Bản dịch
MIL 5.4.5 — CÂU HỎI VỀ VIỆC TỰ KẾT LIỄU BẢN THÂN
5. Attanipātanapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, không nên tự kết liễu bản thân; vị nào tự kết liễu thì nên được hành xử theo pháp.’ Và thêm nữa, ngài nói rằng: ‘Ở bất cứ nơi nào, trong khi thuyết giảng Giáo Pháp cho các đệ tử, đức Thế Tôn thuyết giảng Giáo Pháp bằng nhiều phương tiện nhằm cắt đứt hoàn toàn đối với sanh, đối với già, đối với bệnh, đối với chết. Bởi vì bất cứ vị nào vượt qua sanh-già-bệnh-chết, Ngài ca ngợi vị ấy với lời ca ngợi cao cả nhất.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là: ‘Này các tỳ khưu, không nên tự kết liễu bản thân; vị nào tự kết liễu thì nên được hành xử theo pháp,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Ngài thuyết giảng Giáo Pháp nhằm cắt đứt hoàn toàn đối với sanh, đối với già, đối với bệnh, đối với chết’ là sai trái. Nếu Ngài thuyết giảng Giáo Pháp nhằm cắt đứt hoàn toàn đối với sanh, đối với già, đối với bệnh, đối với chết, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, không nên tự kết liễu bản thân; vị nào tự kết liễu thì nên được hành xử theo pháp’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, không nên tự kết liễu bản thân; vị nào tự kết liễu thì nên được hành xử theo pháp.’ Ở bất cứ nơi nào, trong khi thuyết giảng Giáo Pháp cho các đệ tử, đức Thế Tôn thuyết giảng Giáo Pháp bằng nhiều phương tiện nhằm cắt đứt hoàn toàn đối với sanh, đối với già, đối với bệnh, đối với chết. Tuy nhiên trường hợp ấy là có lý do, mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã khước từ và đã khuyến khích.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì ở đây có lý do gì mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã khước từ và đã khuyến khích?”
“Tâu đại vương, người có giới, đầy đủ về giới, giống như liều thuốc giải trong việc tiêu diệt chất độc phiền não của chúng sanh, giống như phương thuốc làm dịu xuống cơn bệnh phiền não của chúng sanh, giống như nước trong việc tẩy trừ bụi bặm phiền não của chúng sanh, giống như viên ngọc quý ma-ni trong việc ban phát tất cả các sự thành tựu cho chúng sanh, giống như chiếc thuyền trong việc vượt lên trên bốn dòng lũ của chúng sanh, giống như người hướng dẫn đoàn xe trong việc vượt qua bãi sa mạc tái sanh của chúng sanh, giống như làn gió trong việc dập tắt sức nóng của ngọn lửa gồm ba loại cho chúng sanh, giống như cơn mưa lớn trong việc làm tràn đầy tâm ý của chúng sanh, giống như người thầy trong việc rèn luyện điều tốt đẹp cho chúng sanh, giống như người hướng dẫn khéo léo trong việc chỉ ra đạo lộ an toàn cho chúng sanh. Tâu đại vương, người có hình thức như thế là có nhiều đức tính, có vô số đức tính, có vô lượng đức tính, có một khối đức tính, có một đống đức tính, là người làm lợi lạc cho chúng sanh, tâu đại vương, vì lòng thương tưởng chúng sanh (nghĩ rằng): ‘Chớ để người có giới bị tiêu hoại,’ đức Thế Tôn đã quy định điều học: ‘Này các tỳ khưu, không nên tự kết liễu bản thân; vị nào tự kết liễu thì nên được hành xử theo pháp.’ Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã khước từ.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được vị trưởng lão Kumārakassapa, vị Pháp sư có tài hùng biện, trong lúc đang làm sáng tỏ về thế giới khác cho đức vua Pāyāsi: ‘Thưa bệ hạ, các vị Sa-môn, Bà-la-môn có giới, có thiện pháp, tồn tại thời gian dài lâu như thế nào thì họ thực hành vì sự lợi ích cho nhiều người, vì sự an lạc cho nhiều người, vì lòng tương tưởng thế gian, vì sự tốt đẹp, vì sự lợi ích, vì sự an lạc cho chư Thiên và loài người như thế ấy.’
Vậy thì vì lý do gì mà đức Thế Tôn đã khuyến khích? Tâu đại vương, sanh cũng là khổ, già cũng là khổ, chết cũng là khổ, sầu muộn cũng là khổ, than vãn cũng là khổ, khổ đau cũng là khổ, ưu phiền cũng là khổ, thất vọng cũng là khổ, sự liên hệ với những gì không yêu thích cũng là khổ, sự xa lìa với những gì yêu thích cũng là khổ, cái chết của mẹ cũng là khổ, cái chết của cha cũng là khổ, cái chết của anh em trai cũng là khổ, cái chết của chị em gái cũng là khổ, cái chết của con cũng là khổ, cái chết của vợ cũng là khổ, mất mát về thân quyến cũng là khổ, mất mát vì bệnh tật cũng là khổ, mất mát về tài sản cũng là khổ, mất mát về giới cũng là khổ, mất mát về kiến thức cũng là khổ, sợ hãi vì đức vua cũng là khổ, sợ hãi vì trộm cướp cũng là khổ, sợ hãi vì kẻ thù cũng là khổ, sợ hãi vì vật thực khó khăn cũng là khổ, sợ hãi vì lửa cũng là khổ, sợ hãi vì nước cũng là khổ, sợ hãi vì sóng nước cũng là khổ, sợ hãi vì nước xoáy cũng là khổ, sợ hãi vì cá sấu cũng là khổ, sợ hãi vì cá dữ cũng là khổ, sợ hãi vì sự quở trách của bản thân cũng là khổ, sợ hãi vì sự quở trách của người khác cũng là khổ, sợ hãi vì hình phạt cũng là khổ, sợ hãi vì khổ cảnh cũng là khổ, sợ hãi vì e ngại tập thể cũng là khổ, sợ hãi vì sự nuôi mạng cũng là khổ, sợ hãi vì sự chết cũng là khổ, việc đánh đập bằng những cây gậy cũng là khổ, việc đánh đập bằng những cây roi cũng là khổ, việc đánh đập bằng những cây đoản côn cũng là khổ, việc chặt bàn tay cũng là khổ, việc chặt bàn chân cũng là khổ, việc chặt bàn tay và bàn chân cũng là khổ, việc cắt tai cũng là khổ, việc xẻo mũi cũng là khổ, việc cắt tai và xẻo mũi cũng là khổ, việc (nhúng vào) hũ giấm chua cũng là khổ, việc cạo đầu bôi vôi cũng là khổ, việc đốt lửa ở miệng cũng là khổ, việc thiêu sống cũng là khổ, việc đốt cháy ở bàn tay cũng là khổ, việc lột da thành sợi cũng là khổ, việc mặc y phục vỏ cây cũng là khổ, việc kéo căng thân người ở trên đất cũng là khổ, việc xiên da thịt bằng lưỡi câu cũng là khổ, việc khoét thịt thành đồng tiền cũng là khổ, việc chà xát với chất kiềm cũng là khổ, việc quay tròn ở trên thập tự giá cũng là khổ, việc ngồi ở ghế rơm cũng là khổ, việc rưới bằng dầu sôi cũng là khổ, việc cho những con chó gặm cũng là khổ, việc đặt trên giáo nhọn lúc còn sống cũng là khổ, việc chặt đầu bằng gươm cũng là khổ. Tâu đại vương, người bị luân hồi gánh chịu các khổ đau nhiều thứ vô số loại có hình thức như thế.
Tâu đại vương, giống như nước tích lũy ở núi Hi-mã-lạp ngập tràn ở các viên đá, sỏi, cát nhám, vực nước xoáy, ghềnh, thác, vật chướng ngại, vật ngăn cản, rễ cây, cành lá ở sông Gaṅgā, tâu đại vương, tương tợ y như thế người bị luân hồi gánh chịu các khổ đau nhiều thứ vô số loại có hình thức như thế.
Tâu đại vương, khổ đau thì bị xoay chuyển, an lạc (Niết Bàn) thì không bị xoay chuyển. Tâu đại vương, trong khi giải thích rõ về đức tính của sự không bị xoay chuyển và nguy hiểm của sự bị xoay chuyển, vì sự chứng ngộ pháp không bị xoay chuyển, vì sự vượt qua sanh-già-bệnh-chết mà đức Thế Tôn đã khuyến khích. Tâu đại vương, ở đây điều này là lý do mà với lý do ấy đức Thế Tôn đã khuyến khích.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ. Lý do đã được giảng giải rõ ràng. Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc tự kết liễu bản thân là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘na, bhikkhave, attānaṃ pātetabbaṃ, yo pāteyya, yathādhammo kāretabbo’ti. Puna ca tumhe bhaṇatha ‘yattha katthaci bhagavā sāvakānaṃ dhammaṃ desayamāno anekapariyāyena jātiyā jarāya byādhino maraṇassa samucchedāya dhammaṃ deseti, yo hi koci jātijarābyādhimaraṇaṃ samatikkamati, taṃ paramāya pasaṃsāya pasaṃsatī’ti. Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘na, bhikkhave, attānaṃ pātetabbaṃ, yo pāteyya, yathādhammo kāretabbo’ti, tena hi ‘jātiyā jarāya byādhino maraṇassa samucchedāya dhammaṃ desetī’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi jātiyā jarāya byādhino maraṇassa samucchedāya dhammaṃ deseti, tena hi ‘na, bhikkhave, attānaṃ pātetabbaṃ, yo pāteyya, yathādhammo kāretabbo’’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
5. “Venerable Nāgasena, this was spoken by the Blessed One: ‘Monks, one should not take one’s own life. Whoever should do so is to be dealt with according to the rule.’ Yet you also say: ‘Wherever the Blessed One teaches the Dhamma to his disciples, he teaches the Dhamma in many ways for the complete cutting off of birth, aging, sickness, and death. Whosoever transcends birth, aging, sickness, and death, him he praises with the highest praise.’ If, venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One, ‘Monks, one should not take one’s own life; whoever should do so is to be dealt with according to the rule,’ then the statement ‘he teaches the Dhamma for the complete cutting off of birth, aging, sickness, and death’ is incorrect. If he teaches the Dhamma for the complete cutting off of birth, aging, sickness, and death, then the statement ‘Monks, one should not take one’s own life; whoever should do so is to be dealt with according to the rule’ is also incorrect. This two-horned dilemma has also come to you, and it must be resolved by you.”
5. “Thưa ngài Nāgasena, điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Này các tỳ-khưu, không được hủy hoại bản thân. Vị nào hủy hoại, phải bị xử trị theo pháp.’ Nhưng rồi các ngài lại nói: ‘Bất cứ ở đâu, khi Đức Thế Tôn thuyết pháp cho các vị đệ tử, Ngài đã thuyết pháp bằng nhiều phương tiện để đoạn tận sanh, già, bệnh, chết. Bất cứ ai vượt qua được sanh, già, bệnh, chết, Ngài tán thán người ấy bằng lời tán thán tối thượng.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu Đức Thế Tôn đã nói: ‘Này các tỳ-khưu, không được hủy hoại bản thân. Vị nào hủy hoại, phải bị xử trị theo pháp,’ thì lời nói rằng ‘Ngài thuyết pháp để đoạn tận sanh, già, bệnh, chết’ là sai. Nếu Ngài thuyết pháp để đoạn tận sanh, già, bệnh, chết, thì lời nói rằng ‘Này các tỳ-khưu, không được hủy hoại bản thân. Vị nào hủy hoại, phải bị xử trị theo pháp’ cũng là sai. Câu hỏi lưỡng nan này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘na, bhikkhave, attānaṃ pātetabbaṃ, yo pāteyya, yathādhammo kāretabbo’ti. Yattha katthaci bhagavatā sāvakānaṃ dhammaṃ desayāmānena ca anekapariyāyena jātiyā jarāya byādhino maraṇassa samucchedāya dhammo desito, tattha pana kāraṇaṃ atthi, yena bhagavā kāraṇena paṭikkhipi samādapesi cā’’ti.
“Great king, this was said by the Blessed One: ‘Monks, one should not cause oneself to be slain. Whoever should cause one to be slain should be dealt with according to the Dhamma.’ And wherever the Blessed One teaches the Dhamma to his disciples, the Dhamma is taught in various ways for the complete eradication of birth, aging, sickness, and death. Now, there is a reason for which the Blessed One both prohibited and encouraged.”
“Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn nói: ‘Này các tỳ-khưu, không được hủy hoại bản thân. Vị nào hủy hoại, phải bị xử trị theo pháp.’ Và bất cứ ở đâu, khi Đức Thế Tôn thuyết pháp cho các vị đệ tử, Ngài đã thuyết pháp bằng nhiều phương tiện để đoạn tận sanh, già, bệnh, chết. Tuy nhiên, trong đó có lý do, do lý do ấy mà Đức Thế Tôn vừa ngăn cấm lại vừa khuyến khích.”
‘‘Kiṃ panettha, bhante nāgasena, kāraṇaṃ, yena bhagavā kāraṇena paṭikkhipi samādapesi cā’’ti? ‘‘Sīlavā, mahārāja, sīlasampanno agadasamo sattānaṃ kilesavisavināsane, osadhasamo sattānaṃ kilesabyādhivūpasame, udakasamo sattānaṃ kilesarajojallāpaharaṇe, maṇiratanasamo sattānaṃ sabbasampattidāne, nāvāsamo sattānaṃ caturoghapāragamane, satthavāhasamo sattānaṃ jātikantāratāraṇe, vātasamo sattānaṃ tividhaggisantāpanibbāpane, mahāmeghasamo sattānaṃ mānasaparipūraṇe, ācariyasamo sattānaṃ kusalasikkhāpane, sudesakasamo sattānaṃ khemapathamācikkhaṇe. Evarūpo, mahārāja, bahuguṇo anekaguṇo appamāṇaguṇo guṇarāsi guṇapuñjo sattānaṃ vaḍḍhikaro sīlavā ‘mā vinassī’ti sattānaṃ anukampāya bhagavā sikkhāpadaṃ paññapesi ‘na, bhikkhave, attānaṃ pātetabbaṃ, yo pāteyya, yathādhammo kāretabbo’ti. Idamettha, mahārāja, kāraṇaṃ, yena kāraṇena bhagavā paṭikkhipi. Bhāsitampetaṃ, mahārāja, therena kumārakassapena vicitrakathikena pāyāsirājaññassa paralokaṃ dīpayamānena ‘yathā yathā kho rājañña samaṇabrāhmaṇā sīlavanto kalyāṇadhammā ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭhanti, tathā tathā bahuṃ puññaṃ pasavanti, bahujanahitāya ca paṭipajjanti bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussāna’nti.
“What, venerable Nāgasena, is the reason herein for which the Blessed One both prohibited and encouraged?” “A virtuous one, great king, one endowed with virtue, is like an antidote for beings in destroying the poison of defilements; like water for beings in washing away the stain and dirt of defilements; like a wish-fulfilling jewel for beings in bestowing all prosperity; like a ship for beings in crossing the four floods; like a caravan leader for beings in traversing the wilderness of birth; like the wind for beings in extinguishing the heat of the three fires; like a great rain cloud for beings in fulfilling their hearts’ desires; like a teacher for beings in instructing in what is wholesome; like a good guide for beings in pointing out the safe path. Such, great king, is the virtuous one—of many virtues, of numerous virtues, of immeasurable virtues, a mass of virtues, a heap of virtues, one who brings about the growth of beings. Out of compassion for beings, thinking, ‘May this virtuous one not perish,’ the Blessed One laid down the training rule: ‘Monks, one should not cause oneself to be slain. Whoever should cause one to be slain should be dealt with according to the Dhamma.’ This, great king, is the reason herein for which the Blessed One prohibited. And this was also said, great king, by the Elder Kumāra Kassapa, the eloquent preacher, while illuminating the next world for King Pāyāsi: ‘In whatever way, O king, virtuous ascetics and brahmins of good character abide for a long, long time, in that same way they generate much merit and practice for the welfare of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the good, welfare, and happiness of gods and humans.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ở đây, lý do mà Đức Thế Tôn vừa ngăn cấm lại vừa khuyến khích là gì?” “Tâu Đại vương, người có giới, người đầy đủ giới hạnh, đối với việc tiêu trừ nọc độc phiền não của chúng sanh, thì giống như thuốc giải độc; đối với việc làm lắng dịu bệnh hoạn phiền não của chúng sanh, thì giống như dược thảo; đối với việc gột rửa bụi bặm nhơ bẩn phiền não của chúng sanh, thì giống như nước; đối với việc ban cho mọi thành tựu cho chúng sanh, thì giống như ngọc quý; đối với việc đưa chúng sanh qua khỏi bốn dòng bộc lưu, thì giống như chiếc thuyền; đối với việc dẫn dắt chúng sanh qua khỏi vùng hoang dã của sự sanh, thì giống như người dẫn đường cho đoàn lữ hành; đối với việc dập tắt sự thiêu đốt của ba ngọn lửa cho chúng sanh, thì giống như gió; đối với việc làm cho tâm ý của chúng sanh được viên mãn, thì giống như đám mây lớn; đối với việc huấn luyện chúng sanh trong các pháp thiện, thì giống như vị thầy; đối với việc chỉ ra con đường an ổn cho chúng sanh, thì giống như người chỉ đường giỏi. Tâu Đại vương, người có giới có bản chất như vậy, có nhiều đức hạnh, có vô số đức hạnh, có đức hạnh vô lượng, là một khối đức hạnh, là một kho tàng đức hạnh, là người làm cho chúng sanh tăng trưởng. Vì lòng bi mẫn đối với chúng sanh, với ý nghĩ ‘mong rằng người như vậy đừng bị hủy hoại’, Đức Thế Tôn đã chế định học giới: ‘Này các tỳ-khưu, không được hủy hoại bản thân. Vị nào hủy hoại, phải bị xử trị theo pháp.’ Tâu Đại vương, đây là lý do, do lý do này mà Đức Thế Tôn đã ngăn cấm. Tâu Đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Kumārakassapa, vị có tài hùng biện đặc sắc, nói ra khi đang trình bày về thế giới bên kia cho vương tử Pāyāsi rằng: ‘Tâu vương tử, khi nào và trong chừng mực nào mà các vị Sa-môn, Bà-la-môn có giới hạnh, có thiện pháp, sống lâu dài, thì khi ấy và trong chừng mực ấy, các vị ấy tạo ra nhiều phước báu, và hành động vì lợi ích cho nhiều người, vì hạnh phúc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì mục đích, vì lợi ích, vì hạnh phúc của chư thiên và loài người.’”
‘‘Kena pana kāraṇena bhagavā samādapesi? Jātipi, mahārāja, dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṃ, sokopi dukkho, paridevopi dukkho, dukkhampi dukkhaṃ, domanassampi dukkhaṃ, upāyāsopi dukkho, appiyehi sampayogopi dukkho, piyehi vippayogopi dukkho, mātumaraṇampi dukkhaṃ, pitumaraṇampi dukkhaṃ, bhātumaraṇampi dukkhaṃ, bhaginimaraṇampi dukkhaṃ, puttamaraṇampi dukkhaṃ, dāramaraṇampi dukkhaṃ, dāsamaraṇampi dukkhaṃ †, ñātimaraṇampi dukkhaṃ, ñātibyasanampi dukkhaṃ, rogabyasanampi dukkhaṃ, bhogabyasanampi dukkhaṃ, sīlabyasanampi dukkhaṃ, diṭṭhibyasanampi dukkhaṃ, rājabhayampi dukkhaṃ, corabhayampi dukkhaṃ, veribhayampi dukkhaṃ, dubbhikkhabhayampi dukkhaṃ, aggibhayampi dukkhaṃ, udakabhayampi dukkhaṃ, ūmibhayampi dukkhaṃ, āvaṭṭabhayampi dukkhaṃ, kumbhīlabhayampi dukkhaṃ, susukābhayampi dukkhaṃ, attānuvādabhayampi dukkhaṃ, parānuvādabhayampi dukkhaṃ, daṇḍabhayampi dukkhaṃ, duggatibhayampi dukkhaṃ, parisāsārajjabhayampi dukkhaṃ, ājīvakabhayampi dukkhaṃ, maraṇabhayampi dukkhaṃ, vettehi tāḷanampi dukkhaṃ, kasāhi tāḷanampi dukkhaṃ, addhadaṇḍakehi tāḷanampi dukkhaṃ, hatthacchedanampi dukkhaṃ, pādacchedanampi dukkhaṃ, hatthapādacchedanampi dukkhaṃ, kaṇṇacchedanampi dukkhaṃ, nāsacchedanampi dukkhaṃ, kaṇṇanāsacchedanampi dukkhaṃ, bilaṅgathālikampi dukkhaṃ, saṅkhamuṇḍikampi dukkhaṃ, rāhumukhampi dukkhaṃ, jotimālikampi dukkhaṃ, hatthapajjotikampi dukkhaṃ, erakavattikampi dukkhaṃ, cīrakavāsikampi dukkhaṃ, eṇeyyakampi dukkhaṃ, baḷisamaṃsikampi dukkhaṃ, kahāpaṇikampi dukkhaṃ, khārāpatacchikampi dukkhaṃ, palighaparivattikampi dukkhaṃ, palālapīṭhakampi dukkhaṃ, tattena telena osiñcanampi dukkhaṃ, sunakhehi khādāpanampi dukkhaṃ, jīvasūlāropanampi dukkhaṃ, asinā sīsacchedanampi dukkhaṃ, evarūpāni, mahārāja, bahuvidhāni anekavidhāni dukkhāni saṃsāragato anubhavati.
“For what reason, then, did the Blessed One encourage? Birth, great king, is suffering; aging is suffering; sickness is suffering; death is suffering; sorrow is suffering; lamentation is suffering; pain is suffering; grief is suffering; despair is suffering; association with the unloved is suffering; separation from the loved is suffering; the death of a mother is suffering; the death of a father is suffering; the death of a brother is suffering; the death of a sister is suffering; the death of a son is suffering; the death of a wife is suffering; the death of a slave is suffering; the death of relatives is suffering; the misfortune of relatives is suffering; misfortune from disease is suffering; misfortune from loss of wealth is suffering; misfortune from loss of virtue is suffering; misfortune from wrong view is suffering; fear of the king is suffering; fear of thieves is suffering; fear of enemies is suffering; fear of famine is suffering; fear of fire is suffering; fear of water is suffering; fear of waves is suffering; fear of whirlpools is suffering; fear of crocodiles is suffering; fear of sharks is suffering; fear of self-reproach is suffering; fear of others' reproach is suffering; fear of punishment is suffering; fear of a bad destination is suffering; fear of timidity in an assembly is suffering; fear for one's livelihood is suffering; fear of death is suffering; being beaten with canes is suffering; having hands cut off is suffering; having feet cut off is suffering; having hands and feet cut off is suffering; having ears cut off is suffering; having the nose cut off is suffering; having ears and nose cut off is suffering; the ‘boiling gruel pot’ punishment is suffering; the ‘polished conch shell’ punishment is suffering; the ‘Rāhu’s mouth’ punishment is suffering; the ‘garland of fire’ punishment is suffering; the ‘flaming hand’ punishment is suffering; the ‘reed-garment’ punishment is suffering; the ‘bark-dress’ punishment is suffering; the ‘antelope’ punishment is suffering; the ‘flesh-hooking’ punishment is suffering; the ‘coin-slicing’ punishment is suffering; the ‘alkaline-pickling’ punishment is suffering; the ‘turning on a pivot’ punishment is suffering; the ‘straw-mattress’ punishment is suffering; being sprinkled with hot oil is suffering; being devoured by dogs is suffering; being impaled alive is suffering; having the head cut off with a sword is suffering. Such, great king, are the many and various kinds of suffering that one wandering in saṃsāra experiences.
“Thưa Đại vương, nhưng do nguyên nhân nào mà Thế Tôn đã khuyên dạy (việc tu tập)? Thưa Đại vương, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu là khổ, bi là khổ, khổ (thân) là khổ, ưu (tâm) là khổ, não là khổ, gặp gỡ người mình không ưa là khổ, xa lìa người mình thương là khổ, mẹ chết là khổ, cha chết là khổ, anh em trai chết là khổ, chị em gái chết là khổ, con trai chết là khổ, vợ chết là khổ, người hầu chết là khổ, quyến thuộc chết là khổ, sự tổn thất về quyến thuộc là khổ, sự tổn thất về bệnh tật là khổ, sự tổn thất về tài sản là khổ, sự tổn thất về giới hạnh là khổ, sự tổn thất về tri kiến là khổ, sự sợ hãi vua chúa là khổ, sự sợ hãi trộm cướp là khổ, sự sợ hãi kẻ thù là khổ, sự sợ hãi nạn đói là khổ, sự sợ hãi lửa là khổ, sự sợ hãi nước là khổ, sự sợ hãi sóng dữ là khổ, sự sợ hãi nước xoáy là khổ, sự sợ hãi cá sấu là khổ, sự sợ hãi cá mập là khổ, sự sợ hãi bị tự mình khiển trách là khổ, sự sợ hãi bị người khác khiển trách là khổ, sự sợ hãi hình phạt là khổ, sự sợ hãi ác thú là khổ, sự sợ hãi rụt rè giữa hội chúng là khổ, sự sợ hãi về sinh kế là khổ, sự sợ hãi cái chết là khổ, bị đánh bằng roi mây là khổ, bị đánh bằng roi da là khổ, bị đánh bằng gậy gộc là khổ, bị chặt tay là khổ, bị chặt chân là khổ, bị chặt tay chân là khổ, bị cắt tai là khổ, bị cắt mũi là khổ, bị cắt tai mũi là khổ, bị hành hình kiểu ‘nồi cháo’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘đầu láng như vỏ ốc’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘miệng La-hầu’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘vòng hoa lửa’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘ngọn đuốc tay’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘lột da làm áo’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘lột da làm quần’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘tư thế con nai’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘móc thịt’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘xẻo thịt từng miếng’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘xát kiềm’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘xoay trên cọc’ là khổ, bị hành hình kiểu ‘đập nát xương’ là khổ, bị tưới dầu sôi là khổ, bị chó ăn thịt là khổ, bị đóng cọc khi đang sống là khổ, bị chém đầu bằng gươm là khổ. Thưa Đại vương, người trôi lăn trong vòng luân hồi phải chịu đựng vô số các loại khổ đau nhiều hình nhiều vẻ như vậy.”
‘‘Yathā, mahārāja, himavantapabbate abhivuṭṭhaṃ udakaṃ gaṅgāya nadiyā pāsāṇa sakkhara khara marumba āvaṭṭa gaggalaka ūmikavaṅkacadika āvaraṇanīvaraṇamūlakasākhāsu pariyottharati, evameva kho, mahārāja, evarūpāni bahuvidhāni anekavidhāni dukkhāni saṃsāragato anubhavati. Pavattaṃ, mahārāja, dukkhaṃ, appavattaṃ sukhaṃ. Appavattassa guṇaṃ pavattassa † ca bhayaṃ dīpayamāno, mahārāja, bhagavā appavattassa sacchikiriyāya jātijarābyādhimaraṇasamatikkamāya samādapesi, idamettha, mahārāja, kāraṇaṃ, yena kāraṇena bhagavā samādapesī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho, sukathitaṃ kāraṇaṃ, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Just as, great king, water that has rained down on the Himālaya mountain flows down the river Ganges, overwhelming stones, gravel, rough ground, sand, whirlpools, eddies, waves, bends, obstructions, hindrances, roots, and branches, even so, great king, does one wandering in saṃsāra experience these many and various kinds of suffering. The process of becoming, great king, is suffering; the cessation of becoming is happiness. Pointing out the virtue of cessation and the danger of the process of becoming, great king, the Blessed One encouraged the realization of that cessation, the transcending of birth, aging, sickness, and death. This, great king, is the reason herein for which the Blessed One encouraged.” “Excellent, venerable Nāgasena! The question has been well resolved, the reason well stated. I accept it just as you have said.”
“Thưa Đại vương, ví như nước mưa đổ xuống dẫy Hy-mã-lạp, chảy vào sông Hằng, cuốn trôi và nhận chìm tất cả, từ đá tảng, sỏi đá, cát sạn, xoáy nước, ghềnh thác, sóng vỗ, bờ cong, bờ khúc, đê điều, chướng ngại, rễ cây, cành cây. Thưa Đại vương, cũng giống như vậy, người trôi lăn trong vòng luân hồi phải chịu đựng vô số các loại khổ đau nhiều hình nhiều vẻ. Thưa Đại vương, sự tiếp diễn (của vòng luân hồi) là khổ, sự không tiếp diễn là lạc. Thưa Đại vương, trong khi chỉ rõ lợi ích của sự không tiếp diễn và sự nguy hiểm của sự tiếp diễn, Thế Tôn đã khuyên dạy (việc tu tập) để chứng ngộ sự không tiếp diễn, để vượt qua sanh, già, bệnh, chết. Thưa Đại vương, đây chính là nguyên nhân, vì nguyên nhân này mà Thế Tôn đã khuyên dạy.” “Lành thay, thưa Tôn giả Nāgasena, câu hỏi đã được giải đáp rõ ràng, nguyên nhân đã được trình bày khéo léo. Con xin thọ nhận ý nghĩa này đúng như vậy.”
Attanipātanapañho pañcamo.
The Fifth Question on Causing Oneself to be Slain.
Câu hỏi thứ năm về sự tự sát đến đây là kết thúc.