Bản dịch
MIL 5.4.9 — CÂU HỎI VỀ SỰ KHÔNG SỢ HÃI CỦA BẬC LẬU TẬN
9. Arahantaabhāyanapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Các vị A-la-hán có sự sợ hãi và run rẩy đã được xa lìa.’ Và thêm nữa ở thành Rājagaha năm trăm bậc Lậu Tận, sau khi nhìn thấy con voi Dhanapālaka đang lao đến gần đức Thế Tôn, đã rời bỏ đấng Chiến Thắng cao quý và đã tản mác khắp các phương ngoại trừ một vị là trưởng lão Ānanda. Thưa ngài Nāgasena, phải chăng các vị A-la-hán ấy đã tản mác vì sợ hãi? Hay là đã tản mác với ước muốn được chứng kiến thần thông không thể đo lường, vĩ đại, không thể sánh bằng của đức Như Lai?
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Các vị A-la-hán có sự sợ hãi và run rẩy đã được xa lìa,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Ở thành Rājagaha năm trăm bậc Lậu Tận, sau khi nhìn thấy con voi Dhanapālaka đang lao đến gần đức Thế Tôn, đã rời bỏ đấng Chiến Thắng cao quý và đã tản mác khắp các phương ngoại trừ một vị là trưởng lão Ānanda’ là sai trái. Nếu ở thành Rājagaha năm trăm bậc Lậu Tận, sau khi nhìn thấy con voi Dhanapālaka đang lao đến gần đức Thế Tôn, đã rời bỏ đấng Chiến Thắng cao quý và đã tản mác khắp các phương ngoại trừ một vị là trưởng lão Ānanda, như thế thì lời nói rằng: ‘Các vị A-la-hán có sự sợ hãi và run rẩy đã được xa lìa’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Các vị A-la-hán có sự sợ hãi và run rẩy đã được xa lìa.’ Và ở thành Rājagaha năm trăm bậc Lậu Tận, sau khi nhìn thấy con voi Dhanapālaka đang lao đến gần đức Thế Tôn, đã rời bỏ đấng Chiến Thắng cao quý và đã tản mác khắp các phương ngoại trừ một vị là trưởng lão Ānanda. Tuy nhiên, điều ấy không do sự sợ hãi, cũng không phải do sự mong muốn để khiến cho đức Thế Tôn bị ngã gục.
Tâu đại vương, do nhân nào các vị A-la-hán có thể bị sợ hãi hoặc có thể bị run rẩy, nhân ấy đã được trừ tuyệt ở các vị A-la-hán; vì thế các vị A-la-hán có sự sợ hãi và run rẩy đã được xa lìa. Tâu đại vương, vậy thì đại địa cầu có bị sợ hãi trong khi (bị) đào xới, trong khi (bị) đổ vỡ, trong khi nâng đỡ biển cả, núi non, và đỉnh núi?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, nhân nào khiến cho đại địa cầu có thể bị sợ hãi hay bị run rẩy thì nhân ấy không có ở đại địa cầu.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhân nào khiến cho các vị A-la-hán có thể bị sợ hãi hay bị run rẩy thì nhân ấy không có ở các vị A-la-hán. Tâu đại vương, vậy thì đỉnh núi có bị sợ hãi trong khi (bị) nứt nẻ, trong khi (bị) đổ vỡ, trong khi sụp xuống, hoặc trong khi (bị) đốt nóng bởi ngọn lửa?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
BJT 3“Thưa ngài, nhân nào khiến cho đỉnh núi có thể bị sợ hãi hay bị run rẩy thì nhân ấy không có ở đỉnh núi.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhân nào khiến cho các vị A-la-hán có thể bị sợ hãi hay bị run rẩy thì nhân ấy không có ở các vị A-la-hán. Tâu đại vương, nếu như tất cả những ai đó được gộp vào thành phần chúng sanh ở trăm ngàn thế giới, với bàn tay cầm gươm, đuổi theo và dọa dẫm một vị A-la-hán, thì cũng không có bất cứ điều gì đổi khác ở tâm của vị A-la-hán. Vì lý do gì? Bởi vì sự không thực tế và tính chất không hợp lý. Tâu đại vương, hơn nữa các vị A-la-hán ấy đã có ý nghĩ suy tầm như vầy: ‘Hôm nay, khi bậc cao quý và ưu tú của loài người, đấng Chiến Thắng anh hùng cao quý, đã tiến vào thành phố cao quý ở trên con đường thì con voi Dhanapālakaka sẽ lao đến. Điều không nghi ngờ là vị thị giả sẽ không rời bỏ vị Chúa của chư Thiên. Nếu tất cả chúng ta sẽ không rời bỏ đức Thế Tôn thì đức tính của Ānanda sẽ không được thể hiện, và chủ yếu là con long tượng sẽ không tự tiến đến gần đức Như Lai. Vậy chúng ta hãy tránh ra xa. Điều này là như vậy, sẽ có sự giải thoát khỏi sự trói buộc của phiền não cho đám đông người, và đức tính của Ānanda sẽ được thể hiện.’ Như vậy, sau khi nhìn thấy sự lợi ích, các vị A-la-hán ấy đã tản mác khắp các phương.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã khéo được phân giải. Điều ấy là như vậy, không có sự sợ hãi hoặc sự run rẩy đối với các vị A-la-hán. Các vị A-la-hán ấy, sau khi nhìn thấy sự lợi ích, đã tản mác khắp các phương”
Câu hỏi về sự không sợ hãi của bậc Lậu Tận là thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā – ‘aṭṭhime, bhikkhave †, hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā’ti. Asesavacanaṃ idaṃ, nissesavacanaṃ idaṃ, nippariyāyavacanaṃ idaṃ, natthañño navamo hetu mahato bhūmicālassa pātubhāvāya. Yadi, bhante nāgasena, añño navamo hetu bhaveyya mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tampi hetuṃ bhagavā katheyya. Yasmā ca kho, bhante nāgasena, natthañño navamo hetu mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tasmā anācikkhito bhagavatā, ayañca navamo hetu dissati mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, yaṃ vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṃ mahāpathavī kampitāti. Yadi, bhante nāgasena, aṭṭheva hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya, tena hi vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṃ mahāpathavī kampitāti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṃ mahāpathavī kampitā, tena hi aṭṭheva hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyāti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho sukhumo dunniveṭhiyo andhakaraṇo ceva gambhīro ca, so tavānuppatto, neso aññena ittarapaññena sakkā visajjetuṃ aññatra tavādisena buddhimatā’’ti.
4. “Venerable Nāgasena, the Blessed One has said: ‘Bhikkhus, there are these eight causes, eight conditions for the appearance of a great earthquake.’ This is a complete statement, a statement without remainder, a statement without alternative. There is no ninth cause for the appearance of a great earthquake. If, venerable Nāgasena, there were a ninth cause for the appearance of a great earthquake, the Blessed One would have declared that cause as well. But since, venerable Nāgasena, there is no ninth cause for the appearance of a great earthquake, it was not declared by the Blessed One. Yet this ninth cause is seen for the appearance of a great earthquake—that when King Vessantara was giving the great gift, the great earth shook seven times. If, venerable Nāgasena, there are only eight causes, eight conditions for the appearance of a great earthquake, then the statement that when King Vessantara was giving the great gift, the great earth shook seven times is false. If, when King Vessantara was giving the great gift, the great earth shook seven times, then the statement that there are only eight causes, eight conditions for the appearance of a great earthquake is also false. This is a double-edged question, subtle, difficult to unravel, obscuring, and profound. It has come to you; it cannot be answered by anyone else of inferior wisdom, only by one as wise as you.”
4. “Tâu Đại đức Nāgasena, điều này đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Này các Tỳ khưu, có tám nhân, tám duyên này cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.’ Lời này là lời không còn sót lại, lời này là lời không còn dư sót, lời này là lời không có ẩn ý. Không có nhân thứ chín nào khác cho sự xuất hiện của trận động đất lớn. Tâu Đại đức Nāgasena, nếu có nhân thứ chín khác cho sự xuất hiện của trận động đất lớn, Đức Thế Tôn cũng đã thuyết về nhân ấy rồi. Và vì rằng, tâu Đại đức Nāgasena, không có nhân thứ chín nào khác cho sự xuất hiện của trận động đất lớn, nên Đức Thế Tôn đã không chỉ dạy. Thế nhưng, nhân thứ chín này lại được thấy cho sự xuất hiện của trận động đất lớn, ấy là khi vua Vessantara thực hiện đại thí, đại địa đã rung chuyển bảy lần. Tâu Đại đức Nāgasena, nếu chỉ có tám nhân, tám duyên cho sự xuất hiện của trận động đất lớn, vậy thì lời nói rằng ‘khi vua Vessantara thực hiện đại thí, đại địa đã rung chuyển bảy lần’ là sai. Nếu khi vua Vessantara thực hiện đại thí, đại địa đã rung chuyển bảy lần, vậy thì lời nói rằng ‘chỉ có tám nhân, tám duyên cho sự xuất hiện của trận động đất lớn’ cũng là sai. Vấn đề này cũng có hai đầu, tế nhị, khó giải quyết, gây ra sự tối tăm, và sâu sắc. Nó đã đến với ngài. Vấn đề này không thể được giải đáp bởi người khác có trí tuệ thấp kém, ngoại trừ bậc trí tuệ như ngài.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā – ‘aṭṭhime, bhikkhave, hetū aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā’ti. Yaṃ vessantarena raññā mahādāne dīyamāne sattakkhattuṃ mahāpathavī kampitā, tañca pana akālikaṃ kadācuppattikaṃ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṃ, tasmā agaṇitaṃ aṭṭhahi hetūhi.
“It has been said, great king, by the Blessed One: ‘Bhikkhus, there are these eight causes, eight conditions for a great earthquake to appear.’ And that the great earth shook seven times when King Vessantara was giving the great gift—that was an untimely, occasional occurrence, separate from the eight causes. Therefore, it is not counted among the eight causes.
“Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Này các Tỳ khưu, có tám nhân, tám duyên này cho sự xuất hiện của trận động đất lớn.’ Việc đại địa đã rung chuyển bảy lần khi vua Vessantara thực hiện đại thí, việc ấy là phi thời, thỉnh thoảng mới phát sanh, được giải thoát khỏi tám nhân. Do đó, nó không được tính trong tám nhân.”
‘‘Yathā, mahārāja, loke tayo yeva meghā gaṇīyanti vassiko hemantiko pāvusakoti. Yadi te muñcitvā añño megho pavassati, na so megho gaṇīyati sammatehi meghehi, akālameghotveva saṅkhaṃ gacchati. Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṃ sattakkhattuṃ mahāpathavī kampitā, akālikaṃ etaṃ kadācuppattikaṃ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṃ, na taṃ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
“Just as, great king, in the world only three kinds of clouds are reckoned: the rainy season cloud, the winter cloud, and the monsoon cloud. If a cloud releases rain apart from these, it is not reckoned among the acknowledged clouds; it is designated simply as an untimely cloud. Just so, great king, that the great earth quaked seven times when King Vessantara was giving his great gift was an untimely, occasional occurrence, separate from the eight causes; it is not reckoned among the eight causes.
“Ví như, tâu Đại vương, ở đời chỉ có ba loại mưa được kể đến: mưa đầu mùa, mưa mùa đông, và mưa giữa mùa. Nếu ngoài những loại ấy ra, có cơn mưa khác trút xuống, cơn mưa ấy không được tính cùng với các loại mưa đã quy ước, nó được xem là mưa trái mùa. Cũng vậy, tâu Đại vương, việc đại địa đã rung chuyển bảy lần khi vua Vessantara thực hiện đại thí, việc ấy là phi thời, thỉnh thoảng mới phát sanh, được giải thoát khỏi tám nhân, nó không được tính trong tám nhân.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, himavantā pabbatā pañca nadisatāni sandanti, tesaṃ, mahārāja, pañcannaṃ nadisatānaṃ daseva nadiyo nadigaṇanāya gaṇīyanti. Seyyathīdaṃ, gaṅgā yamunā aciravatī sarabhū mahī sindhu sarassatī vetravatī vītaṃsā candabhāgāti, avasesā nadiyo nadigaṇanāya agaṇitā. Kiṃ kāraṇā? Na tā nadiyo dhuvasalilā. Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṃ sattakkhattuṃ mahāpathavī kampitā, akālikaṃ etaṃ kadācuppattikaṃ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṃ, na taṃ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
“Or again, great king, just as from the Himalaya mountain five hundred rivers flow, but of those five hundred rivers, great king, only ten are reckoned in the count of rivers. That is: the Ganges, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, Sindhu, Sarassatī, Vetravatī, Vītaṃsā, and Candabhāgā. The remaining rivers are not included in the count of rivers. For what reason? Because those rivers do not have a constant flow of water. So too, great king, that the great earth shook seven times when King Vessantara was giving the great gift was an untimely, occasional occurrence, separate from the eight causes; it is not reckoned among the eight causes.
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, từ núi Himavanta có năm trăm con sông chảy ra. Tâu Đại vương, trong số năm trăm con sông ấy, chỉ có mười con sông được kể là sông. Ấy là: sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, Sindhu, Sarassatī, Vetravatī, Vītaṃsā, và Candabhāgā. Các con sông còn lại không được kể là sông. Vì lý do gì? Vì những con sông ấy không có dòng nước thường xuyên. Cũng vậy, tâu Đại vương, việc đại địa đã rung chuyển bảy lần khi vua Vessantara thực hiện đại thí, việc ấy là phi thời, thỉnh thoảng mới phát sanh, được giải thoát khỏi tám nhân, nó không được tính trong tám nhân.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, rañño satampi dvisatampi tisatampi amaccā honti, tesaṃ cha yeva janā amaccagaṇanāya gaṇīyanti. Seyyathīdaṃ, senāpati purohito akkhadasso bhaṇḍāgāriko chattaggāhako khaggaggāhako. Ete yeva amaccagaṇanāya gaṇīyanti. Kiṃ kāraṇā? Yuttattā rājaguṇehi, avasesā agaṇitā, sabbe amaccātveva saṅkhaṃ gacchanti. Evameva kho, mahārāja, vessantarena raññā mahādāne dīyamāne yaṃ sattakkhattuṃ mahāpathavī kampitā, akālikaṃ etaṃ kadācuppattikaṃ aṭṭhahi hetūhi vippamuttaṃ, na taṃ gaṇīyati aṭṭhahi hetūhi.
“Or again, great king, just as a king may have one hundred, two hundred, or three hundred ministers, but only six persons are reckoned in the count of ministers. That is: the commander-in-chief, the chaplain, the judge, the treasurer, the parasol-bearer, and the sword-bearer. Only these are reckoned in the count of ministers. For what reason? Because of their close connection with the king's affairs. The rest are not counted, though they are all designated as ministers. So too, great king, that the great earth shook seven times when King Vessantara was giving the great gift was an untimely, occasional occurrence, separate from the eight causes; it is not reckoned among the eight causes.
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, một vị vua có một trăm, hai trăm, hoặc ba trăm vị quan, trong số họ, chỉ có sáu người được kể là quan đại thần. Ấy là: vị tổng tư lệnh, vị giáo sĩ, vị thẩm phán, vị quốc khố, vị mang lọng, và vị mang gươm. Chỉ những vị này mới được kể là quan đại thần. Vì lý do gì? Vì họ gắn liền với các phẩm chất của hoàng gia. Những người còn lại không được tính, tất cả đều được xem chung là quan. Cũng vậy, tâu Đại vương, việc đại địa đã rung chuyển bảy lần khi vua Vessantara thực hiện đại thí, việc ấy là phi thời, thỉnh thoảng mới phát sanh, được giải thoát khỏi tám nhân, nó không được tính trong tám nhân.”
‘‘Suyyati nu kho, mahārāja, etarahi jinasāsane katādhikārānaṃ diṭṭhadhammasukhavedanīyakammaṃ, kitti ca yesaṃ abbhuggatā devamanussesū’’ti? ‘‘Āma, bhante, suyyati etarahi jinasāsane katādhikārānaṃ diṭṭhadhammasukhavedanīyakammaṃ, kitti ca yesaṃ abbhuggatā devamanussesu satta janāti’’. ‘‘Ke ca te, mahārājā’’ti? ‘‘Sumano ca, bhante, mālākāro, ekasāṭako ca brāhmaṇo, puṇṇo ca bhatako, mallikā ca devī, gopālamātā ca devī, suppiyā ca upāsikā, puṇṇā ca dāsīti ime satta diṭṭhadhammasukhavedanīyā sattā, kitti ca imesaṃ abbhuggatā devamanussesū’’ti.
“Is it heard, great king, that in the Conqueror's Dispensation there are those who have made a foundation of merit, whose kamma is to be experienced as happiness in this very life, and whose fame has spread among gods and humans?” “Yes, venerable sir, it is heard that in the Conqueror's Dispensation there are seven persons who have made a foundation of merit, whose kamma is to be experienced as happiness in this very life, and whose fame has spread among gods and humans.” “And who are they, great king?” “Venerable sir, they are: Sumana the garland-maker, the brahmin Ekasāṭaka, Puṇṇa the hireling, Queen Mallikā, Queen Gopālamātā, the female lay follower Suppiyā, and the slave-woman Puṇṇā. These seven beings are ones who experience happiness in this very life, and their fame has spread among gods and humans.”
“Tâu Đại vương, hiện nay trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng, ngài có nghe nói về nghiệp cảm thọ an lạc ngay trong hiện tại của những người đã tạo phước duyên, và danh tiếng của họ vang lừng giữa chư thiên và loài người không?” “Vâng, tâu Đại đức, hiện nay trong giáo pháp của Đấng Chiến Thắng, hạ thần có nghe nói về nghiệp cảm thọ an lạc ngay trong hiện tại của những người đã tạo phước duyên, và danh tiếng của họ vang lừng giữa chư thiên và loài người, có bảy người như vậy.” “Họ là những ai, tâu Đại vương?” “Tâu Đại đức, đó là người làm vòng hoa Sumano, Bà-la-môn Ekasāṭaka, người làm thuê Puṇṇa, hoàng hậu Mallikā, hoàng hậu Gopālamātā, nữ cư sĩ Suppiyā, và nữ tỳ Puṇṇā. Bảy chúng sanh này là những người cảm thọ an lạc ngay trong hiện tại, và danh tiếng của họ vang lừng giữa chư thiên và loài người.”
‘‘Aparepi suyyanti nu kho atīte mānusakeneva sarīradehena tidasabhavanaṃ gatā’’ti? ‘‘Āma, bhante, suyyantī’’ti. ‘‘Ke ca te, mahārājā’’ti? ‘‘Guttilo ca gandhabbo, sādhīno ca rājā, nimi ca rājā, mandhātā ca rājāti ime caturo janā suyyanti, teneva mānusakena sarīradehena tidasabhavanaṃ gatā’’ti. ‘‘Sucirampi kataṃ suyyati sukatadukkaṭanti? Sutapubbaṃ pana tayā, mahārāja, atīte vā addhāne vattamāne vā addhāne itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā tikkhattuṃ vā mahāpathavī kampitā’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Atthi me, mahārāja, āgamo adhigamo pariyatti savanaṃ sikkhābalaṃ sussūsā paripucchā ācariyupāsanaṃ, mayāpi na sutapubbaṃ ‘itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā tikkhattuṃ vā mahāpathavī kampitā’ti ṭhapetvā vessantarassa rājavasabhassa dānavaraṃ. Bhagavato ca, mahārāja, kassapassa, bhagavato ca sakyamuninoti dvinnaṃ buddhānaṃ antare gaṇanapathaṃ vītivattā vassakoṭiyo atikkantā, tatthapi me savanaṃ natthi ‘itthannāmassa dāne dīyamāne sakiṃ vā dvikkhattuṃ vā tikkhattuṃ vā mahāpathavī kampitā’ti. Na, mahārāja, tāvatakena vīriyena tāvatakena parakkamena mahāpathavī kampati, guṇabhārabharitā, mahārāja, sabbasoceyyakiriyaguṇabhārabharitā dhāretuṃ na visahantī mahāpathavī calati kampati pavedhati.
“Are others also heard of who in the past went to the realm of the Thirty-three in their very own human body?” “Yes, venerable sir, they are heard of.” “And who are they, great king?” “Guttila the celestial musician, King Sādhīna, King Nimi, and King Mandhātā—these four persons are heard of as having gone to the realm of the Thirty-three in their very own human body.” “One hears of good and bad deeds done long, long ago. But have you ever heard, great king, in the past or in the present, that when a gift was given by someone of such-and-such a name, the great earth shook once, twice, or three times?” “No, venerable sir. I have scriptural tradition, realization, learning, listening, the power of training, the desire to hear, inquiry, and attendance on teachers; yet I have never heard that ‘when a gift was given by someone of such-and-such a name, the great earth shook once, twice, or three times’—apart from the supreme gift of Vessantara, the bull among kings. And between the Blessed One Kassapa and the Blessed One, the Sakyan Sage, crores of years beyond the path of calculation have passed, yet even in that time I have no recollection of hearing that ‘when a gift was given by someone of such-and-such a name, the great earth shook once, twice, or three times.’ The great earth, great king, does not shake with just that much energy or that much exertion. Weighed down by the burden of virtue, great king, weighed down by the burden of the quality of the act of complete purity, the great earth, unable to support it, shakes, quakes, and trembles.
“Tâu Đại vương, trong quá khứ, ngài có từng nghe nói về những người khác đã đi đến cõi trời Ba mươi ba với chính thân người không?” “Thưa vâng, tâu ngài, hạ thần có nghe.” “Họ là ai vậy, tâu Đại vương?” “Đó là nhạc sĩ Guttila, đức vua Sādhīna, đức vua Nimi, và đức vua Mandhātā. Hạ thần có nghe nói về bốn vị này, họ đã đi đến cõi trời Ba mươi ba với chính thân người ấy.” “Việc thiện ác đã làm từ rất lâu cũng được nghe biết đến phải không? Tâu Đại vương, trong quá khứ hay hiện tại, ngài có từng nghe rằng khi một người có tên tuổi nào đó thực hiện việc bố thí, đại địa đã rung chuyển một lần, hai lần, hay ba lần không?” “Thưa không, tâu ngài.” “Tâu Đại vương, hạ thần có sự học thuộc kinh điển (āgamo), có sự thông hiểu ý nghĩa (adhigamo), có sự học tập (pariyatti), có sự nghe giảng (savanaṃ), có năng lực học hỏi (sikkhābalaṃ), có sự cung kính lắng nghe (sussūsā), có sự tra hỏi (paripucchā), có sự hầu cận bậc thầy (ācariyupāsanaṃ), nhưng hạ thần cũng chưa từng nghe rằng ‘khi một người có tên tuổi nào đó thực hiện việc bố thí, đại địa đã rung chuyển một lần, hai lần, hay ba lần,’ ngoại trừ sự bố thí cao thượng của đức vua Vessantara cao quý. Tâu Đại vương, giữa hai vị Phật, Đức Thế Tôn Kassapa và Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, vô số ức năm đã trôi qua, và trong khoảng thời gian ấy, hạ thần cũng không nghe rằng ‘khi một người có tên tuổi nào đó thực hiện việc bố thí, đại địa đã rung chuyển một lần, hai lần, hay ba lần.’ Tâu Đại vương, không phải với chừng ấy tinh tấn, với chừng ấy nỗ lực mà đại địa rung chuyển đâu. Tâu Đại vương, vì nặng trĩu gánh nặng của các đức hạnh, nặng trĩu gánh nặng của các đức hạnh trong mọi hành vi thanh tịnh, đại địa không thể chịu đựng nổi nên mới dao động, rung chuyển, và chấn động.”