Bản dịch
MIL 5.4.2 — CÂU HỎI VỀ PHÁP VÀ LUẬT ĐƯỢC CHE GIẤU
2. Dhammavinayapaṭicchannāpaṭicchannapañha
HAY KHÔNG ĐƯỢC CHE GIẤU
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu.’ Và thêm nữa, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu. Thưa ngài Nāgasena, nếu ngài đạt được sự gắn bó, hoặc sự thành tựu, hoặc sự lãnh hội trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, thì sự quy định về Luật là được bộc lộ, có thể tỏa sáng. Vì lý do gì? Toàn bộ ở đây là sự thu thúc trong các điều học, sự kiềm chế, sự quy định về giới đức và tánh hạnh đều có hương vị của mục đích, hương vị của Giáo Pháp, hương vị của Giải Thoát. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu’ là sai trái. Nếu việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai là bộc lộ, chói sáng, không bị che giấu.’ Và thêm nữa, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha và toàn bộ Tạng Luật là được đóng lại, được che giấu. Tuy nhiên, điều ấy không phải là đối với tất cả (mọi người), sau khi đã thực hiện ranh giới thì việc ấy được đóng lại.
Tâu đại vương, việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại bởi đức Thế Tôn bởi vì ba tính chất: được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước, được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp, được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, giống như kiến thức Sát-đế-lỵ của dòng Sát-đế-lỵ lưu truyền chỉ trong số các vị Sát-đế-lỵ, việc như thế này là tập quán đối với thế gian của các vị Sát-đế-lỵ, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại.
Tâu đại vương, hoặc là giống như các nhóm người sinh sống ở trái đất gồm có: thợ đấu vật, làm xiếc, uốn dẻo, tài tử, diễn viên, kịch sĩ, vũ công, múa rối, ảo thuật, hạng thờ phụng các vị Trời Maṇibhaddā, Puṇṇabhaddā, Thần Mặt Trăng, Thần Mặt Trời, Thần May Mắn, Thần Rủi Ro, Thần Siva, Thần Visnu, Thần Mây, Thần Asipāsā, Thần Bhaddiputta. Điều bí mật của mỗi một nhóm lưu truyền chỉ trong từng nhóm người ấy, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Tâu đại vương, tương tợ y như thế truyền thống này là của tất cả các đức Như Lai thời trước, tức là việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha ở giữa các vị tỳ khưu, và đóng lại đối với các thành phần còn lại. Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại theo quy luật truyền thống của các đức Như Lai thời trước (nghĩa) là như vậy.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, Giáo Pháp là đáng được cung kính, đáng được tôn trọng. Ở đây, người có sự thực hành đúng đắn thì đạt được trí tuệ. Người đạt được điều ấy ở đây do sự thực hành đúng đắn theo sự truyền thừa, người không đạt được điều ấy ở đây do sự thực hành đúng đắn theo sự truyền thừa (nghĩ rằng): ‘Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có rơi vào tay của những người có sự thực hành sai trái, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có đến với những người xấu xa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách.’ Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là như vậy.
Tâu đại vương, giống như vật gọi là trầm huyết có lõi, cao quý, ưu tú, chính cống, nguyên chất, màu đỏ được đem đến nơi thị tứ ở thôn quê thì bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Tâu đại vương, tương tợ y như thế có người (nghĩ rằng): ‘Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có rơi vào tay của những người có sự thực hành sai trái theo sự truyền thừa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách. Giáo Pháp tinh túy, Giáo Pháp cao quý này chớ có đến với những người xấu xa, rồi bị chê bai, bị khinh thường, bị khi dễ, bị khinh miệt, bị chê trách.’ Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với Giáo Pháp (nghĩa) là như vậy.
Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu (nghĩa) là thế nào? Tâu đại vương, bản thể tỳ khưu ở trên đời quả là không so sánh được, không đo lường được, không định giá được, không ai có thể đem ra đánh giá, đem ra so sánh, đem ra đo lường (nghĩ rằng): ‘Mong rằng người này đứng vững trong bản thể tỳ khưu như vầy và chớ trở thành đồng đẳng với thế gian,’ việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha lưu truyền ở giữa chỉ riêng các vị tỳ khưu.
Tâu đại vương, giống như loại hàng hóa cao quý và ưu tú ở trên đời là tấm vải hoặc là tấm thảm trải, hoặc là voi, ngựa, xe, vàng, bạc, ngọc ma-ni, ngọc trai, các châu báu của phụ nữ, v.v… hoặc là những việc làm và các vị anh hùng không bị đánh bại, tất cả các vật ấy đều đến với đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế hết thảy các điều học, các Kinh điển khéo được truyền thừa và pháp học, các đức tính của việc thu thúc trong hành xử và của sự phòng hộ các giới, tất cả các điều ấy đều đến với hội chúng tỳ khưu. Việc đọc tụng giới bổn Pātimokkha sau khi đã thực hiện ranh giới thì được đóng lại vì sự cung kính đối với địa vị của các tỳ khưu (nghĩa) là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về Pháp và Luật
được che giấu hay không được che giấu là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Kathaṃ pubbakānaṃ tathāgatānaṃ vaṃsavasena pātimokkhuddeso sīmaṃ katvā pihito, eso vaṃso, mahārāja, sabbesaṃ pubbakānaṃ tathāgatānaṃ yadidaṃ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṃ pihito. Yathā, mahārāja, khattiyānaṃ khattiyamāyā khattiyesu yeva carati, evametaṃ khattiyānaṃ lokassa paveṇī avasesānaṃ pihitā. Evameva kho, mahārāja, eso vaṃso sabbesaṃ pubbakānaṃ tathāgatānaṃ yadidaṃ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṃ pihito.
“How was the recitation of the Pātimokkha concealed by establishing a boundary in accordance with the lineage of past Tathāgatas? This, great king, is the lineage of all past Tathāgatas: that the recitation of the Pātimokkha is done in the midst of bhikkhus and is concealed from the rest. Just as, great king, the royal art of the khattiyas is practiced only among khattiyas, and this worldly tradition of the khattiyas is concealed from the rest, so too, great king, this is the lineage of all past Tathāgatas: that the recitation of the Pātimokkha is done in the midst of bhikkhus and is concealed from the rest.”
“Thế nào là việc tụng đọc Pātimokkha được đóng lại có giới hạn do theo truyền thống của các bậc Như Lai quá khứ? Tâu Đại vương, đây là truyền thống của tất cả các bậc Như Lai quá khứ, đó là việc tụng đọc Pātimokkha ở giữa các Tỳ khưu thì được đóng lại đối với những người còn lại. Tâu Đại vương, ví như những bí truyền của dòng Sát-đế-lỵ chỉ được lưu hành trong giới Sát-đế-lỵ, cũng vậy, truyền thống thế gian này của dòng Sát-đế-lỵ được đóng lại đối với những người còn lại. Cũng vậy, tâu Đại vương, đây là truyền thống của tất cả các bậc Như Lai quá khứ, đó là việc tụng đọc Pātimokkha ở giữa các Tỳ khưu thì được đóng lại đối với những người còn lại.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, mahiyā gaṇā vattanti, seyyathidaṃ, mallā atoṇā pabbatā dhammagiriyā brahmagiriyā naṭakā naccakā laṅghakā pisācā maṇibhaddā puṇṇabaddhā candimasūriyā siridevatā kālidevatā, sivā vasudevā ghanikā asipāsā bhaddiputtāti, tesaṃ tesaṃ rahassaṃ tesu tesu gaṇesu yeva carati, avasesānaṃ pihitaṃ. Evameva kho, mahārāja, eso vaṃso sabbesaṃ pubbakānaṃ tathāgatānaṃ yadidaṃ bhikkhumajjhe pātimokkhuddeso avasesānaṃ pihito. Evaṃ pubbakānaṃ tathāgatānaṃ vaṃsavasena pātimokkhuddeso sīmaṃ katvā pihito.
“Or just as, great king, there are guilds on the earth, such as these: the Mallas, Atoṇas, Pabbatas, Dhammagiriyas, Brahmagiriyas, actors, dancers, acrobats, spirits, Maṇibhaddas, Puṇṇabaddhas, Candimasūriyas, Siridevatās, Kālidevatās, Sivas, Vasudevas, Ghanikas, Asipāsas, and Bhaddiputtas—the secret of each of these guilds is practiced only within those respective guilds and is concealed from the rest. In the same way, great king, this is the lineage of all past Tathāgatas: that the recitation of the Pātimokkha is done in the midst of bhikkhus and is concealed from the rest. Thus, in accordance with the lineage of past Tathāgatas, the recitation of the Pātimokkha is concealed by establishing a boundary.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, ví như trên thế gian có các hội đoàn tồn tại, chẳng hạn như: hội Mallā, Atoṇā, Pabbatā, Dhammagiriyā, Brahmagiriyā, các vũ công, các vũ nữ, các người nhào lộn, các quỷ Pisācā, các hội Maṇibhaddā, Puṇṇabaddhā, Candimasūriyā, Siridevatā, Kālidevatā, Sivā, Vasudevā, Ghanikā, Asipāsā, Bhaddiputtā. Bí mật của mỗi hội đoàn chỉ được lưu hành trong chính hội đoàn đó, và được đóng lại đối với những người còn lại. Cũng vậy, tâu Đại vương, đây là truyền thống của tất cả các bậc Như Lai quá khứ, đó là việc tụng đọc Pātimokkha ở giữa các Tỳ khưu thì được đóng lại đối với những người còn lại. Như vậy, việc tụng đọc Pātimokkha được đóng lại có giới hạn do theo truyền thống của các bậc Như Lai quá khứ.
‘‘Kathaṃ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṃ katvā pihito? Dhammo, mahārāja, garuko bhāriyo, tattha sammattakārī aññaṃ ārādheti, taṃ tattha paramparāsammattakāritāya pāpuṇāti, na taṃ tattha paramparāsammattakāritāya pāpuṇāti, mā cāyaṃ sāradhammo varadhammo asammattakārīnaṃ hatthagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatu, mā cāyaṃ sāradhammo varadhammo dujjanagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatūti. Evaṃ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṃ katvā pihito.
“How is the recitation of the Pātimokkha concealed by establishing a boundary out of reverence for the Dhamma? The Dhamma, great king, is weighty and profound. One who acts rightly therein accomplishes a higher state. One attains that through a succession of right practice; one does not attain that through a succession of wrong practice. May this essential Dhamma, this excellent Dhamma, not fall into the hands of those who do not act rightly and be despised, disrespected, reviled, ridiculed, and censured. May this essential Dhamma, this excellent Dhamma, not fall to wicked people and be despised, disrespected, reviled, ridiculed, and censured. Thus, out of reverence for the Dhamma, the recitation of the Pātimokkha is concealed by establishing a boundary.”
“Thế nào là việc tụng đọc Pātimokkha được đóng lại có giới hạn do sự tôn trọng đối với Pháp? Tâu Đại vương, Pháp thì cao trọng, nặng nề. Người thực hành đúng đắn trong đó có thể làm hài lòng người khác, người ấy đạt được điều đó nhờ vào sự thực hành đúng đắn liên tục, và không đạt được nếu không thực hành đúng đắn liên tục. Mong rằng Pháp cốt tủy, Pháp cao thượng này, khi rơi vào tay những người không thực hành đúng đắn, sẽ không bị coi thường, khinh miệt, chê bai, chỉ trích, khiển trách. Mong rằng Pháp cốt tủy, Pháp cao thượng này, khi đến tay kẻ xấu, sẽ không bị coi thường, khinh miệt, chê bai, chỉ trích, khiển trách. Như vậy, việc tụng đọc Pātimokkha được đóng lại có giới hạn do sự tôn trọng đối với Pháp.
‘‘Yathā, mahārāja, sāravarapavaraabhijātajātimantarattalohitacandanaṃ nāma savarapuramanugataṃ oññātaṃ avaññātaṃ hīḷitaṃ khīḷitaṃ garahitaṃ bhavati, evameva kho, mahārāja, mā cāyaṃ sāradhammo varadhammo paramparāasammattakārīnaṃ hatthagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatu, mā cāyaṃ sāradhammo varadhammo dujjanagato oññāto avaññāto hīḷito khīḷito garahito bhavatūti. Evaṃ dhammassa garukattā pātimokkhuddeso sīmaṃ katvā pihito.
“Just as, great king, the finest, most excellent, high-born, well-bred, bright red sandalwood, when it comes to a village of savages, is despised, disrespected, reviled, ridiculed, and censured, so too, great king, may this essential Dhamma, this excellent Dhamma, not fall into the hands of those who practice wrongly in succession and be despised, disrespected, reviled, ridiculed, and censured. May this essential Dhamma, this excellent Dhamma, not fall to wicked people and be despised, disrespected, reviled, ridiculed, and censured. Thus, out of reverence for the Dhamma, the recitation of the Pātimokkha is concealed by establishing a boundary.”
“Tâu Đại vương, ví như loại gỗ chiên-đàn lõi đỏ, quý giá, thượng hạng, thuộc dòng dõi cao quý, khi đến thành của những người man rợ thì bị coi thường, khinh miệt, chê bai, chỉ trích, khiển trách. Cũng vậy, tâu Đại vương, mong rằng Pháp cốt tủy, Pháp cao thượng này, khi rơi vào tay những người thực hành không đúng đắn từ đời này sang đời khác, sẽ không bị coi thường, khinh miệt, chê bai, chỉ trích, khiển trách. Mong rằng Pháp cốt tủy, Pháp cao thượng này, khi đến tay kẻ xấu, sẽ không bị coi thường, khinh miệt, chê bai, chỉ trích, khiển trách. Như vậy, việc tụng đọc Pātimokkha được đóng lại có giới hạn do sự tôn trọng đối với Pháp.
‘‘Kathaṃ bhikkhubhūmiyā garukattā pātimokkhuddeso sīmaṃ katvā pihito, bhikkhubhāvo kho, mahārāja, loke atuliyo appamāṇo anagghiyo, na sakkā kenaci agghāpetuṃ tuletuṃ parimetuṃ, māyaṃ evarūpe bhikkhubhāve ṭhito lokena samasamo bhavatūti bhikkhūnaṃ yeva antare pātimokkhuddeso carati. Yathā, mahārāja, loke varapavarabhaṇḍaṃ vatthaṃ vā attharaṇaṃ vā gajaturaṅgarathasuvaṇṇarajatamaṇimuttāitthiratanādīni vā vijitakammasūrā vā † sabbe te rājānamupagacchanti, evameva kho, mahārāja, yāvatā loke † sugatāgamapariyattiācārasaṃyamasīlasaṃvaraguṇā, sabbe te bhikkhusaṅghamupagatā bhavanti. Evaṃ bhikkhubhūmiyā garukattā pātimokkhuddeso sīmaṃ katvā pihito’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampiṭicchāmī’’ti.
“How is the recitation of the Pātimokkha concealed by establishing a boundary out of reverence for the state of being a bhikkhu? The state of being a bhikkhu, great king, is in this world incomparable, immeasurable, and priceless. It cannot be valued, weighed, or measured by anyone. Lest one established in such a state of being a bhikkhu be considered equal to the world, the recitation of the Pātimokkha is practiced only among bhikkhus. Just as, great king, in the world, the finest and most excellent goods—whether cloth, coverings, elephants, horses, chariots, gold, silver, gems, pearls, or jewel-like women—all come to the king, so too, great king, all the qualities in the world such as the scriptural tradition of the Well-Gone One, practice, restraint, virtue, and self-control, all come to the Saṅgha of bhikkhus. Thus, out of reverence for the state of being a bhikkhu, the recitation of the Pātimokkha is concealed by establishing a boundary.” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it just as you say.”
‘Do sự trọng thể của địa vị tỳ-khưu, vì sao việc tụng đọc Pātimokkha lại được giới hạn và che đậy? Thưa Đại vương, quả thật, trong thế gian, địa vị tỳ-khưu là vô song, vô lượng, vô giá; không ai có thể định giá, cân lường, hay đo đếm được. Với ý nghĩ rằng: ‘Vị tỳ-khưu này, đang an trú trong địa vị tỳ-khưu như vậy, mong rằng sẽ không bị xem là ngang bằng với thế gian,’ việc tụng đọc Pātimokkha chỉ được thực hành trong nội bộ các tỳ-khưu. Thưa Đại vương, ví như trong thế gian, những vật phẩm quý báu và tuyệt hảo, dù là y phục, vật trải, hay voi, ngựa, xe, vàng, bạc, ngọc ma-ni, ngọc trai, phụ nữ báu, hoặc các dũng sĩ trong các trận chiến thắng lợi, tất cả những thứ ấy đều được dâng đến cho đức vua. Cũng vậy, thưa Đại vương, trong thế gian có bao nhiêu đức hạnh như học tập giáo pháp của bậc Thiện Thệ, cách hành xử, sự tự chủ, giới và sự thu thúc, tất cả những đức hạnh ấy đều quy tụ về Tăng đoàn tỳ-khưu. Như vậy, do sự trọng thể của địa vị tỳ-khưu, việc tụng đọc Pātimokkha đã được giới hạn và che đậy.’ ‘Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.’
Dhammavinayapaṭicchannāpaṭicchannapañho dutiyo.
The Second Question on the Concealed and Unconcealed in the Dhamma and Vinaya.
Câu hỏi thứ hai về sự che đậy và không che đậy của Pháp và Luật đã kết thúc.
3. Musāvādagarulahubhāvapañho
3. The Question on the Gravity and Lightness of False Speech.
3. Câu hỏi về tính chất nặng nhẹ của lời nói dối.