Bản dịch
MIL 5.4.10 — CÂU HỎI VỀ BẢN THỂ TOÀN TRI CỦA ĐỨC NHƯ LAI
10 Buddhasabbaññubhāvapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai là đấng Toàn Tri.’ Và thêm nữa, ngài nói rằng: ‘Khi hội chúng tỳ khưu đứng đầu là Sāriputta và Moggallāna bị đức Như Lai giải tán, các vị dòng Sakya ở tại Cātumā và Phạm Thiên Sahampati đã nhắc đến ví dụ về hạt giống và ví dụ về con bê nhỏ khiến cho đức Thế Tôn tin tưởng, tha thứ, và đã tỏ vẻ hài lòng.’
Thưa ngài Nāgasena, phải chăng đức Như Lai đã không biết đến các ví dụ ấy, và nhờ vào các ví dụ ấy mà đức Như Lai đã được thích thú, tha thứ, an tịnh, và đã tỏ vẻ hài lòng? Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai đã không biết đến các ví dụ ấy, như thế thì đức Phật không là đấng Toàn Tri. Nếu biết, như thế thì Ngài đã ép buộc dời đi, đã giải tán, không có ý định tìm hiểu, như thế thì lòng thương xót không hiện hữu ở Ngài. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Như Lai là đấng Toàn Tri. Và nhờ vào các ví dụ ấy mà đức Thế Tôn đã tin tưởng, thích thú, tha thứ, an tịnh, và đã tỏ vẻ hài lòng. Tâu đại vương, đức Như Lai là đấng Pháp Chủ. Nhờ vào các ví dụ đã được chính đức Như Lai công bố ấy mà các vị đã làm cho đức Như Lai được vừa ý, vui vẻ, tin tưởng. Và tin tưởng vào các vị ấy, đức Như Lai đã nói lời tùy hỷ rằng: ‘Tốt lắm!’
Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn bà nhờ vào tài sản của chính mình dành cho người chồng mà làm cho chồng được vừa ý, vui vẻ, tin tưởng. Và người chồng nói với cô ấy lời tùy hỷ rằng: ‘Tốt lắm!’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào các ví dụ đã được chính đức Như Lai công bố ấy mà các vị dòng Sakya ở tại Cātumā và Phạm Thiên Sahampati đã làm cho đức Như Lai được vừa ý, vui vẻ, tin tưởng. Và tin tưởng vào các vị ấy, đức Như Lai đã nói lời tùy hỷ rằng: ‘Tốt lắm!’
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như người thợ cạo, trong lúc trang điểm cái đầu của đức vua, nhờ vào cái lược vàng của chính mình dành cho đức vua mà làm cho đức vua được vừa ý, vui vẻ, tin tưởng. Và tin tưởng vào người ấy, đức vua nói lời tùy hỷ rằng: ‘Tốt lắm!’ rồi ban thưởng theo như ước muốn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào các ví dụ đã được chính đức Như Lai công bố ấy mà các vị dòng Sakya ở tại Cātumā và Phạm Thiên Sahampati đã làm cho đức Như Lai được vừa ý, vui vẻ, tin tưởng. Và tin tưởng vào các vị ấy, đức Như Lai đã nói lời tùy hỷ rằng: ‘Tốt lắm!’
Tâu đại vương, hoặc là giống như người đệ tử sau khi nhận lấy đồ ăn khất thực đã được mang lại cho thầy tế độ, trong khi dâng lên cho thầy tế độ mà làm cho thầy tế độ được vừa ý, vui vẻ, tin tưởng. Và tin tưởng vào người ấy, thầy tế độ nói lời tùy hỷ rằng: ‘Tốt lắm!’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào các ví dụ đã được chính đức Như Lai công bố ấy mà các vị dòng Sakya ở tại Cātumā và Phạm Thiên Sahampati đã làm cho đức Như Lai được vừa ý, vui vẻ, tin tưởng. Và tin tưởng vào các vị ấy, đức Như Lai sau khi nói lời tùy hỷ rằng: ‘Tốt lắm!’ rồi đã thuyết giảng Giáo Pháp đưa đến sự hoàn toàn giải thoát mọi khổ đau.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về bản thể toàn tri của đức Như Lai là thứ mười.
Phẩm về Trí Toàn Tri là thứ tư.
(Trong phẩm này có mười câu hỏi)
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. ‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘tathāgato sabbaññū’ti. Puna ca bhaṇatha ‘tathāgatena sāriputtamoggallānappamukhe bhikkhusaṅghe paṇāmite cātumeyyakā ca sakyā brahmā ca sahampati bījūpamañca vacchataruṇūpamañca upadassetvā bhagavantaṃ pasādesuṃ khamāpesuṃ nijjhattaṃ akaṃsū’ti. Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, aññātā tā upamā tathāgatassa, yāhi tathāgato upamāhi orato khamito upasanto nijjhattaṃ gato? Yadi, bhante nāgasena, tathāgatassa tā upamā aññātā, tena hi buddho asabbaññū, yadi ñātā, tena hi okassa pasayha vīmaṃsāpekkho paṇāmesi, tena hi tassa akāruññatā sambhavati. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
10. Venerable Nāgasena, you say, 'The Tathāgata is omniscient.' But you also say, 'When the Tathāgata had dismissed the community of monks headed by Sāriputta and Moggallāna, the Sakyans of Cātumā and Brahmā Sahampati, by presenting the simile of the seed and the simile of the young calf, pleased the Blessed One, obtained his forgiveness, and settled the matter.' Now, venerable Nāgasena, were those similes unknown to the Tathāgata, by which the Tathāgata was pleased, forgiving, pacified, and the matter was settled? If, venerable Nāgasena, those similes were unknown to the Tathāgata, then the Buddha is not omniscient. If they were known, then he dismissed them by force, wishing to test them, and in that case, a lack of compassion on his part arises. This two-horned dilemma has come to you; it must be resolved by you.
10. “Thưa ngài Nāgasena, các ngài nói rằng: ‘Như Lai là bậc Toàn Tri.’ Lại nữa, các ngài nói rằng: ‘Khi Như Lai trục xuất Tăng chúng do ngài Sāriputta và Moggallāna dẫn đầu, các vị Thích Ca ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati đã trình bày ví dụ về hạt giống và ví dụ về con bê con, làm cho Đức Thế Tôn hài lòng, xin Ngài kham nhẫn, và làm cho Ngài thấu hiểu.’ Thưa ngài Nāgasena, phải chăng những ví dụ ấy Như Lai đã không biết đến, những ví dụ mà nhờ đó Như Lai đã hoan hỷ, kham nhẫn, an tịnh, và đạt đến sự thấu hiểu? Thưa ngài Nāgasena, nếu Như Lai không biết những ví dụ ấy, thì Đức Phật không phải là bậc Toàn Tri. Nếu Ngài đã biết, thì Ngài đã trục xuất họ một cách cưỡng ép, áp đặt, với ý muốn dò xét, như vậy thì Ngài có thể bị xem là không có lòng bi mẫn. Vấn đề lưỡng nan này lại đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Sabbaññū, mahārāja, tathāgato, tāhi ca upamāhi bhagavā pasanno orato khamito upasanto nijjhattaṃ gato. Dhammassāmī, mahārāja, tathāgato, tathāgatappavediteheva te opammehi tathāgataṃ ārādhesuṃ tosesuṃ pasādesuṃ, tesañca tathāgato pasanno ‘sādhū’ti abbhānumodi.
The Tathāgata, great king, is omniscient. And by those similes, the Blessed One was pleased, delighted, reconciled, pacified, and the matter was settled. The Tathāgata, great king, is the Lord of the Dhamma. It was with the very similes taught by the Tathāgata that they gratified, satisfied, and pleased the Tathāgata. And the Tathāgata, being pleased with them, approved, saying, 'It is well.'
“Tâu Đại vương, Như Lai là bậc Toàn Tri, và chính nhờ những ví dụ ấy mà Đức Thế Tôn đã hoan hỷ, hài lòng, kham nhẫn, an tịnh, và đạt đến sự thấu hiểu. Tâu Đại vương, Như Lai là bậc Pháp Chủ. Chính bằng những ví dụ do Như Lai đã tuyên thuyết mà họ đã làm cho Như Lai vừa lòng, vui thích, và hoan hỷ. Và Như Lai, vì hoan hỷ với họ, đã tán thán rằng: ‘Lành thay!’”
‘‘Yathā, mahārāja, itthī sāmikassa santakeneva dhanena sāmikaṃ ārādheti toseti pasādeti, tañca sāmiko ‘sādhū’ti abbhānumodati, evameva kho, mahārāja, cātumeyyakā ca sakyā brahmā ca sahampati tathāgatappavediteheva opammehi tathāgataṃ ārādhesuṃ tosesuṃ pasādesuṃ, tesañca tathāgato pasanno ‘sādhū’ti abbhānumodi.
Just as, great king, a woman pleases, satisfies, and gladdens her husband with wealth belonging to the husband, and the husband approves of her, saying, 'Good,' just so, great king, the Sakyans of Cātumā and Brahmā Sahampati pleased, satisfied, and gladdened the Tathāgata with the very similes taught by the Tathāgata, and the Tathāgata, being pleased, approved of them, saying, 'Good.'
“Tâu Đại vương, ví như người vợ dùng chính tài sản của chồng để làm cho chồng vừa lòng, vui thích, và hoan hỷ, và người chồng ấy tán thán rằng: ‘Lành thay!’ Cũng vậy, tâu Đại vương, các vị Thích Ca ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati đã dùng chính những ví dụ do Như Lai đã tuyên thuyết để làm cho Như Lai vừa lòng, vui thích, và hoan hỷ. Và Như Lai, vì hoan hỷ với họ, đã tán thán rằng: ‘Lành thay!’”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, kappako rañño santakeneva suvaṇṇaphaṇakena rañño uttamaṅgaṃ pasādhayamāno rājānaṃ ārādheti toseti pasādeti, tassa ca rājā pasanno ‘sādhū’ti abbhānumodati, yathicchitamanuppadeti, evameva kho, mahārāja, cātumeyyakā ca sakyā brahmā ca sahampati tathāgatappavediteheva opammehi tathāgataṃ ārādhesuṃ tosesuṃ pasādesuṃ, tesañca tathāgato pasanno ‘sādhū’ti abbhānumodi.
Or again, great king, just as a barber, using the king's own golden comb to adorn the king's head, thereby gratifies, satisfies, and pleases the king; and the king, being pleased, approves, saying, 'It is well,' and grants whatever he wishes. Even so, great king, the Sakyans of Cātumā and Brahmā Sahampati gratified, satisfied, and pleased the Tathāgata with the very similes taught by the Tathāgata, and the Tathāgata, being pleased with them, approved, saying, 'It is well.'
“Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như người thợ cạo dùng chính chiếc lược vàng của đức vua để trang điểm đầu của đức vua, làm cho đức vua vừa lòng, vui thích, và hoan hỷ. Và đức vua, vì hoan hỷ, đã tán thán rằng: ‘Lành thay!’ và ban thưởng theo ý muốn. Cũng vậy, tâu Đại vương, các vị Thích Ca ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati đã dùng chính những ví dụ do Như Lai đã tuyên thuyết để làm cho Như Lai vừa lòng, vui thích, và hoan hỷ. Và Như Lai, vì hoan hỷ với họ, đã tán thán rằng: ‘Lành thay!’”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, saddhivihāriko upajjhāyābhataṃ piṇḍapātaṃ gahetvā upajjhāyassa upanāmento upajjhāyaṃ ārādheti toseti pasādeti, tañca upajjhāyo pasanno ‘sādhū’ti abbhānumodati, evameva kho, mahārāja, cātumeyyakā ca sakyā brahmā ca sahampati tathāgatappavediteheva opammehi tathāgataṃ ārādhesuṃ tosesuṃ pasādesuṃ, tesañca tathāgato pasanno ‘sādhū’ti abbhānumoditvā sabbadukkhaparimuttiyā dhammaṃ desesī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmīti.
Or again, great king, just as a co-resident pupil, taking the almsfood brought by his preceptor and presenting it to him, thereby gratifies, satisfies, and pleases his preceptor, and the preceptor, being pleased, approves, saying, 'It is well'; even so, great king, the Sakyans of Cātumā and Brahmā Sahampati gratified, satisfied, and pleased the Tathāgata with the very similes taught by the Tathāgata. And the Tathāgata, being pleased with them, approved, saying, 'It is well,' and then taught the Dhamma for the complete liberation from all suffering." "Excellent, venerable Nāgasena, I accept it to be just so.
“Hoặc lại nữa, tâu Đại vương, ví như người đệ tử sống chung, sau khi nhận vật thực khất thực do vị thầy tế độ mang về, dâng lên cho vị thầy tế độ, làm cho vị thầy tế độ vừa lòng, vui thích, và hoan hỷ. Và vị thầy tế độ, vì hoan hỷ, đã tán thán rằng: ‘Lành thay!’ Cũng vậy, tâu Đại vương, các vị Thích Ca ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati đã dùng chính những ví dụ do Như Lai đã tuyên thuyết để làm cho Như Lai vừa lòng, vui thích, và hoan hỷ. Và Như Lai, vì hoan hỷ, đã tán thán rằng: ‘Lành thay!’ rồi thuyết pháp để giải thoát khỏi mọi khổ đau.” “Lành thay, thưa ngài Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.”
Buddhasabbaññubhāvapañho dasamo.
The Tenth Question on the State of the Buddha's Omniscience.
Vấn đề về trạng thái Toàn Tri của Đức Phật, câu thứ mười.
Sabbaññutañāṇavaggo catuttho.
The Fourth Chapter on the Knowledge of Omniscience.
Phẩm về Trí Toàn Tri, phẩm thứ tư.
Imasmiṃ vagge dasa pañhā.
In this chapter are ten questions.
Trong phẩm này có mười vấn đề.