Bản dịch
MIL 5.4.8 — CÂU HỎI VỀ HOÀNG HẬU AMARĀ
8. Amarādevīpañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác.’
Và thêm nữa được thuật lại rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng’ là sai trái.
Nếu người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng, như thế thì lời nói rằng: ‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác’ cũng là sai trái.
Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến:
‘Nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý, tất cả các nữ nhân cũng có thể làm điều xấu xa, với cả người què quặt khi không đạt được kẻ nào khác.’
Và được thuật lại rằng: ‘Người đàn bà tên Amarā, vợ của Mahosadha, đã ở lại trong thôn khi chồng đi xa. Ngồi xuống trong phòng kín, cô quạnh, nàng đã xem chồng như là vị vua và đã không làm điều xấu xa trong khi được mời mọc với một ngàn đồng.’
Tâu đại vương, người đàn bà ấy trong khi nhận được một ngàn đồng có thể làm hành động xấu xa với người nam vừa ý, (hay) nàng ấy có thể không làm nếu có thể đạt được lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý?
Tâu đại vương, người đàn bà Amarā ấy, trong khi xem xét, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện hoặc chỗ kín đáo hoặc có được kẻ mời mọc là người vừa ý. Nàng đã không nhìn thấy do sợ hãi về sự chê trách ở đời này, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện do sợ hãi về địa ngục ở đời sau, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện (vì nghĩ rằng): ‘Việc xấu xa có quả thành tựu đắng cay,’ đã không nhìn thấy lúc thuận tiện vì không có ý muốn buông bỏ người yêu, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện do sự kính trọng đối với chồng, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện trong khi tôn kính Giáo Pháp, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện trong khi đang chê trách việc không thánh thiện, đã không nhìn thấy lúc thuận tiện vì không có ý muốn đổ bể việc làm. Nàng đã không nhìn thấy vì nhiều lý do có hình thức như thế.
Còn về chỗ kín đáo, sau khi suy xét ở thế gian, nàng ấy trong khi không nhìn thấy nên đã không làm điều xấu xa. Nếu nàng ấy có thể đạt được chỗ kín đáo đối với loài người, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với phi nhân. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với phi nhân, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với những vị xuất gia biết được tâm của người khác. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với những vị xuất gia biết được tâm của người khác, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với chư Thiên biết được tâm của người khác. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với chư Thiên biết được tâm của người khác, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với các điều xấu xa bởi chính mình. Nếu có thể đạt được chỗ kín đáo đối với các điều xấu xa bởi chính mình, thì có thể không đạt được chỗ kín đáo đối với điều phi pháp. Sau khi không đạt được chỗ kín đáo vì nhiều lý do có hình thức như thế, nàng đã không làm điều xấu xa.
Còn về kẻ mời mọc, sau khi xem xét ở thế gian, trong khi không đạt được người vừa ý, nàng ấy đã không làm điều xấu xa.
BJT 3Tâu đại vương, bậc sáng trí Mahosadha được hội đủ với hai mươi tám yếu tố. Được hội đủ với hai mươi tám yếu tố nào? Tâu đại vương, Mahosadha là bậc anh hùng, có tàm, có quý, có tùy tùng, đạt được bạn bè, nhẫn nại, có giới hạnh, nói lời chân thật, đạt được sự thanh tịnh, không giận dữ, không ngã mạn thái quá, không ganh tỵ, có sự tinh tấn, năng nổ (làm phước thiện), hào phóng, rộng rãi, nói năng khéo léo, cư xử khiêm tốn, tế nhị, không gian trá, không xảo quyệt, đạt được sự thông minh vượt bậc, khôn khéo, đạt được kiến thức, có sự tầm cầu lợi ích cho những người nương tựa, được mọi người mong mỏi, có tài sản, có danh vọng. Tâu đại vương, bậc sáng trí Mahosadha được hội đủ với hai mươi tám yếu tố này. Nàng ấy sau khi không đạt được kẻ mời mọc nào khác vừa ý, nàng ấy đã không làm điều xấu xa.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về hoàng hậu Amarā là thứ tám.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘‘Sace labhetha khaṇaṃ vā raho vā, nimantakaṃ † vāpi labhetha tādisaṃ;
Sabbāva † itthī kayiruṃ † nu pāpaṃ, aññaṃ aladdhā pīṭhasappinā saddhi’nti.
‘If they should find an opportunity or a secluded place, or should they find such a tempter, all women would indeed commit a wrongful act; finding no other, even with a cripple.’
‘Nếu có được cơ hội hoặc nơi kín đáo, hoặc có được người mời gọi tương xứng, tất cả phụ nữ ắt sẽ làm điều xấu. Nếu không tìm được người nào khác, họ cũng sẽ làm điều xấu cùng với người què cụt.’
‘‘Puna ca kathīyati ‘mahosadhassa bhariyā amarā nāma itthī gāmake ṭhapitā pavutthapatikā raho nisinnā vivittā rājappaṭisamaṃ sāmikaṃ karitvā sahassena nimantīyamānā pāpaṃ nākāsī’ti. Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘sace…pe… saddhi’nti tena hi ‘mahosadhassa bhariyā…pe… nākāsī’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi mahosadhassa bhariyā…pe… nākāsi, tena hi ‘sace…pe… saddhi’nti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“Furthermore, it is said: ‘The wife of Mahosadha, a woman named Amarā, was left in a village. Her husband was away, and she was sitting in seclusion, isolated. Regarding her husband as equal to a king, though invited with a thousand, she did no wrong.’ If, Venerable Nāgasena, the Blessed One said, ‘If… even with a cripple,’ then the statement that ‘Mahosadha’s wife… did no wrong’ would be false. If Mahosadha’s wife… did no wrong, then the statement ‘If… even with a cripple’ would also be false. This too is a dilemma with two horns that has come to you; it must be resolved by you.”
‘Lại nữa, có lời kể rằng: ‘Người phụ nữ tên Amarā, vợ của Mahosadha, bị bỏ lại trong một ngôi làng, xa chồng, ngồi một mình nơi kín đáo, vắng vẻ, dù được mời gọi với một ngàn (đồng tiền) bởi một người quyền thế như vua, đã không làm điều xấu.’ Thưa Đại đức Nāgasena, nếu Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Nếu…v.v… cùng với người què cụt,’ thì lời nói: ‘Vợ của Mahosadha…v.v… đã không làm điều xấu’ là sai lầm. Nếu vợ của Mahosadha…v.v… đã không làm điều xấu, thì lời nói: ‘Nếu…v.v… cùng với người què cụt’ cũng là sai lầm. Câu hỏi lưỡng nan này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.’
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘sace…pe… saddhi’nti. Kathīyati ca ‘mahosadhassa bhariyā …pe… nākāsī’ti. Kareyya sā, mahārāja, itthī sahassaṃ labhamānā tādisena purisena saddhiṃ pāpakammaṃ, na sā kareyya sace khaṇaṃ vā raho vā nimantakaṃ vāpi tādisaṃ labheyya, vicinantī sā, mahārāja, amarā itthī na addasa khaṇaṃ vā raho vā nimantakaṃ vāpi tādisaṃ.
“Great king, this was spoken by the Blessed One: ‘If… even with a cripple.’ And it is also said: ‘Mahosadha’s wife… did no wrong.’ A woman, great king, would commit a wrongful act with such a man for a thousand, but she would not do so unless she found an opportunity, a secluded place, or such a tempter. Searching, great king, the woman Amarā did not perceive an opportunity, a secluded place, or such a tempter.
‘Tâu Đại vương, điều này đã được Thế Tôn thuyết giảng rằng: ‘Nếu…v.v… cùng với người què cụt.’ Và cũng có lời kể rằng: ‘Vợ của Mahosadha…v.v… đã không làm điều xấu.’ Tâu Đại vương, người phụ nữ Amarā ấy, trong khi xem xét, đã không thấy có cơ hội, hoặc nơi kín đáo, hoặc người mời gọi tương xứng.
‘‘Idha loke garahabhayā khaṇaṃ na passi, paraloke nirayabhayā khaṇaṃ na passi, kaṭukavipākaṃ pāpanti khaṇaṃ na passi, piyaṃ amuñcitukāmā khaṇaṃ na passi, sāmikassa garukatāya khaṇaṃ na passi, dhammaṃ apacāyantī khaṇaṃ na passi, anariyaṃ garahantī khaṇaṃ na passi, kiriyaṃ abhinditukāmā khaṇaṃ na passi. Evarūpehi bahūhi kāraṇehi khaṇaṃ na passi.
“In this world, from fear of blame, she perceived no opportunity. In the next world, from fear of hell, she perceived no opportunity. Reflecting that a wrongful act has a bitter result, she perceived no opportunity. Wishing not to forsake her beloved, she perceived no opportunity. Out of respect for her husband, she perceived no opportunity. Revering the Dhamma, she perceived no opportunity. Despising ignoble conduct, she perceived no opportunity. Wishing not to break her own code of conduct, she perceived no opportunity. For these many reasons, she perceived no opportunity.
‘Ở đời này, do sợ sự chê bai nên (nàng) không thấy có cơ hội; ở đời sau, do sợ cái khổ nơi địa ngục nên không thấy có cơ hội; do suy xét rằng việc ác có quả báo cay đắng nên không thấy có cơ hội; do không muốn rời xa người thân yêu nên không thấy có cơ hội; do lòng tôn trọng người chồng nên không thấy có cơ hội; do tôn kính Chánh pháp nên không thấy có cơ hội; do ghê tởm hành vi không cao thượng nên không thấy có cơ hội; do không muốn phá vỡ bổn phận của mình nên không thấy có cơ hội. Do nhiều nguyên nhân như vậy nên (nàng) không thấy có cơ hội.
‘‘Rahopi sā loke vicinitvā apassantī pāpaṃ nākāsi. Sace sā manussehi raho labheyya, atha amanussehi raho na labheyya. Sace amanussehi raho labheyya, atha paracittavidūhi pabbajitehi raho na labheyya. Sace paracittavidūhi pabbajitehi raho labheyya, atha paracittavidūnīhi devatāhi raho na labheyya. Sace paracittavidūnīhi devatāhi raho labheyya, attanāva pāpehi raho na labheyya. Sace attanāva pāpehi raho labheyya, atha adhammena raho na labheyya. Evarūpehi bahuvidhehi kāraṇehi raho alabhitvā pāpaṃ nākāsi.
“Also, searching the world for a secluded place and not perceiving one, she did no wrong. If she were to find a place secluded from humans, she would not find one secluded from non-humans. If she were to find a place secluded from non-humans, she would not find one secluded from ascetics who know the minds of others. If she were to find a place secluded from ascetics who know the minds of others, she would not find one secluded from deities who know the minds of others. If she were to find a place secluded from deities who know the minds of others, she would not find seclusion from her own self. If she were to find seclusion from her own self, she would not find seclusion from unrighteousness. For these many varied reasons, not finding a secluded place, she did no wrong.
‘Nàng ấy ở đời, sau khi tìm kiếm nơi kín đáo mà không thấy, đã không làm điều ác. Nếu nàng có được nơi kín đáo đối với loài người, thì cũng không có được nơi kín đáo đối với phi nhân. Nếu có được nơi kín đáo đối với phi nhân, thì cũng không có được nơi kín đáo đối với các vị xuất gia có tha tâm thông. Nếu có được nơi kín đáo đối với các vị xuất gia có tha tâm thông, thì cũng không có được nơi kín đáo đối với các vị chư thiên có tha tâm thông. Nếu có được nơi kín đáo đối với các vị chư thiên có tha tâm thông, thì tự mình cũng không có được nơi kín đáo đối với các điều ác. Nếu tự mình có được nơi kín đáo đối với các điều ác, thì cũng không có được nơi kín đáo đối với phi pháp. Do không có được nơi kín đáo vì nhiều nguyên nhân đa dạng như vậy, nên nàng đã không làm điều ác.
‘‘Nimantakampi sā loke vicinitvā tādisaṃ alabhantī pāpaṃ nākāsi. Mahosadho, mahārāja, paṇḍito aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato. Katamehi aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato? Mahosadho, mahārāja, sūro hirimā ottappī sapakkho mittasampanno khamo sīlavā saccavādī soceyyasampanno akkodhano anatimānī anusūyako vīriyavā āyūhako saṅgāhako saṃvibhāgī sakhilo nivātavutti saṇho asaṭho amāyāvī atibuddhisampanno kittimā vijjāsampanno hitesī upanissitānaṃ patthito sabbajanassa dhanavā yasavā. Mahosadho, mahārāja, paṇḍito imehi aṭṭhavīsatiyā aṅgehi samannāgato. Sā aññaṃ tādisaṃ nimantakaṃ alabhitvā pāpaṃ nākāsī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Also, searching the world for such a tempter and not finding one, she committed no wrong. Great king, Mahosadha the wise is endowed with twenty-eight qualities. With which twenty-eight qualities is he endowed? Great king, Mahosadha is heroic, conscientious, fearful of wrongdoing, has his own faction, is endowed with friends, is patient, virtuous, truthful, endowed with purity, not given to anger, not arrogant, not envious, energetic, an organizer, a unifier, one who shares, is friendly, humble in manner, gentle, not fraudulent, not deceitful, endowed with exceeding wisdom, famous, endowed with knowledge, a well-wisher to his dependents, desired by all people, wealthy, and renowned. Great king, Mahosadha the wise is endowed with these twenty-eight qualities. Not finding another tempter like him, she committed no wrong.” “Good, Venerable Nāgasena! So it is; I accept it thus.”
‘Nàng ấy ở đời, sau khi tìm kiếm cũng không tìm được một người mời gọi nào như vậy, nên đã không làm điều ác. Tâu Đại vương, hiền sĩ Mahosadha hội đủ hai mươi tám phẩm chất. Hội đủ hai mươi tám phẩm chất nào? Tâu Đại vương, Mahosadha là người dũng cảm, có tàm, có quý, có phe phái, có nhiều bạn tốt, có lòng kiên nhẫn, có giới hạnh, nói lời chân thật, có sự trong sạch, không sân hận, không quá kiêu mạn, không ganh tỵ, có tinh tấn, có nỗ lực, biết nhiếp phục, biết chia sẻ, nói lời mềm mỏng, có thái độ khiêm hạ, tế nhị, không xảo trá, không lừa dối, có trí tuệ siêu việt, có danh tiếng, có học thức, mưu cầu lợi ích cho những người nương tựa, được mọi người mong mỏi, có tài sản, có danh vọng. Tâu Đại vương, hiền sĩ Mahosadha hội đủ hai mươi tám phẩm chất này. Nàng ấy do không tìm được một người mời gọi nào khác như vậy, nên đã không làm điều ác.’ ‘Lành thay, thưa ngài Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.’
Amarādevīpañho aṭṭhamo.
The eighth question concerning Amarādevī is concluded.
Câu hỏi về nàng Amarādevī, phần thứ tám.