Bản dịch
MIL 5.4.7 — CÂU HỎI VỀ SỰ BẰNG NHAU CỦA THIỆN VÀ BẤT THIỆN
7 Kusalākusalasamavisamapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, quả thành tựu của người làm việc thiện cũng như của người làm việc bất thiện là tương đương nhau? Hay là có sự khác biệt nào đó?”
“Tâu đại vương, có sự khác biệt giữa thiện và bất thiện. Tâu đại vương, thiện có an lạc là quả thành tựu, đưa đến cõi trời. Bất thiện có khổ đau là quả thành tựu, đưa đến địa ngục.”
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Devadatta thuần đen, hội đủ các pháp thuần đen. Đức Bồ Tát thuần trắng, hội đủ các pháp thuần trắng.’ Thêm nữa, Devadatta với đức Bồ Tát trong từng kiếp một là tương đương nhau về danh vọng và đồ chúng, hoặc đôi lúc trội hơn. Vào lúc Devadatta đã là con trai viên quan tế tự của đức vua Brahmadatta ở thành Bārāṇasī, khi ấy đức Bồ Tát đã là người thầy pháp có dòng dõi hạ tiện đáng thương, sau khi đọc thầm thần chú đã làm trổ ra các trái xoài sái mùa. Khi ở vào trường hợp ấy, đức Bồ Tát là thấp kém về dòng dõi và thấp kém về danh vọng so với Devadatta.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là vị vua, chủ tể của đại địa cầu, có đầy đủ tất cả các dục, khi ấy đức Bồ Tát đã là vật sử dụng của nhà vua, là con long tượng có đủ mọi tướng tốt. Trong khi bị khó chịu với cử chỉ và điệu bộ duyên dáng của con voi, đức vua trong khi muốn giết nên đã nói với người thầy dạy voi như vầy: ‘Này ông thầy, con long tượng này không được ngươi dạy dỗ, ngươi hãy cho nó thực hiện việc tên là ‘đi trên không trung’ đi.’ Luôn cả trường hợp ấy, đức Bồ Tát là loài thú đáng thương, thấp kém về dòng dõi so với Devadatta.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài người, kẻ bị phá sản, ở trong rừng, khi ấy đức Bồ Tát đã là con khỉ tên Mahāpaṭhavī. Cho đến lần này thì sự khác biệt giữa người và thú được nhận thấy. Luôn cả trường hợp ấy, đức Bồ Tát là thấp kém về dòng dõi so với Devadatta.
BJT 3Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài người, là kẻ thợ săn mạnh mẽ tên Soṇuttara, có sức mạnh hơn cả sức mạnh của con voi, khi ấy đức Bồ Tát đã là con voi chúa tên Chaddanta. Khi ấy, gã thợ săn ấy đã giết chết con long tượng ấy. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài người, là kẻ sống ở rừng, sống không có chỗ ở, khi ấy đức Bồ Tát đã là loài chim, là con chim đa đa có sự học tập về chú thuật. Khi ấy, kẻ sống ở rừng ấy cũng đã giết chết con chim ấy. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về dòng dõi.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là vua xứ Kāsi tên Kalābu, khi ấy đức Bồ Tát đã là vị đạo sĩ khổ hạnh giảng về sự kham nhẫn. Khi ấy, vị vua ấy, bị nổi giận, đã cho chặt đứt các bàn tay và bàn chân của vị đạo sĩ khổ hạnh ấy như là chém các chồi măng non. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về dòng dõi và danh vọng.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài người, là kẻ sống ở rừng, khi ấy đức Bồ Tát đã là con khỉ chúa tên Nandiya. Cũng vào khi ấy, kẻ sống ở rừng ấy đã giết chết con khỉ chúa ấy cùng với khỉ mẹ và khỉ em. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về dòng dõi.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài người, là đạo sĩ lõa thể tên Kārambhiya, khi ấy đức Bồ Tát đã là con rồng chúa tên Paṇḍaraka. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về dòng dõi.
BJT 4Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài người, là đạo sĩ bện tóc ở trong rừng. khi ấy đức Bồ Tát đã là con heo rừng lớn tên Tacchaka. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về dòng dõi.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là đức vua tên Suraparicara của xứ Cetī, có sự di chuyển trong không trung, ở bầu trời, phía bên trên của đám người, khi ấy đức Bồ Tát đã là vị Bà-la-môn tên Kapila. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về dòng dõi và danh vọng.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài người, có tên là Sāma, khi ấy đức Bồ Tát đã là con nai chúa có tên Ruru. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về dòng dõi.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài người, là thợ săn sống ở rừng, khi ấy đức Bồ Tát đã là con long tượng. Kẻ thợ săn ấy đã bảy lần cắt lấy ngà của con long tượng ấy rồi mang đi. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về nguồn gốc xuất thân.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài chó rừng, có tư cách của dòng dõi Sát-đế-lỵ, nó đã làm cho hết thảy tất cả những vị vua của các xứ sở ở Jambudīpa trở thành chư hầu, khi ấy đức Bồ Tát đã là bậc sáng trí tên Vidhura. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn về danh vọng.
BJT 5Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là con long tượng, nó đã giết những chim con của con chim cút, khi ấy đức Bồ Tát cũng đã là con long tượng, chúa của một bầy. Cho đến trường hợp ấy, cả hai đã là tương đương nhau.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là loài Dạ-xoa tên Adhamma, khi ấy đức Bồ Tát cũng đã là loài Dạ-xoa tên Dhamma. Luôn cả trường hợp ấy, cả hai cũng đã là tương đương nhau.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là thuyền trưởng, là người chỉ huy của năm trăm gia đình, khi ấy đức Bồ Tát cũng đã là thuyền trưởng, là người chỉ huy của năm trăm gia đình. Luôn cả trường hợp ấy, cả hai cũng đã là tương đương nhau.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là người chỉ đạo đoàn xe, là người chỉ huy năm trăm cỗ xe, khi ấy đức Bồ Tát cũng đã là người chỉ đạo đoàn xe, là người chỉ huy năm trăm cỗ xe. Luôn cả trường hợp ấy, cả hai cũng đã là tương đương nhau.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là con nai chúa tên Sākha, khi ấy đức Bồ Tát cũng đã là con nai chúa tên Nigrodha. Luôn cả trường hợp ấy, cả hai cũng đã là tương đương nhau.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là vị tướng quân tên Sākha, khi ấy đức Bồ Tát đã là vị vua tên Nigrodha. Luôn cả trường hợp ấy, cả hai cũng đã là tương đương nhau.
BJT 6Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là vị Bà-la-môn tên Khaṇḍahāla, khi ấy đức Bồ Tát đã là vị vương tử tên Canda. Khi ấy, chính Khaṇḍahāla này là trội hơn.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là vị vua tên Brahmadatta, khi ấy đức Bồ Tát đã là vị hoàng tử tên Mahāpaduma, con trai của vị vua ấy. Khi ấy, vị vua ấy đã ra lệnh ném người con trai của mình xuống Corapapāta (khe núi kẻ cướp). ‘Bởi vì ở mọi nơi, chính người cha là đặc biệt, là trội hơn những người con trai,’ như thế luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là trội hơn.
Còn có điều khác nữa, vào lúc Devadatta đã là vị vua tên Mahāpatāpa, khi ấy đức Bồ Tát đã là vị hoàng tử tên Dhammapāla, con trai của vị vua ấy. Khi ấy, vị vua ấy đã ra lệnh chặt các bàn tay bàn chân và đầu của người con trai của mình. Luôn cả trường hợp ấy, chính Devadatta là cao hơn, trội hơn.
Vào lúc này hôm nay, cả hai cũng đã sanh vào gia tộc Sakya. Đức Bồ Tát đã trở thành đức Phật, đấng Toàn Tri, vị Lãnh Đạo Thế Gian, còn Devadatta sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của vị Chúa của chư Thiên ấy, đã làm sanh khởi thần thông, và đã thể hiện ước muốn làm Phật.
Thưa ngài Nāgasena, phải chăng điều đã được Trẫm nói, mọi điều ấy đều là như thế ấy, hay là như thế khác?”
BJT 7“Tâu đại vương, tất cả mọi lý do theo nhiều loại đã được ngài dẫn giải ấy đều y như thế ấy, không phải như thế khác.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đen cũng như trắng là có cảnh giới tái sanh tương đương nhau, như thế thì phải chăng thiện cũng như bất thiện có quả thành tựu tương đương nhau?”
“Tâu đại vương, không phải thiện cũng như bất thiện là có quả thành tựu tương đương nhau. Tâu đại vương, không hẳn là Devadatta đã chống đối lại tất cả mọi người, đã chống đối lại chính đức Bồ Tát. Mà sự chống đối của vị ấy đối với đức Bồ Tát được chín muồi và trổ quả ngay trong mỗi một kiếp sống ấy.
Tâu đại vương, ngay cả Devadatta khi được đặt vào ở vị thế quyền lực cũng ban bố sự bảo vệ đến các xứ sở, cũng cho xây dựng cầu cống, hội trường, phước xá, cũng dâng cúng vật thí theo như mong mỏi đến các Sa-môn và Bà-la-môn, đến những người khốn khổ và nghèo khó có sự bảo hộ hoặc không có sự bảo hộ. Do quả thành tựu của điều ấy, Devadatta đạt được các sự thành tựu trong từng kiếp sống một. Tâu đại vương, đối với người nào mà có thể nói về điều này: ‘Sẽ hưởng thụ sự thành tựu mà không cần bố thí, rèn luyện, thu thúc, thực hành trai giới?’
Tâu đại vương, hơn nữa về điều mà đại vương nói như vầy: ‘Devadatta và đức Bồ Tát tuần tự luân chuyển chung với nhau,’ việc gặp gỡ ấy đã xảy ra không phải với sự trải qua của trăm kiếp sống, không phải với sự trải qua của ngàn kiếp sống, không phải với sự trải qua của trăm ngàn kiếp sống, mà đôi lúc đôi khi đã xảy ra với sự trải qua của nhiều ngày đêm. Tâu đại vương, hơn nữa về ví dụ về con rùa mù đã được đức Thế Tôn chỉ ra về (sự khó khăn trong) việc thành tựu bản thể nhân loại. Tâu đại vương, hãy ghi nhận việc gặp gỡ của hai người này là (khó khăn) tương tợ như thế.
Tâu đại vương, không phải đã xảy ra sự gặp gỡ của đức Bồ Tát với riêng Devadatta, tâu đại vương, trưởng lão Sāriputta trong nhiều trăm ngàn kiếp sống cũng đã là cha, đã là ông nội, đã là chú, đã là anh (em) trai, đã là con trai, đã là chị (em) gái, đã là bạn bè của đức Bồ Tát. Tâu đại vương, đức Bồ Tát trong nhiều trăm ngàn kiếp sống cũng đã là cha, đã là ông nội, đã là chú, đã là anh (em) trai, đã là con trai, đã là chị (em) gái, đã là bạn bè của trưởng lão Sāriputta. Tâu đại vương, thậm chí tất cả (những ai) đã được gộp vào thành phần chúng sanh, bị xuôi theo dòng chảy luân hồi, bị cuốn trôi bởi dòng chảy luân hồi, đều gặp gỡ với những người ghét lẫn người thương.
Tâu đại vương, giống như nước, trong khi bị cuốn trôi theo dòng thì gặp gỡ với vật sạch, dơ, đẹp, xấu, tâu đại vương, tương tợ y như thế thậm chí tất cả (những ai) đã được gộp vào thành phần chúng sanh, bị xuôi theo dòng chảy luân hồi, bị cuốn trôi bởi dòng chảy luân hồi, đều gặp gỡ với những người ghét lẫn người thương.
Tâu đại vương, Devadatta trong khi là Dạ-xoa với bản thân theo phi pháp, sau khi khuyến khích những người khác theo phi pháp đã bị nung nấu ở đại địa ngục trong năm trăm bảy mươi sáu triệu năm. Tâu đại vương, còn đức Bồ Tát trong khi là Dạ-xoa với bản thân theo đúng pháp, sau khi khuyến khích những người khác theo đúng pháp đã vui sướng ở cõi trời, có đầy đủ tất cả các dục, trong năm trăm bảy mươi sáu triệu năm.
Tâu đại vương, hơn nữa Devadatta trong kiếp sống này sau khi công kích đức Phật là bậc không nên công kích, sau khi chia rẽ Hội Chúng hòa hợp, đã đi vào trái đất. Đức Như Lai, sau khi được giác ngộ tất cả các pháp, rồi đã viên tịch Niết Bàn khi có sự tiêu diệt của các mầm tái sanh.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự bằng nhau của thiện và bất thiện là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. ‘‘Bhante nāgasena ‘kusalakārissapi akusalakārissapi vipāko samasamo, udāhu koci viseso atthī’ti? ‘‘Atthi, mahārāja, kusalassa ca akusalassa ca viseso, kusalaṃ, mahārāja, sukhavipākaṃ saggasaṃvattanikaṃ, akusalaṃ dukkhavipākaṃ nirayasaṃvattanika’’nti.
7. “Venerable Nāgasena, is the result for one who does wholesome deeds and for one who does unwholesome deeds the very same, or is there some difference?” “There is a difference, great king, between the wholesome and the unwholesome. The wholesome, great king, has a happy result and leads to heaven; the unwholesome has a painful result and leads to hell.”
7. Thưa ngài Nāgasena, quả của người làm điều thiện và của người làm điều bất thiện là tương đồng như nhau, hay là có sự dị biệt nào không? – Tâu Đại vương, có sự dị biệt của thiện và của bất thiện. Tâu Đại vương, điều thiện có quả là an lạc, đưa đến sanh thiên, điều bất thiện có quả là đau khổ, đưa đến sanh địa ngục.
‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘devadatto ekantakaṇho, ekantakaṇhehi dhammehi samannāgato, bodhisatto ekantasukko, ekantasukkehi dhammehi samannāgato’ti. Puna ca devadatto bhave bhave yasena ca pakkhena ca bodhisattena samasamo hoti, kadāci adhikataro vā. Yadā devadatto nagare bārāṇasiyaṃ brahmadattassa rañño purohitaputto ahosi, tadā bodhisatto chavakacaṇḍālo ahosi vijjādharo, vijjaṃ parijappitvā akāle ambaphalāni nibbattesi, ettha tāva bodhisatto devadattato jātiyā nihīno yasena ca nihīno.
“Venerable Nāgasena, you say, ‘Devadatta is exclusively black, endowed with exclusively black qualities; the Bodhisatta is exclusively white, endowed with exclusively white qualities.’ And yet, in life after life, Devadatta is equal to the Bodhisatta in fame and following, and sometimes even superior. When Devadatta was the son of King Brahmadatta’s royal chaplain in the city of Bārāṇasī, the Bodhisatta was a low-caste caṇḍāla, a master of spells. By reciting a spell, he produced mango fruits out of season. In that instance, the Bodhisatta was inferior to Devadatta in birth and in fame.”
Thưa ngài Nāgasena, các ngài nói rằng: ‘Devadatta là hoàn toàn đen tối, hội đủ các pháp hoàn toàn đen tối. Vị Bồ-tát là hoàn toàn trong trắng, hội đủ các pháp hoàn toàn trong trắng.’ Và ngoài ra, Devadatta trong mỗi kiếp sống đã tương đồng như nhau với vị Bồ-tát về danh tiếng và về phe phái, hoặc có khi còn vượt trội hơn. Khi Devadatta là con trai của vị tế sư của vua Brahmadatta ở tại thành Bārāṇasī, khi ấy vị Bồ-tát là người thuộc giai cấp thấp hèn, là người nắm giữ minh chú. Sau khi trì tụng minh chú, vị ấy đã làm cho các quả xoài sanh khởi trái mùa. Trong trường hợp này, trước tiên vị Bồ-tát đã thấp kém hơn Devadatta về dòng dõi và thấp kém về danh tiếng.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto rājā ahosi mahā mahīpati sabbakāmasamaṅgī, tadā bodhisatto tassūpabhogo ahosi hatthināgo sabbalakkhaṇasampanno, tassa cārugativilāsaṃ asahamāno rājā vadhamicchanto hatthācariyaṃ evamavoca ‘asikkhito te, ācariya, hatthināgo, tassa ākāsagamanaṃ nāma kāraṇaṃ karohī’ti, tatthapi tāva bodhisatto devadattato jātiyā nihīno lāmako tiracchānagato.
“Furthermore, when Devadatta was a great king, a mighty sovereign endowed with all sensual pleasures, the Bodhisatta was his state elephant, endowed with all the auspicious marks. Unable to endure its graceful and charming gait, the king, wishing for its death, said to the elephant trainer, ‘Teacher, your great elephant is untrained. Make it perform the feat called “sky-traveling”.’ In that instance as well, the Bodhisatta was inferior to Devadatta in birth—lowly, and born into the animal realm.”
Và một lần khác nữa, khi Devadatta là vị vua, là bậc đại địa chủ, hội đủ tất cả các dục, khi ấy vị Bồ-tát là con voi chúa được vị ấy sử dụng, hội đủ tất cả các tướng tốt. Do không thể chịu đựng được dáng đi duyên dáng và phong nhã của nó, nhà vua trong khi muốn giết nó đã nói với người nài voi như vầy: ‘Này người thầy, con voi chúa của ngươi chưa được huấn luyện. Ngươi hãy thực hiện cho nó việc gọi là đi trên không trung.’ Trong trường hợp ấy, trước tiên vị Bồ-tát đã thấp kém hơn Devadatta về dòng dõi, là thấp hèn, thuộc loài bàng sanh.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto manusso ahosi pavane naṭṭhāyiko, tadā bodhisatto mahāpathavī nāma makkaṭo ahosi, etthapi tāva dissati viseso manussassa ca tiracchānagatassa ca, tatthapi tāva bodhisatto devadattato jātiyā nihīno.
“Furthermore, when Devadatta was a man in the forest searching for what was lost, the Bodhisatta was a monkey named Mahāpathavī. Here too a difference is seen between a human being and one born into the animal realm. In that instance as well, the Bodhisatta was inferior to Devadatta in birth.”
Lại nữa, khi Devadatta là một người đi tìm bò lạc trong rừng, khi ấy Bồ-tát là một con khỉ tên là Mahāpathavī. Ngay cả ở đây, trước hết, sự khác biệt giữa con người và loài bàng sanh được thấy rõ. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, Bồ-tát đã thấp kém hơn Devadatta về phương diện dòng dõi.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto manusso ahosi soṇuttaro nāma nesādo balavā balavataro nāgabalo, tadā bodhisatto chaddanto nāma nāgarājā ahosi. Tadā so luddako taṃ hatthināgaṃ ghātesi, tatthapi tāva devadattova adhikataro.
“Furthermore, when Devadatta was a man, a hunter named Soṇuttara, who was strong, exceedingly strong, with the strength of a great elephant, the Bodhisatta was the king of elephants named Chaddanta. Then that hunter killed that great elephant. In that instance as well, it was Devadatta who was superior.”
Lại nữa, khi Devadatta là một người thợ săn tên là Soṇuttara, một người rất mạnh mẽ, có sức mạnh như voi, khi ấy Bồ-tát là một vị vua loài voi tên là Chaddanta. Khi ấy, người thợ săn đó đã giết chết vị voi chúa ấy. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto manusso ahosi vanacarako aniketavāsī, tadā bodhisatto sakuṇo ahosi tittiro mantajjhāyī, tadāpi so vanacarako taṃ sakuṇaṃ ghātesi, tatthapi tāva devadattova jātiyā adhikataro.
Furthermore, when Devadatta was a human, a wandering forest-dweller without a home, the Bodhisatta was a partridge, a reciter of spells. Then that forest-dweller killed that partridge. Even in that birth, Devadatta himself was superior by birth.
Lại nữa, khi Devadatta là một người sống trong rừng, không nhà cửa, khi ấy Bồ-tát là một con chim đa đa biết tụng chú thuật. Khi ấy, người sống trong rừng đó cũng đã giết chết con chim ấy. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện dòng dõi.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto kalābu nāma kāsirājā † ahosi, tadā bodhisatto tāpaso ahosi khantivādī. Tadā so rājā tassa tāpasassa kuddho hatthapāde vaṃsakaḷīre viya chedāpesi, tatthapi tāva devadatto yeva adhikataro jātiyā ca yasena ca.
Furthermore, when Devadatta was the king of Kāsi, named Kalābu, the Bodhisatta was an ascetic named Khantivādī. Then that king, being enraged, had that ascetic’s hands and feet cut off like bamboo shoots. Even in that birth, Devadatta himself was superior in birth and in fame.
Lại nữa, khi Devadatta là vua xứ Kāsi tên là Kalābu, khi ấy Bồ-tát là một vị đạo sĩ tên là Khantīvādī. Khi ấy, vị vua đó nổi giận với vị đạo sĩ ấy, đã sai người chặt tay chân (của vị ấy) như chặt măng tre. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện dòng dõi và danh vọng.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto manusso ahosi vanacaro, tadā bodhisatto nandiyo nāma vānarindo ahosi, tadāpi so vanacaro taṃ vānarindaṃ ghātesi saddhiṃ mātarā kaniṭṭhabhātikena ca, tatthapi tāva devadatto yeva adhikataro jātiyā.
Furthermore, when Devadatta was a human, a forest-dweller, the Bodhisatta was a monkey king named Nandiya. Then that forest-dweller killed that monkey king, together with his mother and younger brother. Even in that birth, Devadatta himself was superior by birth.
Lại nữa, khi Devadatta là một người sống trong rừng, khi ấy Bồ-tát là một vị vua loài khỉ tên là Nandiya. Khi ấy, người sống trong rừng đó cũng đã giết chết vị vua khỉ ấy cùng với mẹ và em trai. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện dòng dõi.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto manusso ahosi acelako kārambhiyo nāma, tadā bodhisatto paṇḍarako nāma nāgarājā ahosi, tatthapi tāva devadatto yeva adhikataro jātiyā.
Furthermore, when Devadatta was a human, a naked ascetic named Kārambhiya, the Bodhisatta was a Nāga king named Paṇḍaraka. Even in that birth, Devadatta himself was superior by birth.
Lại nữa, khi Devadatta là một người lõa thể tên là Kārambhiya, khi ấy Bồ-tát là một vị vua loài rồng tên là Paṇḍaraka. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện dòng dõi.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto manusso ahosi pavane jaṭilako, tadā bodhisatto tacchako nāma mahāsūkaro ahosi, tatthapi tāva devadatto yeva jātiyā adhikataro.
Furthermore, when Devadatta was a human, a matted-hair ascetic in the forest, the Bodhisatta was a great boar named Tacchaka. Even in that birth, Devadatta himself was superior by birth.
Lại nữa, khi Devadatta là một đạo sĩ bện tóc ở trong rừng, khi ấy Bồ-tát là một con heo rừng lớn tên là Tacchaka. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện dòng dõi.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto cetīsu sūraparicaro nāma rājā ahosi upari purisamatte gagane vehāsaṅgamo, tadā bodhisatto kapilo nāma brāhmaṇo ahosi, tatthapi tāva devadatto yeva adhikataro jātiyā ca yasena ca.
Furthermore, when Devadatta was a king among the Cetis named Sūraparicara, who could travel in the sky at a man's height above the ground, the Bodhisatta was a brahmin named Kapila. Even in that birth, Devadatta himself was superior in birth and in fame.
Lại nữa, khi Devadatta là vua ở xứ Ceti tên là Sūraparicara, có thể đi trên hư không ở độ cao bằng một thân người, khi ấy Bồ-tát là một vị Bà-la-môn tên là Kapila. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện dòng dõi và danh vọng.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto manusso ahosi sāmo nāma, tadā bodhisatto ruru nāma migarājā ahosi, tatthapi tāva devadatto yeva jātiyā adhikataro.
Furthermore, when Devadatta was a man named Sāma, the Bodhisatta was a deer king named Ruru. Even in that birth, Devadatta himself was superior by birth.
Lại nữa, khi Devadatta là một người tên là Sāma, khi ấy Bồ-tát là một vị vua loài nai tên là Ruru. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện dòng dõi.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto manusso ahosi luddako pavanacaro, tadā bodhisatto hatthināgo ahosi, so luddako tassa hatthināgassa sattakkhattuṃ dante chinditvā hari, tatthapi tāva devadatto yeva yoniyā adhikataro.
Furthermore, when Devadatta was a human, a hunter roaming the forest, the Bodhisatta was a great elephant. That hunter cut off that great elephant's tusks seven times and carried them away. Even in that birth, Devadatta himself was superior by birth.
Lại nữa, khi Devadatta là một người thợ săn sống trong rừng, khi ấy Bồ-tát là một con voi chúa. Người thợ săn đó đã bảy lần chặt ngà của con voi chúa ấy rồi lấy đi. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện dòng dõi.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto siṅgālo ahosi khattiyadhammo, so yāvatā jambudīpe padesarājāno te sabbe anuyutte akāsi, tadā bodhisatto vidhuro nāma paṇḍito ahosi, tatthapi tāva devadatto yeva yasena adhikataro.
Furthermore, when Devadatta was a jackal of kingly nature, he brought all the regional kings in Jambudīpa under his sway. Then the Bodhisatta was a wise man named Vidhura. Even in that birth, Devadatta himself was superior in fame.
Lại nữa, khi Devadatta là một con chó rừng có phẩm chất của dòng Sát-đế-lỵ, nó đã thách đấu với tất cả các vị tiểu vương ở cõi Diêm-phù-đề. Khi ấy, Bồ-tát là một bậc hiền trí tên là Vidhura. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn về phương diện danh vọng.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto hatthināgo hutvā laṭukikāya sakuṇikāya puttake ghātesi, tadā bodhisattopi hatthināgo ahosi yūthapati, tattha tāva ubhopi te samasamā ahesuṃ.
Furthermore, when Devadatta, having become a great elephant, killed the young of a quail hen, the Bodhisatta was also a great elephant, a herd-leader. In that birth, they were both equal.
Lại nữa, khi Devadatta, sau khi trở thành một con voi chúa, đã giết chết các con của một con chim ri mái, khi ấy Bồ-tát cũng là một con voi chúa, một con đầu đàn. Ở đó, trước hết, cả hai vị ấy đã ngang bằng nhau.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto yakkho ahosi adhammo nāma, tadā bodhisattopi yakkho ahosi dhammo nāma, tatthapi tāva ubhopi samasamā ahesuṃ.
Furthermore, when Devadatta was a yakkha named Adhamma, the Bodhisatta was also a yakkha named Dhamma. Even in that birth, they were both equal.
Lại nữa, khi Devadatta là một vị dạ-xoa tên là Adhamma, khi ấy Bồ-tát cũng là một vị dạ-xoa tên là Dhamma. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, cả hai vị đã ngang bằng nhau.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto nāviko ahosi pañcannaṃ kulasatānaṃ issaro, tadā bodhisattopi nāviko ahosi pañcannaṃ kulasatānaṃ issaro, tatthapi tāva ubhopi samasamā ahesuṃ.
Furthermore, when Devadatta was a ship's captain, master of five hundred families, the Bodhisatta was also a ship's captain, master of five hundred families. Even in that birth, they were both equal.
Lại nữa, khi Devadatta là một người lái thuyền, chủ của năm trăm gia tộc, khi ấy Bồ-tát cũng là một người lái thuyền, chủ của năm trăm gia tộc. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, cả hai vị đã ngang bằng nhau.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto satthavāho ahosi pañcannaṃ sakaṭasatānaṃ issaro, tadā bodhisattopi satthavāho ahosi pañcannaṃ sakaṭasatānaṃ issaro, tatthapi tāva ubhopi samasamā ahesuṃ.
Furthermore, when Devadatta was a caravan leader, master of five hundred carts, the Bodhisatta was also a caravan leader, master of five hundred carts. Even in that birth, they were both equal.
Lại nữa, khi Devadatta là một người trưởng đoàn buôn, chủ của năm trăm cỗ xe, khi ấy Bồ-tát cũng là một người trưởng đoàn buôn, chủ của năm trăm cỗ xe. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, cả hai vị đã ngang bằng nhau.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto sākho nāma migarājā ahosi, tadā bodhisattopi nigrodho nāma migarājā ahosi, tatthapi tāva ubhopi samasamā ahesuṃ.
Furthermore, when Devadatta was a deer king named Sākha, the Bodhisatta was also a deer king named Nigrodha. Even in that birth, they were both equal.
Lại nữa, khi Devadatta là một vị vua loài nai tên là Sākha, khi ấy Bồ-tát cũng là một vị vua loài nai tên là Nigrodha. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, cả hai vị đã ngang bằng nhau.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto sākho nāma senāpati ahosi, tadā bodhisattopi nigrodho nāma rājā ahosi, tatthapi tāva ubhopi samasamā ahesuṃ.
Furthermore, when Devadatta was a general named Sākha, the Bodhisatta was a king named Nigrodha. Even in that birth, they were both equal.
Lại nữa, khi Devadatta là một vị tướng quân tên là Sākha, khi ấy Bồ-tát cũng là một vị vua tên là Nigrodha. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, cả hai vị đã ngang bằng nhau.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto khaṇḍahālo nāma brāhmaṇo ahosi, tadā bodhisatto cando nāma rājakumāro ahosi, tadā so khaṇḍahālo yeva adhikataro.
Furthermore, when Devadatta was a brahmin named Khaṇḍahāla, the Bodhisatta was a prince named Canda. In that birth, Khaṇḍahāla himself was the superior one.
Lại nữa, khi Devadatta là một vị Bà-la-môn tên là Khaṇḍahāla, khi ấy Bồ-tát là một vị hoàng tử tên là Canda. Khi ấy, chính Khaṇḍahāla đã vượt trội hơn.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto brahmadatto nāma rājā ahosi, tadā bodhisatto tassa putto mahāpadumo nāma kumāro ahosi, tadā so rājā sakaputtaṃ corapapāte khipāpesi, yato kutoci pitāva puttānaṃ adhikataro hoti visiṭṭhoti, tatthapi tāva devadatto yeva adhikataro.
Furthermore, when Devadatta was a king named Brahmadatta, the Bodhisatta was his son, a prince named Mahāpaduma. Then that king had his own son thrown down a robbers’ precipice. Since a father is, for any reason, superior to his sons and more distinguished, even in that birth, Devadatta himself was superior.
Lại nữa, khi Devadatta là vị vua tên là Brahmadatta, khi ấy Bồ-tát là con trai của vị ấy, một vị hoàng tử tên là Mahāpaduma. Khi ấy, vị vua đó đã sai người ném con trai của mình xuống vách đá của kẻ trộm. Bởi vì, đôi khi chính người cha lại vượt trội và đặc biệt hơn các con. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã vượt trội hơn.
‘‘Puna caparaṃ yadā devadatto mahāpatāpo nāma rājā ahosi, tadā bodhisatto tassa putto dhammapālo nāma kumāro ahosi, tadā so rājā sakaputtassa hatthapāde sīsañca chedāpesi, tatthapi tāva devadatto yeva uttaro adhikataro.
Furthermore, when Devadatta was a king named Mahāpatāpa, the Bodhisatta was his son, a prince named Dhammapāla. Then that king had his own son’s hands, feet, and head cut off. Even in that birth, Devadatta himself was higher and superior.
Lại nữa, khi Devadatta là vị vua tên là Mahāpatāpa, khi ấy Bồ-tát là con trai của vị ấy, một vị hoàng tử tên là Dhammapāla. Khi ấy, vị vua đó đã sai người chặt tay, chân, và đầu của con trai mình. Trong tiền kiếp ấy, trước hết, chính Devadatta đã cao quý hơn, vượt trội hơn.
Ajjetarahi ubhopi sakyakule jāyiṃsu. Bodhisatto buddho ahosi sabbaññū lokanāyako, devadatto tassa devātidevassa sāsane pabbajitvā iddhiṃ nibbattetvā buddhālayaṃ akāsi. Kiṃ nu kho, bhante nāgasena, yaṃ mayā bhaṇitaṃ, taṃ sabbaṃ tathaṃ udāhu vitatha’’nti?
In this present time, both were born in the Sakya clan. The Bodhisatta became the Buddha, the All-Knowing, the Leader of the World. Devadatta, having gone forth in the dispensation of that God of Gods, developed psychic power and made a pretense of being a Buddha. Venerable Nāgasena, is all that I have said true, or is it false?
Vào thời hiện tại, cả hai vị đều đã sanh trong dòng dõi Sakya. Vị Bồ-tát đã trở thành bậc Toàn Giác, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, là Đức Phật; còn Devadatta, sau khi xuất gia trong giáo pháp của vị Thiên Trung Thiên ấy, đã tạo ra thần thông và đã bắt chước làm Phật. Thưa Đại đức Nāgasena, tất cả những gì con đã trình bày, điều ấy có đúng sự thật hay là sai lầm?
‘‘Yaṃ tvaṃ, mahārāja, bahuvidhaṃ kāraṇaṃ osāresi, sabbaṃ taṃ tatheva, no aññathā’’ti. ‘‘Yadi, bhante nāgasena, kaṇhopi sukkopi samasamagatikā honti, tena hi kusalampi akusalampi samasamavipākaṃ hotī’’ti? ‘‘Na hi, mahārāja, kusalampi akusalampi samasamavipākaṃ hoti, na hi, mahārāja, devadatto sabbajanehi paṭiviruddho, bodhisatteneva paṭiviruddho. Yo tassa bodhisattena paṭiviruddho, so tasmiṃ tasmiṃ yeva bhave paccati phalaṃ deti. Devadattopi, mahārāja, issariye ṭhito janapadesu ārakkhaṃ deti, setuṃ sabhaṃ puññasālaṃ kāreti, samaṇabrāhmaṇānaṃ kapaṇaddhikavaṇibbakānaṃ nāthānāthānaṃ yathāpaṇihitaṃ dānaṃ deti. Tassa so vipākena bhave bhave sampattiyo paṭilabhati. Kassetaṃ, mahārāja, sakkā vattuṃ vinā dānena damena saṃyamena uposathakammena sampattiṃ anubhavissatīti?
‘Great king, the many various reasons you have brought forward are all just so, not otherwise.’ ‘Venerable Nāgasena, if both the dark and the bright have the same destination, does it then follow that wholesome and unwholesome deeds have the same result?’ ‘No, great king, wholesome and unwholesome deeds do not have the same result. Great king, Devadatta was not in conflict with all people; he was in conflict only with the Bodhisatta. That conflict of his with the Bodhisatta ripened and gave its fruit in that very life. Moreover, great king, Devadatta, when established in power, gave protection in the provinces, had bridges, assembly halls, and public alms-halls built, and gave gifts as they were wished for to ascetics and brahmins, to the poor, travelers, and beggars, and to those with and without a protector. As a result of that, he obtained prosperity in life after life. For who, great king, could say that one will experience prosperity without giving, without self-control, without restraint, and without observing the Uposatha day?
‘Tâu Đại vương, những lý do đa dạng mà ngài đã nêu ra, tất cả đều đúng như vậy, không khác.’ ‘Thưa Đại đức Nāgasena, nếu pháp đen và pháp trắng có cùng một xu hướng như nhau, như vậy thì phải chăng pháp thiện và pháp bất thiện cũng có quả báo giống hệt nhau?’ ‘Tâu Đại vương, không phải pháp thiện và pháp bất thiện có quả báo giống hệt nhau đâu. Tâu Đại vương, Devadatta không có chống đối với tất cả mọi người, chỉ chống đối với Bồ-tát mà thôi. Sự chống đối của ông ta đối với Bồ-tát, sự ấy chỉ trổ quả trong chính kiếp sống đó mà thôi. Tâu Đại vương, Devadatta khi ở địa vị quyền thế cũng đã ban sự bảo hộ cho các xứ, đã cho làm cầu cống, đình làng, nhà phước, đã bố thí theo ý nguyện đến các Sa-môn, Bà-la-môn, người nghèo khó, khách lữ hành, kẻ ăn xin, những người có nơi nương tựa và không có nơi nương tựa. Do quả báo của việc ấy, ông ta đã được hưởng các tài sản trong mỗi kiếp sống. Tâu Đại vương, ai có thể nói được rằng: ‘Người ấy sẽ hưởng được tài sản mà không cần bố thí, không cần chế ngự, không cần phòng hộ, không cần hành trì Uposatha’?
‘‘Yaṃ pana tvaṃ, mahārāja, evaṃ vadesi ‘devadatto ca bodhisatto ca ekato anuparivattantī’ti, so na jātisatassa accayena samāgamo ahosi, na jātisahassassa accayena, na jātisatasahassassa accayena, kadāci karahaci bahūnaṃ ahorattānaṃ accayena samāgamo ahosi. Yaṃ panetaṃ, mahārāja, bhagavatā kāṇakacchapopamaṃ upadassitaṃ manussattappaṭilābhāya, tathūpamaṃ, mahārāja, imesaṃ samāgamaṃ dhārehi.
As to your statement, great king, ‘Devadatta and the Bodhisatta transmigrate together,’ that meeting of theirs did not happen after the passing of a hundred births, nor after the passing of a thousand births, nor after the passing of a hundred thousand births. Only sometime, on some rare occasion, after the passing of many days and nights, did a meeting occur. Great king, just as the Blessed One has shown with the simile of the one-eyed turtle regarding the attainment of a human state, so too, great king, should you understand this meeting of theirs to be.
‘Còn về điều mà Đại vương nói rằng: ‘Devadatta và Bồ-tát cùng nhau luân chuyển,’ sự gặp gỡ ấy đã không xảy ra sau một trăm kiếp, không xảy ra sau một ngàn kiếp, không xảy ra sau một trăm ngàn kiếp. Thỉnh thoảng, đôi khi, sau khi trải qua nhiều ngày đêm, sự gặp gỡ mới xảy ra. Tâu Đại vương, ví như Thế Tôn đã chỉ ra ví dụ con rùa mù để nói về việc được thân người, xin Đại vương hãy ghi nhớ sự gặp gỡ của hai vị này cũng tương tự như ví dụ ấy.
‘‘Na, mahārāja, bodhisattassa devadatteneva saddhiṃ samāgamo ahosi, theropi, mahārāja, sāriputto anekesu jātisatasahassesu bodhisattassa pitā ahosi, mahāpitā ahosi, cūḷapitā ahosi, bhātā ahosi, putto ahosi, bhāgineyyo ahosi, mitto ahosi.
Great king, it was not only with Devadatta that the Bodhisatta had meetings. Great king, the Elder Sāriputta also, in many hundreds of thousands of births, was the Bodhisatta's father, his father's elder brother, his father's younger brother, his brother, his son, his nephew, and his friend.
‘Tâu Đại vương, không phải Bồ-tát chỉ gặp gỡ với một mình Devadatta. Tâu Đại vương, cả Trưởng lão Sāriputta trong vô số trăm ngàn kiếp cũng đã từng là cha của Bồ-tát, đã từng là bác, đã từng là chú, đã từng là anh em, đã từng là con, đã từng là cháu, đã từng là bạn.
‘‘Bodhisattopi, mahārāja, anekesu jātisatasahassesu therassa sāriputtassa pitā ahosi, mahāpitā ahosi, cūḷapitā ahosi, bhātā ahosi, putto ahosi, bhāgineyyo ahosi, mitto ahosi, sabbepi, mahārāja, sattanikāyapariyāpannā saṃsārasotamanugatā saṃsārasotena vuyhantā appiyehipi piyehipi samāgacchanti. Yathā, mahārāja, udakaṃ sotena vuyhamānaṃ suciasucikalyāṇapāpakena samāgacchati, evameva kho, mahārāja, sabbepi sattanikāyapariyāpannā saṃsārasotamanugatā saṃsārasotena vuyhantā appiyehipi piyehipi samāgacchanti. Devadatto, mahārāja, yakkho samāno attanā adhammo pare adhamme niyojetvā sattapaññāsavassakoṭiyo saṭṭhi ca vassasatasahassāni mahāniraye pacci, bodhisattopi, mahārāja, yakkho samāno attanā dhammo pare dhamme niyojetvā sattapaññāsavassakoṭiyo saṭṭhi ca vassasatasahassāni sagge modi sabbakāmasamaṅgī, api ca, mahārāja, devadatto imasmiṃ bhave buddhaṃ anāsādanīyamāsādayitvā samaggañca saṅghaṃ bhinditvā pathaviṃ pāvisi, tathāgato bujjhitvā sabbadhamme parinibbuto upadhisaṅkhaye’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
Great king, the Bodhisatta too, in many hundreds of thousands of births, was the father of the Elder Sāriputta, his elder paternal uncle, his younger paternal uncle, his brother, his son, his nephew, and his friend. Indeed, great king, all beings comprised in the realm of living beings, having entered the stream of transmigration, being swept along by the stream of transmigration, meet with both the unloved and the loved. Just as, great king, water being swept along by a stream mingles with the pure and impure, the good and the bad, so too, great king, all beings comprised in the realm of living beings, having entered the stream of transmigration, being swept along by the stream of transmigration, meet with both the unloved and the loved. Devadatta, great king, as a yakkha, being unrighteous himself and employing others in unrighteousness, suffered in the great hell for fifty-seven crores of years and sixty hundred thousand years. The Bodhisatta too, great king, as a yakkha, being righteous himself and employing others in righteousness, rejoiced in the heavens for fifty-seven crores of years and sixty hundred thousand years, endowed with all desirable things. Yet, great king, in this very existence, Devadatta, having assailed the Buddha who is not to be assailed and having split the united Sangha, entered the earth. The Tathāgata, having awakened to all phenomena, attained Parinibbāna with the destruction of the substrates of existence.” “Good, Venerable Nāgasena! So it is; I accept it thus.”
‘Tâu Đại vương, cả Bồ-tát trong vô số trăm ngàn kiếp cũng đã từng là cha của Trưởng lão Sāriputta, đã từng là bác, đã từng là chú, đã từng là anh em, đã từng là con, đã từng là cháu, đã từng là bạn. Tâu Đại vương, tất cả chúng sanh thuộc về các cõi, đi theo dòng luân hồi, bị cuốn trôi theo dòng luân hồi, đều gặp gỡ cả người không ưa và người thương mến. Tâu Đại vương, ví như nước bị dòng cuốn trôi đi gặp cả vật sạch và không sạch, tốt và xấu; cũng vậy, tâu Đại vương, tất cả chúng sanh thuộc về các cõi, đi theo dòng luân hồi, bị cuốn trôi theo dòng luân hồi, đều gặp gỡ cả người không ưa và người thương mến. Tâu Đại vương, Devadatta, khi là một dạ-xoa, tự mình phi pháp, lại xúi giục người khác làm điều phi pháp, đã bị nấu trong đại địa ngục suốt năm mươi bảy koti và sáu trăm ngàn năm. Tâu Đại vương, cả Bồ-tát, khi là một dạ-xoa, tự mình đúng pháp, lại khuyến khích người khác làm điều đúng pháp, đã hoan hỷ ở cõi trời, đầy đủ mọi dục lạc, suốt năm mươi bảy koti và sáu trăm ngàn năm. Hơn nữa, tâu Đại vương, trong kiếp này, Devadatta đã xúc phạm đến Đức Phật, bậc không nên xúc phạm, và đã chia rẽ Tăng đoàn hòa hợp, nên đã bị đất rút. Còn đức Như Lai, sau khi giác ngộ tất cả các pháp, đã nhập Vô Dư Niết-bàn nơi sự đoạn tận các phiền não.’ ‘Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin tiếp nhận điều này đúng như lời ngài đã dạy.’
Kusalākusalasamavisamapañho sattamo.
The seventh question concerning the wholesome, unwholesome, even, and uneven is concluded.
Dứt câu hỏi thứ bảy về sự đồng đẳng và bất đồng đẳng của thiện và bất thiện.