Bản dịch
MIL 5.4.6 — CÂU HỎI VỀ LỢI ÍCH CỦA TÂM TỪ
6. Mettābhāvanānisaṁsapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, với từ tâm giải thoát đã được rèn luyện, được tu tập, được thực hành thường xuyên, được tạo thành phương tiện, được tạo thành nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khởi đầu tốt đẹp, mười một điều lợi ích này là điều mong đợi. Mười một điều nào? (Vị ấy) ngủ an lạc, thức dậy an lạc, không nhìn thấy mộng mị xấu xa, được loài người thương mến, được phi nhân thương mến, chư Thiên hộ trì, lửa hoặc thuốc độc hoặc dao gươm không hại được vị ấy, tâm được định nhanh chóng, sắc mặt trầm tĩnh, từ trần không mê mờ, (nếu) chưa thấu triệt pháp cao hơn thì được sanh về thế giới Phạm thiên.’ Và thêm nữa, ngài nói rằng: ‘Bé trai Sāma, có sự an trú tâm từ, được vây quanh bởi bầy nai, trong khi đi lang thang ở khu rừng bị đức vua Piliyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc, đã bị bất tỉnh và ngã xuống ngay tại chỗ ấy.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, với từ tâ … (như trên) … được sanh về thế giới Phạm thiên,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Bé trai Sāma, có sự an trú tâm từ, được vây quanh bởi bầy nai, trong khi đi lang thang ở khu rừng bị đức vua Piliyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc nên đã bị bất tỉnh và ngã xuống ngay tại chỗ ấy’ là sai trái. Nếu bé trai Sāma, có sự an trú tâm từ, được vây quanh bởi bầy nai, trong khi đi lang thang ở khu rừng bị đức vua Piliyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc, đã bị bất tỉnh và ngã xuống ngay tại chỗ ấy, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, với từ tâ … (như trên) … lửa hoặc thuốc độc hoặc dao gươm không hại được vị ấy’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, vô cùng khôn khéo, hết sức tinh vi, tế nhị, sâu xa. Thậm chí mồ hôi có thể tiết ra ở thân thể của những người vô cùng khôn khéo. Nó được dành cho ngài. Xin ngài hãy gỡ rối cục rối lớn đã bị rối lại. Xin ngài hãy ban cho sự nhận thức đến những người con của đấng Chiến Thắng trong ngày vị lai bằng cách giải quyết.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, với từ tâ … (như trên) … lửa hoặc thuốc độc hoặc dao gươm không hại được vị ấy.’ Và bé trai Sāma, có sự an trú tâm từ, được vây quanh bởi bầy nai, trong khi đi lang thang ở khu rừng bị đức vua Piliyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc, đã bị bất tỉnh và ngã xuống ngay tại chỗ ấy. Tâu đại vương, tuy nhiên ở trường hợp ấy là có lý do. Lý do gì ở trường hợp ấy? Tâu đại vương, các đức tính này không thuộc về cá nhân, các đức tính này do sự phát triển tâm từ. Tâu đại vương, bé trai Sāma trong khi đang nâng lên vò nước, vào giây phút ấy đã bị xao lãng về sự phát triển tâm từ. Tâu đại vương, vào giây phút nào con người thể nhập tâm từ thì vào giây phút ấy lửa hoặc thuốc độc hoặc dao gươm không hại được người ấy. Những ai có ý định không tốt đối với người ấy đi đến gần thì không nhìn thấy người ấy, không đạt được cơ hội ở nơi người ấy. Tâu đại vương, các đức tính này không thuộc về cá nhân, các đức tính này do sự phát triển tâm từ.
Tâu đại vương, ở đây người nam, là anh hùng chiến trận, khoác lên chiếc áo giáp lưới sắt không thể xuyên thủng rồi xông vào chiến trường, những mũi tên được bắn ra hướng đến người ấy đều bị rơi xuống tung tóe, không đạt được cơ hội ở nơi người ấy. Tâu đại vương, đức tính ấy không thuộc về người anh hùng chiến trận, đức tính ấy thuộc về chiếc áo giáp lưới sắt không thể xuyên thủng, khiến những mũi tên được bắn ra hướng đến người ấy đều bị rơi xuống tung tóe. Tâu đại vương, tương tợ y như thế các đức tính này không thuộc về cá nhân, các đức tính này do sự phát triển tâm từ. Tâu đại vương, vào giây phút nào con người thể nhập tâm từ thì vào giây phút ấy lửa hoặc thuốc độc hoặc dao gươm không hại được người ấy. Những ai có ý định không tốt đối với người ấy đi đến gần thì không nhìn thấy người ấy, không đạt được cơ hội ở nơi người ấy. Tâu đại vương, các đức tính này không thuộc về cá nhân, các đức tính này do sự phát triển tâm từ.
BJT 3Tâu đại vương, hơn nữa ở đây một người sử dụng rễ cây làm tàng hình ở cõi trời nơi bàn tay. Khi nào rễ cây ấy còn nằm ở bàn tay của người ấy thì không người bình thường nào nhìn thấy người ấy. Tâu đại vương, đức tính ấy không thuộc về người ấy, đức tính ấy thuộc về rễ cây làm tàng hình, khiến người ấy không hiện ra trong tầm nhìn của những người bình thường.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế các đức tính này không thuộc về cá nhân, các đức tính này do sự phát triển tâm từ. Tâu đại vương, vào giây phút nào con người thể nhập tâm từ thì vào giây phút ấy lửa hoặc thuốc độc hoặc dao gươm không hại được người ấy. Những ai có ý định không tốt đối với người ấy đi đến gần thì không nhìn thấy người ấy, không đạt được cơ hội ở nơi người ấy. Tâu đại vương, các đức tính này không thuộc về cá nhân, các đức tính này do sự phát triển tâm từ.
Tâu đại vương, hoặc là giống như cơn mưa to lớn khổng lồ đang đổ mưa không thể làm ướt con người đã đi vào trong hang lớn khéo được tạo lập. Tâu đại vương, đức tính ấy không thuộc về người ấy, đức tính ấy thuộc về cái hang lớn, khiến cơn mưa to lớn khổng lồ đang đổ mưa không thể làm ướt người ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế các đức tính này không thuộc về cá nhân, các đức tính này do sự phát triển tâm từ. Tâu đại vương, vào giây phút nào con người thể nhập tâm từ thì vào giây phút ấy lửa hoặc thuốc độc hoặc dao gươm không hại được người ấy. Những ai có ý định không tốt đối với người ấy đi đến gần thì không nhìn thấy người ấy, không đạt được cơ hội ở nơi người ấy. Tâu đại vương, các đức tính này không thuộc về cá nhân, các đức tính này do sự phát triển tâm từ.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Sự phát triển tâm từ có sự ngăn cản mọi điều xấu xa.”
“Tâu đại vương, sự phát triển tâm từ có sự vận chuyển mọi đức tính tốt đẹp đến những người tốt và luôn cả những người xấu. Sự phát triển tâm từ có lợi ích lớn lao nên được phân phát đến tất cả những chúng sanh đã gắn liền với sự nhận thức.”
Câu hỏi về lợi ích của tâm từ là thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Attanipātanapañho
5. The Question on Taking One's Own Life.
5. Câu hỏi về việc tự hủy hoại bản thân
6. Mettābhāvanānisaṃsapañho
6. The Question on the Benefits of Developing Loving-Kindness
6. Câu hỏi về Phước Báu của việc Tu Tập Tâm Từ
6. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘mettāya, bhikkhave, cetovimuttiyā āsevitāya bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya ekādasānisaṃsā pāṭikaṅkhā. Katame ekādasa? Sukhaṃ supati, sukhaṃ paṭibujjhati, na pāpakaṃ supinaṃ passati, manussānaṃ piyo hoti, amanussānaṃ piyo hoti, devatā rakkhanti, nāssa aggi vā visaṃ vā satthaṃ vā kamati †, tuvaṭaṃ cittaṃ samādhiyati, mukhavaṇṇo vippasīdati, asammūḷho kālaṃ karoti, uttariṃ appaṭivijjhanto brahmalokūpago hotī’ti. Puna ca tumhe bhaṇatha ‘sāmo kumāro mettāvihārī migasaṅghena parivuto pavane vicaranto pīḷiyakkhena raññā viddho visapītena sallena tattheva mucchito patito’ti.
6. “Venerable Nāgasena, this has been spoken by the Blessed One: ‘Monks, when the liberation of mind through loving-kindness has been frequently practiced, developed, made much of, made a vehicle of, made a basis of, established, mastered, and properly undertaken, eleven benefits are to be expected. Which eleven? One sleeps in comfort, wakes in comfort, sees no evil dreams, is dear to human beings, is dear to non-human beings, deities protect one, fire, poison, or weapons do not affect one, one's mind is quickly concentrated, the complexion of one's face is clear, one dies unconfused, and, without penetrating further, one is reborn in the Brahma world.’ And yet you say: ‘The youth Sāma, who abided in loving-kindness, while wandering in the forest surrounded by a herd of deer, was shot by King Pīḷiyakkha with a poison-smeared arrow and fell down unconscious on that very spot.’”
6. “Thưa Tôn giả Nāgasena, điều này đã được Thế Tôn thuyết giảng rằng: ‘Này các Tỳ khưu, khi tâm giải thoát nhờ tâm từ được thực hành, được phát triển, được làm cho sung mãn, được xem như cỗ xe, được xem như nền tảng, được thiết lập, được tích lũy, được khéo khởi sự, mười một phước báu này có thể được trông đợi. Thế nào là mười một? Ngủ an lạc, thức an lạc, không thấy ác mộng, được loài người yêu mến, được phi nhân yêu mến, được chư thiên hộ trì, lửa, thuốc độc, hoặc vũ khí không thể làm hại, tâm mau chóng định tĩnh, sắc mặt trong sáng, mệnh chung không si mê, nếu chưa chứng ngộ cao hơn, sẽ được sanh lên cõi Phạm thiên.’ Và rồi, các ngài lại nói rằng: ‘Thái tử Sāma, vị sống với tâm từ, được bầy nai vây quanh, trong khi đi lại trong rừng, đã bị vua Pīḷiyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc, liền bất tỉnh và ngã xuống ngay tại chỗ.’”
‘‘Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘mettāya bhikkhave…pe… brahmalokūpago hotī’ti, tena hi ‘‘sāmo kumāro mettāvihārī migasaṅghena parivuto pavane vicaranto pīḷiyakkhena raññā viddho visapītena sallena tattheva mucchito patito’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi sāmo kumāro mettāvihārī migasaṅghena parivuto pavane vicaranto pīḷiyakkhena raññā viddho visapītena sallena tattheva mucchito patito, tena hi ‘mettāya, bhikkhave…pe… satthaṃ vā kamatī’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho sunipuṇo parisaṇho sukhumo gambhīro, api sunipuṇānaṃ manujānaṃ gatte sedaṃ moceyya, so tavānuppatto, vijaṭehi taṃ mahājaṭājaṭitaṃ, anāgatānaṃ jinaputtānaṃ cakkhuṃ dehi nibbāhanāyā’’ti.
“Venerable Nāgasena, if it was said by the Blessed One, ‘Monks, through loving-kindness… one can reach the Brahma world,’ then this statement, ‘Prince Sāma, who abided in loving-kindness, while wandering in the forest surrounded by a herd of deer, was struck by King Pīḷiyakkha with a poison-smeared arrow and fell down unconscious right there,’ must be false. And if Prince Sāma, who abided in loving-kindness, while wandering in the forest surrounded by a herd of deer, was struck by King Pīḷiyakkha with a poison-smeared arrow and fell down unconscious right there, then this statement, ‘Monks, through loving-kindness… a weapon does not affect him,’ must also be false. This two-horned problem is very subtle, very refined, delicate, and profound; it would cause sweat to break out on the bodies of even the most skillful of men. It has come to you. Unravel this great and tangled knot; give the eye of wisdom to the future sons of the Conqueror for their pacification.”
“Thưa Tôn giả Nāgasena, nếu Thế Tôn đã thuyết rằng: ‘Này các Tỳ khưu, nhờ tâm từ… cho đến… sẽ được sanh lên cõi Phạm thiên,’ thì trong trường hợp đó, lời nói rằng: ‘Thái tử Sāma, vị sống với tâm từ, được bầy nai vây quanh, trong khi đi lại trong rừng, đã bị vua Pīḷiyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc, liền bất tỉnh và ngã xuống ngay tại chỗ,’ lời nói ấy là sai. Nếu thái tử Sāma, vị sống với tâm từ, được bầy nai vây quanh, trong khi đi lại trong rừng, đã bị vua Pīḷiyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc, liền bất tỉnh và ngã xuống ngay tại chỗ, thì trong trường hợp đó, lời nói rằng: ‘Này các Tỳ khưu, nhờ tâm từ… cho đến… vũ khí không thể làm hại,’ lời nói ấy cũng là sai. Câu hỏi này có hai đầu mút, rất vi tế, tinh xảo, sâu sắc, và thâm diệu, có thể làm cho cả những người trí tuệ cũng phải toát mồ hôi. Câu hỏi ấy đã đến với ngài. Xin ngài hãy gỡ rối vấn đề phức tạp rối rắm này, xin hãy ban cho con mắt trí tuệ để soi sáng cho các vị Phật tử trong tương lai.’”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘mettāya bhikkhave…pe... satthaṃ vā kamatī’ti. Sāmo ca kumāro mettāvihārī migasaṅghena parivuto pavane vicaranto pīḷiyakkhena raññā viddho visapītena sallena tattheva mucchito patito, tattha pana, mahārāja, kāraṇaṃ atthi. Katamaṃ tattha kāraṇaṃ? Nete, mahārāja, guṇā puggalassa, mettābhāvanāyete guṇā, sāmo, mahārāja, kumāro ghaṭaṃ ukkhipanto tasmiṃ khaṇe mettābhāvanāya pamatto ahosi.
“Great king, this was indeed spoken by the Blessed One: ‘Monks, through loving-kindness… a weapon does not affect him.’ And Prince Sāma, who abided in loving-kindness, while wandering in the forest surrounded by a herd of deer, was struck by King Pīḷiyakkha with a poison-smeared arrow and fell down unconscious right there. However, great king, there is a reason for that. What is the reason? These qualities, great king, are not the qualities of the person; they are the qualities of the cultivation of loving-kindness. Great king, at the moment Prince Sāma was lifting the water pot, he was heedless of the cultivation of loving-kindness.”
Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Này các tỳ khưu, do tâm từ… … binh khí không thể xâm hại’. Và vương tử Sāma là người an trú trong tâm từ, được bầy nai vây quanh, trong khi đang đi dạo trong rừng đã bị vua Pīḷiyakkha bắn bằng mũi tên tẩm độc, đã bị ngất xỉu và té ngã ngay tại nơi ấy. Tâu Đại vương, tuy nhiên ở trường hợp ấy có nguyên nhân. Nguyên nhân ở trường hợp ấy là gì? Tâu Đại vương, các oai lực này không phải của người, các oai lực này là của sự tu tập tâm từ. Tâu Đại vương, vương tử Sāma trong khi đang xách bình nước lên, vào khoảnh khắc ấy đã bị xao lãng đối với sự tu tập tâm từ.
‘‘Yasmiṃ, mahārāja, khaṇe puggalo mettaṃ samāpanno hoti, na tassa puggalassa tasmiṃ khaṇe aggi vā visaṃ vā satthaṃ vā kamati. Tassa ye keci ahitakāmā upagantvā taṃ na passanti, na tasmiṃ okāsaṃ labhanti. Nete, mahārāja, guṇā puggalassa, mettābhāvanāyete guṇā. Idha, mahārāja, puriso saṅgāmasūro abhejjakavacajālikaṃ sannayhitvā saṅgāmaṃ otareyya, tassa sarā khittā upagantvā patanti vikiranti, na tasmiṃ okāsaṃ labhanti, neso, mahārāja, guṇo saṅgāmasūrassa, abhejjakavacajālikāyeso guṇo, yassa sarā khittā upagantvā patanti vikiranti. Evameva kho, mahārāja, nete guṇā puggalassa, mettābhāvanāyete guṇā.
“Great king, at the moment a person has attained to loving-kindness, at that moment neither fire, nor poison, nor a weapon can affect that person. Should any who wish him harm approach, they do not see him; they find no opportunity against him. These, great king, are not the qualities of the person; they are the qualities of the cultivation of loving-kindness. It is like this, great king: a warrior, a hero in battle, might descend into the fray having donned a coat of impenetrable chain mail. Arrows, having been shot, approach him only to fall away and be scattered; they find no opportunity against him. This, great king, is not a quality of the warrior; it is the quality of the impenetrable chain mail, on account of which the arrows, having been shot, approach only to fall away and be scattered. In the very same way, great king, these are not the qualities of the person; they are the qualities of the cultivation of loving-kindness.”
Tâu Đại vương, vào khoảnh khắc mà người nào thành tựu tâm từ, vào khoảnh khắc ấy, lửa hoặc chất độc hoặc binh khí không thể xâm hại người ấy. Bất cứ kẻ nào có ý muốn làm hại người ấy, sau khi đi đến gần đã không nhìn thấy vị ấy, đã không có được cơ hội ở nơi vị ấy. Tâu Đại vương, các oai lực này không phải của người, các oai lực này là của sự tu tập tâm từ. Tâu Đại vương, ở đây, người chiến sĩ dũng cảm trong trận mạc, sau khi đã mặc vào chiếc áo giáp lưới không thể bị phá vỡ, có thể đi vào chiến trường. Đối với người ấy, các mũi tên được bắn ra, sau khi bay đến gần đã bị rơi rớt, bị phân tán, đã không có được cơ hội ở nơi người ấy. Tâu Đại vương, oai lực này không phải của người chiến sĩ dũng cảm, oai lực này là của chiếc áo giáp lưới không thể bị phá vỡ, do đó các mũi tên được bắn ra, sau khi bay đến gần đã bị rơi rớt, bị phân tán. Tâu Đại vương, tương tự y như thế, các oai lực này không phải của người, các oai lực này là của sự tu tập tâm từ.
‘‘Yasmiṃ, mahārāja, khaṇe puggalo mettaṃ samāpanno hoti, na tassa puggalassa tasmiṃ khaṇe aggi vā visaṃ vā satthaṃ vā kamati. Tassa ye keci ahitakāmā upagantvā taṃ na passanti, tasmiṃ okāsaṃ na labhanti, nete, mahārāja, guṇā puggalassa, mettābhāvanāyete guṇā. Idha pana, mahārāja, puriso dibbaṃ antaradhānaṃ mūlaṃ hatthe kareyya, yāva taṃ mūlaṃ tassa hatthagataṃ hoti, tāva na añño koci pakatimanusso taṃ purisaṃ passati. Neso, mahārāja, guṇo purisassa, mūlasseso guṇo antaradhānassa, yaṃ so pakatimanussānaṃ cakkhupathe na dissati. Evameva kho, mahārāja, nete guṇā puggalassa, mettābhāvanāyete guṇā.
“Great king, at the moment a person has attained to loving-kindness, at that moment neither fire, nor poison, nor a weapon can affect that person. Should any who wish him harm approach, they do not see him; they find no opportunity against him. These, great king, are not the qualities of the person; they are the qualities of the cultivation of loving-kindness. Or it is like this, great king: a man might hold a divine root of invisibility in his hand. For as long as that root is in his hand, no other ordinary person sees that man. This, great king, is not a quality of the man; it is the quality of the root of invisibility, on account of which he does not appear in the sight of ordinary people. In the very same way, great king, these are not the qualities of the person; they are the qualities of the cultivation of loving-kindness.”
Tâu Đại vương, vào khoảnh khắc mà người nào thành tựu tâm từ, vào khoảnh khắc ấy, lửa hoặc chất độc hoặc binh khí không thể xâm hại người ấy. Bất cứ kẻ nào có ý muốn làm hại người ấy, sau khi đi đến gần đã không nhìn thấy vị ấy, đã không có được cơ hội ở nơi vị ấy. Tâu Đại vương, các oai lực này không phải của người, các oai lực này là của sự tu tập tâm từ. Hơn nữa, tâu Đại vương, ở đây, người nào có thể cầm ở trong tay loại rễ cây làm tàng hình của chư thiên, trong khi loại rễ cây ấy còn nằm trong tay của người ấy thì không một người bình thường nào khác nhìn thấy được người ấy. Tâu Đại vương, oai lực này không phải của người, oai lực này là của loại rễ cây làm tàng hình, do đó vị ấy không được nhìn thấy trong tầm mắt của những người bình thường. Tâu Đại vương, tương tự y như thế, các oai lực này không phải của người, các oai lực này là của sự tu tập tâm từ.
‘‘Yasmiṃ, mahārāja, khaṇe puggalo mettaṃ samāpanno hoti, na tassa puggalassa tasmiṃ khaṇe aggi vā visaṃ vā satthaṃ vā kamati. Tassa ye keci ahitakāmā upagantvā taṃ na passanti, na tasmiṃ okāsaṃ labhanti. Nete, mahārāja, guṇā puggalassa, mettābhāvanāyete guṇā. Yathā vā pana, mahārāja, purisaṃ sukataṃ mahāleṇamanuppaviṭṭhaṃ mahatimahāmegho abhivassanto na sakkoti temayituṃ, neso, mahārāja, guṇo purisassa, mahāleṇasseso guṇo, yaṃ mahāmegho abhivassamāno na taṃ temeti. Evameva kho, mahārāja, nete guṇā puggalassa, mettābhāvanāyete guṇā.
“Great king, at the moment a person has attained to loving-kindness, at that moment neither fire, nor poison, nor a weapon can affect that person. Should any who wish him harm approach, they do not see him; they find no opportunity against him. These, great king, are not the qualities of the person; they are the qualities of the cultivation of loving-kindness. Or again, great king, just as a mighty storm cloud, though pouring down rain, cannot wet a man who has entered a well-made, great cave. This, great king, is not a quality of the man; it is the quality of the great cave, on account of which the storm cloud, though pouring down rain, does not wet him. In the very same way, great king, these are not the qualities of the person; they are the qualities of the cultivation of loving-kindness.”
Tâu Đại vương, vào khoảnh khắc mà người nào thành tựu tâm từ, vào khoảnh khắc ấy, lửa hoặc chất độc hoặc binh khí không thể xâm hại người ấy. Bất cứ kẻ nào có ý muốn làm hại người ấy, sau khi đi đến gần đã không nhìn thấy vị ấy, đã không có được cơ hội ở nơi vị ấy. Tâu Đại vương, các oai lực này không phải của người, các oai lực này là của sự tu tập tâm từ. Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như người đã đi vào bên trong hang động lớn được làm một cách khéo léo, trận mưa rất lớn đang trút xuống không thể làm cho ướt được. Tâu Đại vương, oai lực này không phải của người, oai lực này là của hang động lớn, do đó trận mưa lớn đang trút xuống đã không làm ướt người ấy. Tâu Đại vương, tương tự y như thế, các oai lực này không phải của người, các oai lực này là của sự tu tập tâm từ.
‘‘Yasmiṃ, mahārāja, khaṇe puggalo mettaṃ samāpanno hoti, na tassa puggalassa tasmiṃ khaṇe aggi vā visaṃ vā satthaṃ vā kamati. Tassa ye keci ahitakāmā upagantvā taṃ na passanti, na tassa sakkonti ahitaṃ kātuṃ nete, mahārāja, guṇā puggalassa, mettābhāvanāyete guṇā’’ti. ‘‘Acchariyaṃ, bhante nāgasena, abbhutaṃ bhante nāgasena, sabbapāpanivāraṇā mettābhāvanā’’ti. ‘‘Sabbakusalaguṇāvahā, mahārāja, mettābhāvanā hitānampi ahitānampi, ye te sattā viññāṇabaddhā, sabbesaṃ mahānisaṃsā mettābhāvanā saṃvibhajitabbā’’ti.
“Great king, at the moment a person has attained to loving-kindness, at that moment neither fire, nor poison, nor a weapon can affect that person. Should any who wish him harm approach, they do not see him; they are not able to do him harm. These, great king, are not the qualities of the person; they are the qualities of the cultivation of loving-kindness.” “Wonderful, venerable Nāgasena! Amazing, venerable Nāgasena! The cultivation of loving-kindness is a ward against all evil!” “Great king, the cultivation of loving-kindness brings all wholesome qualities, for the welfare of both friends and foes. The great benefits of the cultivation of loving-kindness should be shared among all beings endowed with consciousness.”
Tâu Đại vương, vào khoảnh khắc mà người nào thành tựu tâm từ, vào khoảnh khắc ấy, lửa hoặc chất độc hoặc binh khí không thể xâm hại người ấy. Bất cứ kẻ nào có ý muốn làm hại người ấy, sau khi đi đến gần đã không nhìn thấy vị ấy, đã không thể làm điều bất lợi cho vị ấy. Tâu Đại vương, các oai lực này không phải của người, các oai lực này là của sự tu tập tâm từ. – Thưa ngài Nāgasena, thật vi diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật hy hữu! Sự tu tập tâm từ là sự ngăn ngừa tất cả điều ác. – Tâu Đại vương, sự tu tập tâm từ đem lại tất cả oai lực thiện lành, cho cả những người có thiện ý lẫn những người không có thiện ý. Đối với tất cả các chúng sanh bị ràng buộc bởi thức, sự tu tập tâm từ có quả báu to lớn này nên được san sẻ.
Mettābhāvanānisaṃsapañho chaṭṭho.
The Sixth Question Concerning the Benefits of the Cultivation of Loving-Kindness.
Câu hỏi về quả báu của sự tu tập tâm từ thứ sáu.