Bản dịch
MIL 5.5.4 — CÂU HỎI VỀ VỊ LÀM SANH KHỞI
4. Magguppādanapañha
ĐẠO LỘ CHƯA ĐƯỢC SANH KHỞI
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy Đạo Lộ cổ xưa, con đường cổ xưa đã được các bậc Chánh Đẳng Giác trước đây đi theo.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy Đạo Lộ cổ xưa, con đường cổ xưa đã được các bậc Chánh Đẳng Giác trước đây đi theo’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy Đạo Lộ cổ xưa, con đường cổ xưa đã được các bậc Chánh Đẳng Giác trước đây đi theo,’ như thế thì lời nói rằng: ‘đức Như Lai là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, đức Như Lai, bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy Đạo Lộ cổ xưa, con đường cổ xưa đã được các bậc Chánh Đẳng Giác trước đây đi theo.’ Cả hai điều ấy đều là lời nói về bản thể.
Tâu đại vương, với sự biến mất của các đức Như Lai trước đây, trong khi không có người chỉ dạy, Đạo Lộ đã biến mất. Đức Như Lai ấy, trong khi quán sát bằng tuệ nhãn về Đạo Lộ đã bị tiêu hoại, đã bị đổ nát, đã bị phủ lấp, đã bị đóng lại, đã bị che kín, không còn có sự thực hành hoàn mãn ấy, đã nhìn thấy rằng Đạo Lộ ấy đã được các bậc Chánh Đẳng Giác trước đây đi theo. Bởi lý do ấy, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Ta đã nhìn thấy Đạo Lộ cổ xưa, con đường cổ xưa đã được các bậc Chánh Đẳng Giác trước đây đi theo.’
Tâu đại vương, với sự biến mất của các đức Như Lai trước đây, trong khi không có người chỉ dạy, Đạo Lộ đã bị tiêu hoại, đã bị đổ nát, đã bị phủ lấp, đã bị đóng lại, đã bị che kín, không còn có sự thực hành hoàn mãn ấy; giờ đây đức Như Lai đã thể hiện việc thực hành hoàn mãn. Bởi lý do ấy, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, đức Như Lai là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi.’
BJT 3Tâu đại vương, ở đây do sự biến mất của đức Chuyển Luân Vương, viên ngọc quý ma-ni ẩn tàng ở nơi đỉnh núi. Rồi do việc hành xử chính trực của đức Chuyển Luân Vương khác, nó lại hiện đến. Tâu đại vương, phải chăng viên ngọc quý ma-ni ấy là được tạo ra cho vị ấy?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, viên ngọc quý ma-ni vốn là vật hiển nhiên, tuy nhiên do vị ấy mà nó lại hiện ra.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế Đạo Lộ an toàn có tám chi phần đã được thực hành bởi các đức Như Lai trước đây—vốn là hiển nhiên—trong khi không có người chỉ dạy, thì đã bị tiêu hoại, đã bị đổ nát, đã bị phủ lấp, đã bị đóng lại, đã bị che kín, không còn có sự thực hành hoàn mãn; đức Thế Tôn trong khi quán sát bằng tuệ nhãn đã làm sanh khởi, đã thể hiện việc thực hành hoàn mãn (Đạo Lộ ấy). Bởi lý do ấy, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, đức Như Lai là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi.’
Tâu đại vương, hoặc là giống như với việc sanh ra đứa con trai qua đường tử cung và đứa con—đang hiện hữu—thì người mẹ được gọi là ‘sanh mẫu.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong khi quán sát bằng tuệ nhãn về Đạo Lộ—vốn luôn hiện hữu—nhưng đã bị tiêu hoại, đã bị đổ nát, đã bị phủ lấp, đã bị đóng lại, đã bị che kín, không còn có sự thực hành hoàn mãn, đức Như Lai đã làm sanh khởi, đã thể hiện việc thực hành hoàn mãn (Đạo Lộ ấy). Bởi lý do ấy, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, đức Như Lai là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi.’
BJT 4Tâu đại vương, hoặc là giống như một người nam nào đó nhìn thấy vật gì đó đã bị thất lạc, thì người ta đồn đãi rằng: ‘Nhờ người ấy mà vật ấy được xuất hiện.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong khi quán sát bằng tuệ nhãn về Đạo Lộ—vốn luôn hiện hữu—nhưng đã bị tiêu hoại, đã bị đổ nát, đã bị phủ lấp, đã bị đóng lại, đã bị che kín, không còn có sự thực hành hoàn mãn, đức Như Lai đã làm sanh khởi, đã thể hiện việc thực hành hoàn mãn (Đạo Lộ ấy). Bởi lý do ấy, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, đức Như Lai là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi.’
Tâu đại vương, hoặc là giống như một người nam nào đó dọn sạch mảnh rừng rồi ban ra thành đất bằng, thì người ta đồn đãi rằng: ‘Mảnh đất ấy là của người ấy.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong khi quán sát bằng tuệ nhãn về Đạo Lộ—vốn luôn hiện hữu—nhưng đã bị tiêu hoại, đã bị đổ nát, đã bị phủ lấp, đã bị đóng lại, đã bị che kín, không còn có sự thực hành hoàn mãn, đức Như Lai đã làm sanh khởi, đã thể hiện việc thực hành hoàn mãn (Đạo Lộ ấy). Bởi lý do ấy, Ngài đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, đức Như Lai là người làm sanh khởi Đạo Lộ chưa được sanh khởi.’
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về vị làm sanh khởi
đạo lộ chưa được sanh khởi là thứ tư.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘tathāgato bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā’ti. Puna ca bhaṇitaṃ ‘addasaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, purāṇaṃ maggaṃ purāṇaṃ añjasaṃ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāta’nti. Yadi, bhante nāgasena, tathāgato anuppannassa maggassa uppādetā, tena hi ‘addasaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, purāṇaṃ maggaṃ purāṇaṃ añjasaṃ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāta’nti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi tathāgatena bhaṇitaṃ ‘addasaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, purāṇaṃ maggaṃ purāṇaṃ añjasaṃ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāta’nti, tena hi ‘tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
4. “Venerable Nāgasena, it has been said by the Blessed One: ‘The Tathāgata, monks, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is the producer of the unarisen path.’ And again it was said: ‘Indeed, monks, I saw the ancient path, the ancient highway, traveled by the Perfectly Enlightened Ones of old.’ If, Venerable Nāgasena, the Tathāgata is the producer of the unarisen path, then this statement, ‘Indeed, monks, I saw the ancient path, the ancient highway, traveled by the Perfectly Enlightened Ones of old,’ is false. If the Tathāgata said, ‘Indeed, monks, I saw the ancient path, the ancient highway, traveled by the Perfectly Enlightened Ones of old,’ then this statement too, ‘The Tathāgata, monks, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is the producer of the unarisen path,’ is false. This double-edged question has come to you, and you must resolve it.”
4. “Thưa Đại đức Nāgasena, điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, là người làm phát sinh con đường chưa từng phát sinh.’ Và lại nữa, Ngài đã dạy: ‘Này các Tỳ khưu, Ta đã thấy con đường xưa, lối đi cũ, đã được các bậc Chánh Đẳng Giác thời trước đi theo.’ Thưa Đại đức Nāgasena, nếu đức Như Lai là người làm phát sinh con đường chưa từng phát sinh, thì lời nói ‘Này các Tỳ khưu, Ta đã thấy con đường xưa, lối đi cũ, đã được các bậc Chánh Đẳng Giác thời trước đi theo’ là sai. Nếu đức Như Lai đã nói ‘Này các Tỳ khưu, Ta đã thấy con đường xưa, lối đi cũ, đã được các bậc Chánh Đẳng Giác thời trước đi theo,’ thì lời nói ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, là người làm phát sinh con đường chưa từng phát sinh’ cũng là sai. Vấn đề lưỡng nan này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā’ti. Bhaṇitañca ‘addasaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, purāṇaṃ maggaṃ purāṇaṃ añjasaṃ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāta’nti, taṃ dvayampi sabhāvavacanameva, pubbakānaṃ, mahārāja, tathāgatānaṃ antaradhānena asati anusāsake maggo antaradhāyi, taṃ † tathāgato maggaṃ luggaṃ paluggaṃ gūḷhaṃ pihitaṃ paṭicchannaṃ asañcaraṇaṃ paññācakkhunā sampassamāno † addasa pubbakehi sammāsambuddhehi anuyātaṃ, taṃkāraṇā āha ‘addasaṃ khvāhaṃ, bhikkhave, purāṇaṃ maggaṃ purāṇaṃ añjasaṃ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāta’nti.
“It has been said, great king, by the Blessed One: ‘The Tathāgata, monks, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is the producer of the unarisen path.’ And it is also said: ‘Indeed, monks, I saw the ancient path, the ancient highway, traveled by the Perfectly Enlightened Ones of old.’ Both of these statements are true in their nature. Great king, due to the disappearance of the past Tathāgatas, there being no instructor, the path disappeared. The Tathāgata, seeing with the eye of wisdom that path—worn down, dilapidated, hidden, covered, concealed, and untraveled—which had been traveled by the Perfectly Enlightened Ones of old, for that reason said: ‘Indeed, monks, I saw the ancient path, the ancient highway, traveled by the Perfectly Enlightened Ones of old.’”
‘Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là vị làm phát sanh con đường chưa từng được phát sanh.’ Và cũng đã được nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, quả thật Ta đã nhìn thấy con đường xưa, lối đi cũ đã được các bậc Chánh Đẳng Giác thời quá khứ đi theo.’ Cả hai lời nói ấy đều đúng với thực chất. Tâu Đại vương, do sự biến mất của các đức Như Lai trong quá khứ, khi không có vị thầy chỉ dạy thì con đường đã biến mất. Con đường ấy đã bị hư hoại, bị hủy diệt, bị che khuất, bị đóng kín, bị che lấp, không còn ai đi lại, đức Như Lai trong khi đang nhìn thấy rõ bằng tuệ nhãn đã nhìn thấy con đường đã được các bậc Chánh Đẳng Giác thời quá khứ đi theo. Vì lý do ấy, ngài đã nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, quả thật Ta đã nhìn thấy con đường xưa, lối đi cũ đã được các bậc Chánh Đẳng Giác thời quá khứ đi theo.’
‘‘Pubbakānaṃ, mahārāja, tathāgatānaṃ antaradhānena asati anusāsake luggaṃ paluggaṃ gūḷhaṃ pihitaṃ paṭicchannaṃ asañcaraṇaṃ maggaṃ yaṃ dāni tathāgato sañcaraṇaṃ akāsi, taṃkāraṇā āha ‘tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā’ti.
“Great king, due to the disappearance of the past Tathāgatas, there being no instructor, the path became worn down, dilapidated, hidden, covered, concealed, and untraveled. Now, the Tathāgata has made it traversable. For that reason, he said: ‘The Tathāgata, monks, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is the producer of the unarisen path.’”
‘Tâu Đại vương, do sự biến mất của các đức Như Lai trong quá khứ, khi không có vị thầy chỉ dạy, con đường đã bị hư hoại, bị hủy diệt, bị che khuất, bị đóng kín, bị che lấp, không còn ai đi lại, nay đức Như Lai đã làm cho con đường ấy có thể đi lại được. Vì lý do ấy, ngài đã nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là vị làm phát sanh con đường chưa từng được phát sanh.’
‘‘Idha, mahārāja, rañño cakkavattissa antaradhānena maṇiratanaṃ girisikhantare nilīyati, aparassa cakkavattissa sammāpaṭipattiyā upagacchati, api nu kho taṃ, mahārāja, maṇiratanaṃ tassa pakata’’nti? ‘‘Na hi, bhante, pākatikaṃ yeva taṃ maṇiratanaṃ, tena pana nibbattita’’nti †. ‘‘Evameva kho, mahārāja, pākatikaṃ pubbakehi tathāgatehi anuciṇṇaṃ aṭṭhaṅgikaṃ sivaṃ maggaṃ asati anusāsake luggaṃ paluggaṃ gūḷhaṃ pihitaṃ paṭicchannaṃ asañcaraṇaṃ bhagavā paññācakkhunā sampassamāno uppādesi, sañcaraṇaṃ akāsi, taṃkāraṇā āha ‘tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā’ti.
“Here, great king, when a wheel-turning king disappears, the gem-jewel hides in a mountain cleft; it comes to another wheel-turning king through his rightful practice. Is that gem-jewel, great king, newly created for him?” “No, venerable sir, that gem-jewel is indeed a pre-existing thing, but it is brought forth by him.” “Just so, great king, the pre-existing, auspicious, eightfold path practiced by previous Tathāgatas, which, in the absence of an instructor, had become worn down, dilapidated, hidden, covered, concealed, and untraveled—the Blessed One, seeing it with the eye of wisdom, brought it forth and made it traversable. For this reason, he said: ‘The Tathāgata, monks, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is the producer of the unarisen path.’”
‘Tâu Đại vương, ở đời này, do sự biến mất của vị vua Chuyển Luân, ngọc báu ẩn mình giữa đỉnh núi. Do sự thực hành đúng đắn của một vị vua Chuyển Luân khác, nó lại xuất hiện. Tâu Đại vương, có phải ngọc báu ấy được tạo ra mới cho vị vua ấy không?’ – ‘Thưa ngài, không phải vậy. Ngọc báu ấy vốn đã có sẵn tự nhiên, nhưng do vị ấy mà nó được làm cho hiện ra.’ – ‘Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, con đường Bát Chánh Đạo an lành, vốn có sẵn tự nhiên, đã được các đức Như Lai trong quá khứ thực hành, khi không có vị thầy chỉ dạy đã bị hư hoại, bị hủy diệt, bị che khuất, bị đóng kín, bị che lấp, không còn ai đi lại, đức Thế Tôn trong khi đang nhìn thấy rõ bằng tuệ nhãn đã làm cho nó phát sanh, đã làm cho nó có thể đi lại được. Vì lý do ấy, ngài đã nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là vị làm phát sanh con đường chưa từng được phát sanh.’
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, santaṃ yeva puttaṃ yoniyā janayitvā mātā ‘janikā’ti vuccati, evameva kho, mahārāja, tathāgato santaṃ yeva maggaṃ luggaṃ paluggaṃ gūḷhaṃ pihitaṃ paṭicchannaṃ asañcaraṇaṃ paññācakkhunā sampassamāno uppādesi, sañcaraṇaṃ akāsi, taṃkāraṇā āha ‘tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā’ti.
“Just as, great king, a mother, having given birth from the womb to a son who already exists, is called ‘the producer,’ so too, great king, the Tathāgata, seeing with the eye of wisdom the path that already existed—worn down, dilapidated, hidden, covered, concealed, and untraveled—brought it forth and made it traversable. For this reason, he said: ‘The Tathāgata, monks, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is the producer of the unarisen path.’”
‘Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như người mẹ, sau khi sanh ra đứa con vốn đã có sẵn từ trong bụng, được gọi là ‘người sanh thành.’ Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, đức Như Lai trong khi đang nhìn thấy rõ bằng tuệ nhãn con đường vốn đã có sẵn nhưng đã bị hư hoại, bị hủy diệt, bị che khuất, bị đóng kín, bị che lấp, không còn ai đi lại, đã làm cho nó phát sanh, đã làm cho nó có thể đi lại được. Vì lý do ấy, ngài đã nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là vị làm phát sanh con đường chưa từng được phát sanh.’
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, koci puriso yaṃ kiñci naṭṭhaṃ passati, ‘tena taṃ bhaṇḍaṃ nibbattita’nti jano voharati, evameva kho, mahārāja, tathāgato santaṃ yeva maggaṃ luggaṃ paluggaṃ gūḷhaṃ pihitaṃ paṭicchannaṃ asañcaraṇaṃ paññācakkhunā sampassamāno uppādesi, sañcaraṇaṃ akāsi, taṃkāraṇā āha ‘tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā’ti.
“Just as, great king, if a person finds something lost, people say, ‘That item was produced by him,’ so too, great king, the Tathāgata, seeing with the eye of wisdom the path that already existed—worn down, dilapidated, hidden, covered, concealed, and untraveled—brought it forth and made it traversable. For this reason, he said: ‘The Tathāgata, monks, the Arahant, the Perfectly Enlightened One, is the producer of the unarisen path.’”
‘Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như có người nào đó tìm thấy một vật gì đã bị mất, người đời nói rằng: ‘Vật ấy do người đó làm ra.’ Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, đức Như Lai trong khi đang nhìn thấy rõ bằng tuệ nhãn con đường vốn đã có sẵn nhưng đã bị hư hoại, bị hủy diệt, bị che khuất, bị đóng kín, bị che lấp, không còn ai đi lại, đã làm cho nó phát sanh, đã làm cho nó có thể đi lại được. Vì lý do ấy, ngài đã nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là vị làm phát sanh con đường chưa từng được phát sanh.’
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, koci puriso vanaṃ sodhetvā bhūmiṃ nīharati, ‘tassa sā bhūmī’ti jano voharati, na cesā bhūmi tena pavattitā, taṃ bhūmiṃ kāraṇaṃ katvā bhūmisāmiko nāma hoti, evameva kho, mahārāja, tathāgato santaṃ yeva maggaṃ luggaṃ paluggaṃ gūḷhaṃ pihitaṃ paṭicchannaṃ asañcaraṇaṃ paññāya sampassamāno uppādesi, sañcaraṇaṃ akāsi, taṃkāraṇā āha ‘tathāgato, bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho anuppannassa maggassa uppādetā’’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Just as, great king, if someone clears a forest and prepares the land, people say, ‘That land is his,’ although the land was not created by him, yet by reason of that land, he is known as the landowner—so too, great king, the Tathāgata, seeing with wisdom the path that already existed—worn out, dilapidated, concealed, covered, obstructed, and untrodden—caused it to arise and made it traversable. For this reason, he said: ‘The Tathāgata, monks, the Arahant, the Perfectly Self-Enlightened One, is the originator of the unarisen path.’” “Excellent, venerable Nāgasena, I accept it just as you say.”
‘Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như có người nào đó dọn dẹp khu rừng và khai phá đất đai, người đời nói rằng: ‘Đó là đất của người ấy.’ Nhưng đất ấy không phải do người đó tạo ra, do nhân duyên với mảnh đất ấy mà người đó được gọi là chủ đất. Tâu Đại vương, cũng tương tự như vậy, đức Như Lai trong khi đang nhìn thấy rõ bằng trí tuệ con đường vốn đã có sẵn nhưng đã bị hư hoại, bị hủy diệt, bị che khuất, bị đóng kín, bị che lấp, không còn ai đi lại, đã làm cho nó phát sanh, đã làm cho nó có thể đi lại được. Vì lý do ấy, ngài đã nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác là vị làm phát sanh con đường chưa từng được phát sanh.’’ – ‘Thưa ngài Nāgasena, lành thay, con xin chấp nhận điều này đúng là như vậy.’
Magguppādanapañho catuttho.
The Fourth Question, on Causing the Path to Arise, is concluded.
Câu hỏi về sự phát sanh của con đường, câu thứ tư.