Bản dịch
MIL 5.3.7 — CÂU HỎI VỀ SỰ CÚNG DƯỜNG ĐỨC PHẬT
7. Buddhapūjanapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng:
‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Các ngươi hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng được cúng dường. Làm như vậy, các ngươi từ chốn này sẽ đi đến cõi trời.’ Tuy nhiên, điều đã được nói ấy: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai’ không dành cho tất cả, mà chỉ liên quan đến các người con trai của đấng Chiến Thắng.
Tâu đại vương, điều này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại.
Tâu đại vương, giống như đối với các vị hoàng tử ở trên quả đất thì có các môn học về voi, ngựa, xe, cung, gươm, viết chữ, quản lý, binh thư, lắng nghe, khéo tiếp nhận, chiến đấu, động viên là công việc cần phải làm; còn đối với các thành phần còn lại như các thương buôn và nô lệ phàm phu thì việc trồng trọt, buôn bán, chăn giữ trâu bò là việc cần phải làm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như đối với các thanh niên Bà-la-môn thì các môn học như (bốn bộ Vệ Đà) Rig-Veda, Yajur-Veda, Sāma-Veda, Atharva-Veda, tướng số, truyền thống, truyền thuyết, từ vựng, nghi thức, sự phân tích âm từ, cú pháp, văn phạm, cấu trúc ngôn ngữ, hiện tượng, giấc mơ, điềm báo hiệu, sáu chi phần (của kinh Vệ Đà), nguyệt thực, nhật thực, sự di chuyển che khuất của các thiên thể, sự tranh giành ảnh hưởng của các vì sao, sự xuất hiện, sự rơi của thiên thể, sự động đất, sự bừng sáng ở các phương, bầu khí quyển, thiên văn học, tương lai của thế gian, điềm báo từ loài chó, điềm báo từ loài thú, điểm báo từ vị trí của các vì sao, hiện tượng bị xáo trộn, tiếng kêu của các loài chim là việc cần phải làm; còn đối với các thành phần còn lại như các thương buôn và nô lệ phàm phu thì việc trồng trọt, buôn bán, chăn giữ trâu bò là việc cần phải làm.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế việc này, tức là việc cúng dường, không phải là việc làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Việc quán sát về các hành, tác ý đúng đường lối, quan sát về bốn sự thiết lập niệm, nắm lấy điều tinh túy của đề mục, sự chiến đấu với các phiền não, sự bám theo mục đích của mình, điều này là việc cần phải làm của những người con trai của đấng Chiến Thắng. Cúng dường là việc nên làm đối với các thành phần còn lại là chư Thiên và nhân loại. Tâu đại vương, do đó đức Như Lai (nghĩ rằng): ‘Chớ để những người này vướng bận về những việc không phải là phận sự. Hãy để những người này gắn bó với những công việc của chính mình’ nên đã nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ bị bận rộn với việc cúng dường nhục thân của Như Lai.’ Tâu đại vương, nếu đức Như Lai không nói điều này, thì các vị tỳ khưu sau khi nhận lấy y và bình bát của mình rồi làm chỉ mỗi việc cúng dường đức Phật.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự cúng dường đức Phật là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ tathāgatena ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti. Puna ca bhaṇitaṃ –
7. “Venerable Nāgasena, this was spoken by the Tathāgata: ‘Ānanda, do not be occupied with the veneration of the Tathāgata’s body.’ And again it was said:
7. – Bạch Đại đức Nāgasena, điều này đã được đức Như Lai nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ nên bận tâm đến việc cúng dường xá-lợi của Như Lai.’ Và lại có lời dạy rằng –
‘‘‘Pūjetha naṃ pūjaniyassa dhātuṃ;
Evaṃ kira saggamito gamissathā’ti.
“‘Venerate the relic of one worthy of veneration; thus, it is said, you will go from here to heaven.’”
‘Hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng cúng dường; làm như vậy, từ đây các ngươi sẽ đi đến cõi trời.’
‘‘Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena bhaṇitaṃ ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti, tena hi ‘pūjetha naṃ pūjaniyassa dhātuṃ, evaṃ karā saggamito gamissathā’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi tathāgatena bhaṇitaṃ ‘pūjetha naṃ pūjaniyassa dhātuṃ, evaṃ karā saggamito gamissathā’ti, tena hi ‘abyāvaṭā tumhe ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“If, Venerable Nāgasena, the Tathāgata said, ‘Ānanda, do not be occupied with the veneration of the Tathāgata’s body,’ then the statement, ‘Venerate the relic of one worthy of veneration; those who do so will go from here to heaven,’ is false. If the Tathāgata said, ‘Venerate the relic of one worthy of veneration; those who do so will go from here to heaven,’ then the statement, ‘Ānanda, do not be occupied with the veneration of the Tathāgata’s body,’ is also false. This two-horned question has also come to you, and it must be resolved by you.”
– Bạch Đại đức Nāgasena, nếu đức Như Lai đã dạy rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ nên bận tâm đến việc cúng dường xá-lợi của Như Lai,’ thì lời dạy: ‘Hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng cúng dường; làm như vậy, từ đây các ngươi sẽ đi đến cõi trời,’ là sai. Nếu đức Như Lai đã dạy rằng: ‘Hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng cúng dường; làm như vậy, từ đây các ngươi sẽ đi đến cõi trời,’ thì lời dạy: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ nên bận tâm đến việc cúng dường xá-lợi của Như Lai,’ cũng là sai. Vấn đề lưỡng nan này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti, puna ca bhaṇitaṃ ‘pūjetha naṃ pūjaniyassa dhātuṃ, evaṃ karā saggamito gamissathā’ti, tañca pana na sabbesaṃ jinaputtānaṃ yeva ārabbha bhaṇitaṃ ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti. Akammaṃ hetaṃ, mahārāja, jinaputtānaṃ yadidaṃ pūjā, sammasanaṃ saṅkhārānaṃ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṃ, sadatthamanuyuñjanā, etaṃ jinaputtānaṃ karaṇīyaṃ, avasesānaṃ devamanussānaṃ pūjā karaṇīyā.
“O great king, it was spoken by the Blessed One: ‘Ānanda, do not be occupied with the veneration of the Tathāgata’s body.’ And again it was said: ‘Venerate the relic of one worthy of veneration; those who do so will go from here to heaven.’ However, that statement, ‘Ānanda, do not be occupied with the veneration of the Tathāgata’s body,’ was not spoken for everyone; it was spoken only with reference to the sons of the Conqueror. For this veneration is not the proper task for the sons of the Conqueror, O great king. The contemplation of formations, wise attention, the observation of the foundations of mindfulness, grasping the essence of the meditation object, the battle with the defilements, and striving for one’s own true goal—this is what is to be done by the sons of the Conqueror. Veneration is to be done by the remaining gods and humans.”
– Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ nên bận tâm đến việc cúng dường xá-lợi của Như Lai,’ và lại có lời dạy: ‘Hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng cúng dường; làm như vậy, từ đây các ngươi sẽ đi đến cõi trời.’ Tuy nhiên, lời dạy ‘Này Ānanda, các ngươi chớ nên bận tâm đến việc cúng dường xá-lợi của Như Lai’ không phải được nói cho tất cả mọi người, mà chỉ nhắm đến các vị Phật tử (tỳ khưu). Tâu Đại vương, việc cúng dường này không phải là phận sự của các vị Phật tử. Việc quán xét các pháp hữu vi, tác ý như lý, tùy quán Tứ Niệm Xứ, nắm bắt cốt tủy của đối tượng, chiến đấu với phiền não, nỗ lực vì lợi ích của bản thân, đó mới là phận sự của các vị Phật tử. Việc cúng dường là phận sự của chư thiên và nhân loại còn lại.
‘‘Yathā, mahārāja, mahiyā rājaputtānaṃ hatthiassarathadhanutharulekhamuddāsikkhākhaggamantasuti- sammutiyuddhayujjhāpanakiriyā karaṇīyā, avasesānaṃ puthuvessasuddānaṃ kasi vaṇijjā gorakkhā karaṇīyā, evameva kho, mahārāja, akammaṃ hetaṃ jinaputtānaṃ yadidaṃ pūjā, sammasanaṃ saṅkhārānaṃ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṃ, sadatthamanuyuñjanā, etaṃ jinaputtānaṃ karaṇīyaṃ, avasesānaṃ devamanussānaṃ pūjā karaṇīyā.
“Just as, O great king, on this earth the duties to be performed by princes are training in elephants, horses, chariots, bows, and swordsmanship; writing and seals; and the practice of swords, mantras, traditional lore, conventions, warfare, and commanding battles; while for the remaining merchants and commoners, the duties to be performed are agriculture, trade, and cattle-herding; even so, O great king, this veneration is not the proper task for the sons of the Conqueror. The contemplation of formations, wise attention, the observation of the foundations of mindfulness, grasping the essence of the meditation object, the battle with the defilements, and striving for one’s own true goal—this is what is to be done by the sons of the Conqueror. Veneration is to be done by the remaining gods and humans.”
– Tâu Đại vương, ví như trên mặt đất, phận sự của các vương tử là học về voi, ngựa, xe, cung, kiếm, viết lách, ấn tín, kiếm thuật, mật chú, kinh điển, luật lệ, chiến đấu và chỉ huy chiến đấu; còn phận sự của những người còn lại, các thương gia và thường dân, là cày cấy, buôn bán, và chăn nuôi gia súc. Cũng vậy, tâu Đại vương, việc cúng dường này không phải là phận sự của các vị Phật tử. Việc quán xét các pháp hữu vi, tác ý như lý, tùy quán Tứ Niệm Xứ, nắm bắt cốt tủy của đối tượng, chiến đấu với phiền não, nỗ lực vì lợi ích của bản thân, đó mới là phận sự của các vị Phật tử. Việc cúng dường là phận sự của chư thiên và nhân loại còn lại.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, brāhmaṇamāṇavakānaṃ iruvedaṃ yajuvedaṃ sāmavedaṃ athabbaṇavedaṃ lakkhaṇaṃ itihāsaṃ purāṇaṃ nighaṇḍu keṭubhaṃ akkharappabhedaṃ padaṃ veyyākaraṇaṃ bhāsamaggaṃ uppātaṃ supinaṃ nimittaṃ chaḷaṅgaṃ candaggāhaṃ sūriyaggāhaṃ sukkarāhucaritaṃ uḷuggahayuddhaṃ † devadundubhissaraṃ okkanti ukkāpātaṃ bhūmikammaṃ † disādāhaṃ bhummantalikkhaṃ jotisaṃ lokāyatikaṃ sācakkaṃ migacakkaṃ antaracakkaṃ missakuppādaṃ sakuṇarutaravitaṃ † sikkhā karaṇīyā, avasesānaṃ puthuvessasuddānaṃ kasi vaṇijjā gorakkhā karaṇīyā, evameva kho, mahārāja, akammaṃ hetaṃ jinaputtānaṃ yadidaṃ pūjā, sammasanaṃ saṅkhārānaṃ, yoniso manasikāro, satipaṭṭhānānupassanā, ārammaṇasāraggāho, kilesayuddhaṃ, sadatthamanuyuñjanā, etaṃ jinaputtānaṃ karaṇīyaṃ, avasesānaṃ devamanussānaṃ pūjā karaṇīyā, tasmā, mahārāja, tathāgato ‘mā ime akamme yuñjantu, kamme ime yuñjantū’ti āha ‘abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāyā’ti. Yadetaṃ, mahārāja, tathāgato na bhaṇeyya, pattacīvarampi attano pariyādāpetvā bhikkhū buddhapūjaṃ yeva kareyyu’’nti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Or just as, O great king, for young brahmins, the studies to be undertaken are the Irubeda, Yajubeda, Sāmaveda, and Athabbaṇaveda; the sciences of bodily marks, history, ancient lore, glossaries, etymology, phonetics, prosody, grammar, exegesis, astrology, dreams, and signs; the six auxiliary disciplines, the study of lunar and solar eclipses, the movements of Venus and Rahu, the battles of planets, the sound of celestial drums, the transit of planets, the fall of meteors, seismology, the conflagration of the horizons, geology and astronomy, worldly philosophy, the study of animal cries, and the interpretation of the sounds of birds. For the remaining merchants and commoners, the duties to be performed are agriculture, trade, and cattle-herding. Even so, O great king, this veneration is not the proper task for the sons of the Conqueror. The contemplation of formations, wise attention, the observation of the foundations of mindfulness, grasping the essence of the meditation object, the battle with the defilements, and striving for one’s own true goal—this is what is to be done by the sons of the Conqueror. Veneration is to be done by the remaining gods and humans. Therefore, O great king, the Tathāgata, thinking, ‘Let them not engage in what is not their task; let them engage in their proper task,’ said: ‘Ānanda, do not be occupied with the veneration of the Tathāgata’s body.’ If, O great king, the Tathāgata had not said this, the monks, having exhausted even their own bowls and robes, would do nothing but venerate the Buddha.” “It is good, Venerable Nāgasena, I accept this matter just as you have stated.”
– Hoặc ví như, tâu Đại vương, phận sự của các thanh niên Bà-la-môn là học tập kinh Iruveda, Yajuveda, Sāmaveda, Athabbaṇaveda; tướng pháp, sử thi, cổ truyện, từ vựng, thi pháp, ngữ nguyên, cú pháp, văn phạm, hùng biện, điềm báo, giải mộng, tướng số, sáu bộ Vedāṅga, nguyệt thực, nhật thực, sự vận hành của sao Kim và La-hầu, sự giao tranh của các hành tinh, tiếng sấm trời, sự di chuyển của các hành tinh, sao băng, địa lý, điềm báo phương hướng, khoa học về đất và trời, chiêm tinh, triết học duy vật, điềm báo từ động vật, điềm báo từ tiếng kêu của thú, điềm báo từ các loài khác, điềm báo hỗn hợp, và tiếng hót của chim; còn phận sự của những người còn lại, các thương gia và thường dân, là cày cấy, buôn bán, và chăn nuôi gia súc. Cũng vậy, tâu Đại vương, việc cúng dường này không phải là phận sự của các vị Phật tử. Việc quán xét các pháp hữu vi, tác ý như lý, tùy quán Tứ Niệm Xứ, nắm bắt cốt tủy của đối tượng, chiến đấu với phiền não, nỗ lực vì lợi ích của bản thân, đó mới là phận sự của các vị Phật tử. Việc cúng dường là phận sự của chư thiên và nhân loại còn lại. Do đó, tâu Đại vương, đức Như Lai, với ý muốn rằng ‘Mong rằng họ không dấn thân vào việc không phải phận sự, mong rằng họ dấn thân vào việc là phận sự,’ đã nói rằng: ‘Này Ānanda, các ngươi chớ nên bận tâm đến việc cúng dường xá-lợi của Như Lai.’ Tâu Đại vương, nếu đức Như Lai không nói điều này, các tỳ khưu có thể sẽ từ bỏ cả y bát của mình để chỉ làm việc cúng dường đức Phật mà thôi. – Lành thay, bạch Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như lời ngài dạy.
Buddhapūjanapañho sattamo.
The Seventh Question Concerning the Veneration of the Buddha is concluded.
Vấn đề về việc cúng dường đức Phật, chương thứ bảy.