Bản dịch
MIL 5.3.9 — CÂU HỎI VỀ VỊ SA-MÔN CAO QUÝ HẠNG NHẤT
9. Aggaggasamaṇapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Do sự cạn kiệt của các lậu hoặc mà trở thành vị Sa-môn.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng:
‘Vị có trạng thái đã sở hữu bốn pháp, đương nhiên thế gian đã gọi vị ấy là Sa-môn.’
Trong trường hợp ấy, bốn pháp này là: kham nhẫn, hạn chế về vật thực, dứt trừ hẳn sự thỏa thích, không sở hữu bất cứ vật gì. Tuy nhiên, người có lậu hoặc chưa được đoạn diệt, thậm chí còn ô nhiễm, vẫn có tất cả các pháp này. Thưa ngài Nāgasena, nếu do sự đoạn tận của các lậu hoặc mà trở thành vị Sa-môn, như thế thì lời nói rằng: ‘Vị có trạng thái đã sở hữu bốn pháp, đương nhiên thế gian đã gọi vị ấy là Sa-môn’ là sai trái. Nếu được thành tựu bốn pháp là trở thành vị Sa-môn, như thế thì lời nói rằng: ‘Do sự cạn kiệt của các lậu hoặc mà trở thành vị Sa-môn’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Do sự cạn kiệt của các lậu hoặc mà trở thành vị Sa-môn.’ Và đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Vị có trạng thái đã sở hữu bốn pháp, đương nhiên thế gian đã gọi vị ấy là Sa-môn.’ Tâu đại vương, lời nói này đây đã được nói về phương diện đức hạnh của những con người ấy đấy: ‘Vị có trạng thái đã sở hữu bốn pháp, đương nhiên thế gian đã gọi vị ấy là Sa-môn.’ Còn đây là lời nói trọn vẹn: ‘Do sự cạn kiệt của các lậu hoặc mà trở thành vị Sa-môn.’ Hơn nữa tâu đại vương, liên quan và đề cập đến tất cả những vị đã thực hành nhằm làm an tịnh các phiền não thì vị Sa-môn có lậu hoặc đã cạn kiệt được gọi là hạng nhất.
Tâu đại vương, giống như trong số bất cứ các loài hoa nào sống ở nước hoặc sống ở đất liền, thì hoa nhài được gọi là hạng nhất. Hơn nữa, liên quan và đề cập đến tất cả các loài hoa nào đó còn lại, đủ các hạng, thì chỉ riêng hoa nhài là được con người mong cầu, ước muốn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế liên quan và đề cập đến tất cả những vị đã thực hành nhằm làm an tịnh các phiền não thì vị Sa-môn có lậu hoặc đã cạn kiệt được gọi là hạng nhất.
Tâu đại vương, hoặc là giống như trong số tất cả các loại hạt thì gạo sāli được gọi là hạng nhất. Liên quan và đề cập đến bất cứ các loại hạt còn lại, đủ các hạng, là các loại vật thực nhằm nuôi dưỡng cơ thể, thì chỉ riêng gạo sāli được gọi là hạng nhất trong số các loại ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế liên quan và đề cập đến tất cả những vị đã thực hành nhằm làm an tịnh các phiền não thì vị Sa-môn có lậu hoặc đã cạn kiệt được gọi là hạng nhất.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về vị Sa-môn cao quý hạng nhất là thứ chín.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘‘Catubbhi dhammehi samaṅgibhūtaṃ, taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke’ti.
‘That person endowed with four qualities, they call an ascetic in the world.’”
“‘Vị nào hội đủ bốn pháp, người ấy thật được gọi là Sa-môn ở trong đời.’”
Tatrime cattāro dhammā khanti appāhāratā rativippahānaṃ ākiñcaññaṃ. Sabbāni panetāni aparikkhīṇāsavassa sakilesasseva honti. Yadi, bhante nāgasena, āsavānaṃ khayā samaṇo hoti, tena hi ‘catubbhi dhammehi samaṅgibhūtaṃ, taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi catubbhi dhammehi samaṅgibhūto samaṇo hoti, tena hi ‘āsavānaṃ khayā samaṇo hotī’ti tampi vacanaṃ micchā, ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“Herein, these are the four qualities: patience, eating little, the abandoning of sensual delight, and possessing nothing. But all these qualities belong only to one who has not eradicated the taints and is still defiled. If, Venerable Nāgasena, one becomes an ascetic through the destruction of the taints, then the statement, ‘That person endowed with four qualities, they call an ascetic in the world,’ is false. If one becomes an ascetic by being endowed with four qualities, then the statement, ‘Through the destruction of the taints, one becomes an ascetic,’ is also false. This two-horned dilemma has come to you, and it must be resolved by you.”
“Ở đây, bốn pháp này là: sự kham nhẫn, sự ít muốn về vật thực, sự từ bỏ ái dục, và sự vô sở hữu. Tuy nhiên, tất cả những điều này chỉ có ở người chưa đoạn tận các lậu hoặc, vẫn còn phiền não. Bạch ngài Nāgasena, nếu do sự đoạn tận các lậu hoặc mà có Sa-môn, như vậy thì lời nói: ‘Vị nào hội đủ bốn pháp, người ấy thật được gọi là Sa-môn ở trong đời’ là sai. Nếu người hội đủ bốn pháp là Sa-môn, như vậy thì lời nói: ‘Do sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy là Sa-môn’ cũng là sai. Vấn đề lưỡng nan này lại được trình đến ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘āsavānaṃ khayā samaṇo hotī’ti. Puna ca bhaṇitaṃ ‘catubbhi dhammehi samaṅgibhūtaṃ, taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke’ti. Tadidaṃ, mahārāja, vacanaṃ tesaṃ tesaṃ puggalānaṃ guṇavasena bhaṇitaṃ ‘catubbhi dhammehi samaṅgibhūtaṃ, taṃ ve naraṃ samaṇaṃ āhu loke’ti, idaṃ pana niravasesavacanaṃ ‘āsavānaṃ khayā samaṇo hotī’ti.
“This was spoken by the Blessed One, great king: ‘Through the destruction of the taints, one becomes an ascetic.’ And again, it was said: ‘That person endowed with four qualities, they call an ascetic in the world.’ This latter statement, great king, was spoken with reference to the virtues of various individuals: ‘That person endowed with four qualities, they call an ascetic in the world.’ But this statement, ‘Through the destruction of the taints, one becomes an ascetic,’ is a statement without exception.”
“Thưa Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Do sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy là Sa-môn.’ Và lại nữa, đã được nói rằng: ‘Vị nào hội đủ bốn pháp, người ấy thật được gọi là Sa-môn ở trong đời.’ Thưa Đại vương, lời nói này: ‘Vị nào hội đủ bốn pháp, người ấy thật được gọi là Sa-môn ở trong đời’ được nói ra tùy theo đức hạnh của từng hạng người. Còn lời nói này: ‘Do sự đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy là Sa-môn’ là lời nói không còn dư sót.”
‘‘Api ca, mahārāja, ye keci kilesūpasamāya paṭipannā, te sabbe upādāyupādāya samaṇo khīṇāsavo aggamakkhāyati. Yathā, mahārāja, yāni kānici jalajathalajapupphāni, vassikaṃ tesaṃ aggamakkhāyati, avasesāni yāni kānici vividhāni pupphajātāni, sabbāni tāni pupphāni yeva, upādāyupādāya pana vassikaṃ yeva pupphaṃ janassa patthitaṃ pihayitaṃ. Evameva kho, mahārāja, ye keci kilesūpasamāya paṭipannā, te sabbe upādāyupādāya samaṇo khīṇāsavo aggamakkhāyati.
“Furthermore, great king, with reference to all those who have entered the path for the calming of defilements, the ascetic whose taints are destroyed is declared the foremost. Just as, great king, of all flowers that grow on land or in water, the jasmine is declared the foremost among them; and though the remaining various kinds of flowers are all flowers indeed, it is the jasmine flower that is desired and cherished by people. In the same way, great king, with reference to all those who have entered the path for the calming of defilements, the ascetic whose taints are destroyed is declared the foremost.”
“Hơn nữa, thưa Đại vương, bất cứ ai thực hành để làm lắng dịu các phiền não, khi so sánh tất cả các vị ấy, vị Sa-môn đã đoạn tận lậu hoặc được gọi là tối thượng. Thưa Đại vương, ví như có bất cứ loài hoa nào, dù mọc dưới nước hay trên cạn, thì trong số ấy hoa lài được gọi là tối thượng. Các loại hoa khác, bất cứ loại nào, dù đa dạng, tất cả chúng đều là hoa, nhưng khi so sánh, chính hoa lài mới được dân chúng mong mỏi, ưa thích. Cũng vậy, thưa Đại vương, bất cứ ai thực hành để làm lắng dịu các phiền não, khi so sánh tất cả các vị ấy, vị Sa-môn đã đoạn tận lậu hoặc được gọi là tối thượng.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, sabbadhaññānaṃ sāli aggamakkhāyati, yā kāci avasesā vividhā dhaññajātiyo, tā sabbā upādāyupādāya bhojanāni sarīrayāpanāya, sāli yeva tesaṃ aggamakkhāyati. Evameva kho, mahārāja, ye keci kilesūpasamāya paṭipannā, te sabbe upādāyupādāya samaṇo khīṇāsavo aggamakkhāyatī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Or again, Your Majesty, just as among all grains, fine rice is declared the chief; whatever other various kinds of grains there may be, with reference to them all as foods for the sustenance of the body, fine rice alone is declared the chief among them. Even so, Your Majesty, with reference to all those who have entered the path for the calming of the defilements, the ascetic whose taints are destroyed is declared the chief.” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it just so.”
“Hoặc ví như, thưa Đại vương, trong tất cả các loại ngũ cốc, lúa Sāli được gọi là tối thượng. Bất cứ loại ngũ cốc nào khác còn lại, dù đa dạng, khi so sánh, tất cả chúng đều là thực phẩm để duy trì thân mạng, nhưng chính lúa Sāli được gọi là tối thượng trong số ấy. Cũng vậy, thưa Đại vương, bất cứ ai thực hành để làm lắng dịu các phiền não, khi so sánh tất cả các vị ấy, vị Sa-môn đã đoạn tận lậu hoặc được gọi là tối thượng.” “Lành thay, bạch ngài Nāgasena, con xin thọ nhận điều này đúng như vậy.”
Aggaggasamaṇapañho navamo.
The ninth question on the Foremost of the Foremost Ascetics is concluded.
Câu hỏi về Sa-môn Tối thượng và không tối thượng, chương thứ chín.