lòng tịnh tín. Do ảnh hưởng của gia tộc, cậu ta đã trở nên mù quáng mà mắng nhiếc, phỉ báng đức Như Lai. Nhưng sau khi đến gần và nhận biết được các đức hạnh của đức Phật, cậu ta đã trở nên như một người đầy tớ. Cậu đã xuất gia trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng, chứng đắc các thắng trí và thiền định, và đã sanh về cõi Phạm Thiên.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Chaddantajotipālārabbhapañho chaṭṭho.
The sixth question concerning Chaddanta and Jotipāla.
Câu hỏi thứ sáu liên quan đến Chaddanta và Jotipāla.