Bản dịch
MIL 5.3.10 — CÂU HỎI VỀ VIỆC NÓI LỜI CA NGỢI
10. Vaṇṇabhaṇanapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’
Và thêm nữa, trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng:
‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng. Ta chuyển vận bánh xe theo Giáo Pháp, là bánh xe không thể bị chuyển vận nghịch lại.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân’ là sai trái.
Nếu trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’ Và trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, Ngài đã tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng:
‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng. Ta chuyển vận bánh xe theo Giáo Pháp, là bánh xe không thể bị chuyển vận nghịch lại.’
Tâu đại vương, trong khi đang giải thích về hiện tướng của bản thể luôn cả cốt lõi, về bản thể, về sự hiển hiện, về sự hiện hữu, về thực thể, về trạng thái thật của Giáo Pháp, đức Thế Tôn đã nói lên câu thứ nhất rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’
Trái lại, trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Thế Tôn đã tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng,’ điều ấy không do nhân lợi lộc, không do nhân danh vọng, không do nhân phe nhóm, không vì lòng mong mỏi đệ tử. Khi ấy, vì lòng thương tưởng, vì lòng bi mẫn, vì ước muốn điều lợi ích (nghĩ rằng): ‘Như vầy sẽ có sự lãnh hội cho người này và ba trăm thanh niên Bà-la-môn,’ nên Ngài đã công bố nhiều hơn, vượt trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc nói lời ca ngợi là thứ mười.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘‘Rājāhamasmi selāti, dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṃ vattemi, cakkaṃ appaṭivattiya’nti †.
“‘I am a king, Sela, a King of Dhamma, unsurpassed; I turn the Wheel by means of Dhamma, a wheel that is irreversible.’”
“‘Này Sela, ta là vua, là Pháp vương vô thượng; Ta chuyển bánh xe Pháp bằng Chánh pháp, bánh xe không thể bị đảo ngược.’”
‘‘Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘mamaṃ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṃ bhāseyyuṃ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṃ bhāseyyuṃ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṃ, na cetaso uppilāvitattaṃ karaṇīya’nti, tena hi selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne ānandito sumano uppilāvito bhiyyo uttariṃ sakaguṇaṃ pakittesīti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne ānandito sumano uppilāvito bhiyyo uttariṃ sakaguṇaṃ pakittesi, tena hi ‘mamaṃ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṃ bhāseyyuṃ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṃ bhāseyyuṃ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṃ, na cetaso uppilāvitattaṃ karaṇīya’nti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“Venerable Nāgasena, if it was said by the Blessed One, ‘Monks, if others should speak in praise of me, or of the Dhamma, or of the Sangha, you should not on that account feel delight, nor gladness, nor elation of mind,’ then the statement that when the brahmin Sela was speaking of his qualities in accordance with reality, the Blessed One was delighted, glad-minded, and elated, and further proclaimed his own qualities, must be false. And if, when the brahmin Sela was speaking of his qualities in accordance with reality, the Blessed One was delighted, glad-minded, and elated, and further proclaimed his own qualities, then that statement, ‘Monks, if others should speak in praise of me, or of the Dhamma, or of the Sangha, you should not on that account feel delight, nor gladness, nor elation of mind,’ must also be false. This two-pronged question has now come to you, and it is for you to resolve it.”
“Bạch ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói: ‘Này các Tỳ-khưu, nếu những người khác tán thán ta, hoặc tán thán Pháp, hoặc tán thán Tăng, các thầy không nên hoan hỷ, không nên vui mừng, không nên để tâm trôi nổi,’ như vậy thì lời nói rằng khi Bà-la-môn Sela tán thán những đức hạnh đúng như thật, ngài đã hoan hỷ, vui mừng, tâm phấn chấn, và còn tán dương thêm nữa những đức hạnh của chính mình, là sai. Nếu khi Bà-la-môn Sela tán thán những đức hạnh đúng như thật, đức Như Lai đã hoan hỷ, vui mừng, tâm phấn chấn, và còn tán dương thêm nữa những đức hạnh của chính mình, như vậy thì lời nói: ‘Này các Tỳ-khưu, nếu những người khác tán thán ta, hoặc tán thán Pháp, hoặc tán thán Tăng, các thầy không nên hoan hỷ, không nên vui mừng, không nên để tâm trôi nổi’ cũng là sai. Vấn đề lưỡng nan này lại được trình đến ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘mamaṃ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṃ bhāseyyuṃ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṃ bhāseyyuṃ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṃ, na cetaso uppilāvitattaṃ karaṇīya’nti. Selassa ca brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne bhiyyo uttariṃ sakaguṇaṃ pakittitaṃ –
“Your Majesty, this was spoken by the Blessed One: ‘Monks, if others should speak in praise of me, or of the Dhamma, or of the Sangha, you should not on that account feel delight, nor gladness, nor elation of mind.’ And also, when the brahmin Sela was speaking of his qualities in accordance with reality, his own qualities were proclaimed even further—
“Thưa Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Này các Tỳ-khưu, nếu những người khác tán thán ta, hoặc tán thán Pháp, hoặc tán thán Tăng, các thầy không nên hoan hỷ, không nên vui mừng, không nên để tâm trôi nổi.’ Và khi Bà-la-môn Sela tán thán những đức hạnh đúng như thật, ngài đã tán dương thêm nữa những đức hạnh của chính mình –”
‘‘‘Rājāhamasmi selāti, dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṃ vattemi, cakkaṃ appaṭivattiya’nti.
“‘I am a king, Sela, a King of Dhamma, unsurpassed; I turn the Wheel by means of Dhamma, a wheel that is irreversible.’”
“‘Này Sela, ta là vua, là Pháp vương vô thượng; Ta chuyển bánh xe Pháp bằng Chánh pháp, bánh xe không thể bị đảo ngược.’”
‘‘Paṭhamaṃ, mahārāja, bhagavatā dhammassa sabhāvasarasalakkhaṇaṃ sabhāvaṃ avitathaṃ bhūtaṃ tacchaṃ tathatthaṃ paridīpayamānena bhaṇitaṃ ‘mamaṃ vā bhikkhave, pare vaṇṇaṃ bhāseyyuṃ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṃ bhāseyyuṃ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṃ, na cetaso uppilāvitattaṃ karaṇīya’nti. Yaṃ pana bhagavatā selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne bhiyyo uttariṃ sakaguṇaṃ pakittitaṃ ‘rājāhamasmi selāti, dhammarājā anuttaro’ti taṃ na lābhahetu, na yasahetu, na attahetu, na pakkhahetu, na antevāsikamyatāya, atha kho anukampāya kāruññena hitavasena evaṃ imassa dhammābhisamayo bhavissati tiṇṇañca māṇavakasatānanti, evaṃ bhiyyo uttariṃ sakaguṇaṃ bhaṇitaṃ ‘rājāhamasmi selāti, dhammarājā anuttaro’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Firstly, Your Majesty, it was while illuminating the nature of the Dhamma—its intrinsic nature, essence, and characteristic, which is real, not unreal, actual, true, and just so—that the Blessed One said: ‘Monks, if others should speak in praise of me, or of the Dhamma, or of the Sangha, you should not on that account feel delight, nor gladness, nor elation of mind.’ As for the Blessed One further proclaiming his own qualities when the brahmin Sela was speaking of his qualities in accordance with reality, saying, ‘I am a king, Sela, a King of Dhamma, unsurpassed,’ that was not for the sake of gain, not for the sake of fame, not for self-interest, not for the sake of partisanship, nor from a desire for disciples. Rather, it was out of sympathy, out of compassion, and for their welfare, thinking, ‘In this way, there will be a realization of the Dhamma for this man and for his three hundred pupils.’ It was for this reason that he further proclaimed his own qualities, saying, ‘I am a king, Sela, a King of Dhamma, unsurpassed.’” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it just so.”
“Tâu Đại vương, trước tiên, do muốn trình bày rõ về tự tánh, phận sự, đặc điểm, bản chất không sai lạc, chân thật, xác thực, đúng đắn của Giáo pháp, nên đức Thế Tôn đã thuyết rằng: ‘Này các Tỳ khưu, nếu những người khác có nói lời tán dương Như Lai, hoặc tán dương Giáo pháp, hoặc tán dương Tăng chúng, thì ở trường hợp ấy, các ngươi không nên hoan hỷ, không nên vui mừng, không nên có tâm phấn chấn.’ Còn về việc đức Thế Tôn đã tuyên dương đức hạnh của chính mình một cách vượt trội hơn nữa khi được Bà-la-môn Sela tán thán những đức hạnh đúng với sự thật rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua, là vị Pháp vương vô thượng,’ thì việc ấy không phải vì lý do lợi lộc, không phải vì lý do danh tiếng, không phải vì lý do bản thân, không phải vì lý do phe phái, không phải vì mong muốn có đệ tử. Mà thật ra là do lòng bi mẫn, do lòng thương xót, vì lợi ích, với ý nghĩ rằng: ‘Như vầy, sự chứng ngộ Chân lý sẽ xảy đến cho vị này và cho ba trăm thanh niên,’ nên Ngài đã thuyết giảng về đức hạnh của chính mình một cách vượt trội hơn nữa rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua, là vị Pháp vương vô thượng.’ ‘Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, hạ thần xin chấp nhận điều này đúng như vậy.’”
Vaṇṇabhaṇanapañho dasamo.
The tenth question on Speaking of Praise is concluded.
Câu hỏi thứ mười về việc nói lời tán dương.