Bản dịch
MIL 5.3.6 — CÂU HỎI VỀ QUẢ BÁU LỚN CỦA MÓN THÍ THỰC
6. Piṇḍapātamahapphalapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được các vị trưởng lão thực hiện cuộc trùng tụng Giáo Pháp nói đến: ‘Tôi đã được nghe rằng:—Sau khi thọ dụng bữa ăn của người thợ rèn Cunda, bậc Sáng Trí đã mắc phải cơn bệnh khốc liệt, kề cận cái chết.’
Và thêm nữa, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Ānanda, hai phần thí thực này là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác. Hai phần thí thực nào? Phần thí thực mà sau khi thọ dụng đức Như Lai đã giác ngộ phẩm vị Chánh Đẳng Giác tối thượng, và phần thí thực sau khi thọ dụng đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Hai phần thí thực này là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai, sau khi thọ dụng bữa ăn của Cunda, có cơn bệnh trầm trọng đã sanh lên, có cảm thọ khốc liệt đã phát khởi, kề cận cái chết, như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, hai phần thí thực này là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác’ là sai trái. Nếu hai phần thí thực này là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn, sau khi thọ dụng bữa ăn của Cunda, có cơn bệnh trầm trọng đã sanh lên, có cảm thọ khốc liệt đã phát khởi, kề cận cái chết’ cũng là sai trái.
Thưa ngài Nāgasena, không lẽ phần thí thực ấy có quả báu lớn do tình trạng đã bị nhiễm độc, có quả báu lớn do việc đã làm sanh lên cơn bệnh, có quả báu lớn do việc đã làm hoại đi tuổi thọ, có quả báu lớn do việc đã lấy đi mạng sống của đức Thế Tôn? Về việc này, xin Ngài hãy nói cho trẫm lý do nhằm phản bác lại các học thuyết khác. Về việc ấy, đám người bị mê muội này cho rằng: ‘Bệnh lỵ xuất huyết sanh lên bởi đã ăn quá nhiều do tác động của tham.’ Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được các vị đại trưởng lão thực hiện cuộc trùng tụng Giáo Pháp nói đến: ‘Tôi đã được nghe rằng:—Sau khi thọ dụng bữa ăn của người thợ rèn Cunda, bậc Sáng Trí đã mắc phải cơn bệnh khốc liệt, kề cận cái chết.’
Và đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Ānanda, hai phần thí thực này là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác. Hai phần thí thực nào? Phần thí thực mà sau khi thọ dụng đức Như Lai đã giác ngộ phẩm vị Chánh Đẳng Giác tối thương, và phần thí thực sau khi thọ dụng đức Như Lai đã Viên Tịch Niết Bàn ở cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót. Hai phần thí thực này là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác.’ Hơn nữa, phần thí thực ấy có nhiều đức tánh, có nhiều quả thành tựu, có nhiều quả báu.
Tâu đại vương, chư Thiên đã mừng rỡ, có tâm ý tịnh tín (nghĩ rằng): ‘Đây là lần thọ thực cuối cùng của đức Thế Tôn’ nên đã rắc dưỡng chất thuộc cõi trời ở món thịt lợn rừng. Hơn nữa, món ấy đã được nấu đúng cách, đã được nấu nhuần nhuyễn, theo ý thích, có nhiều chất bổ, có lợi cho sức nóng của ngọn lửa (tiêu hóa) ở bao tử. Tâu đại vương, không phải do duyên cớ ấy khiến cơn bệnh nào đó chưa khởi lên đã khởi lên cho đức Thế Tôn. Tâu đại vương, hơn nữa khi cơ thể của đức Thế Tôn vốn đã suy yếu, tuổi thọ đã hết, thì cơn bệnh đã khởi lên càng gia tăng thêm nữa. Tâu đại vương, giống như ngọn lửa đang cháy một cách bình thường, khi có nhiên liệu khác được cho vào thì bùng cháy hơn nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi cơ thể của đức Thế Tôn vốn đã suy yếu, tuổi thọ đã hết, thì cơn bệnh đã khởi lên càng gia tăng thêm nữa. Tâu đại vương, hoặc là giống như con suối đang chảy một cách tự nhiên, khi có đám mây lớn đổ mưa, thì trở thành dòng chảy lớn, cơn nước lũ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi cơ thể của đức Thế Tôn vốn đã suy yếu, tuổi thọ đã hết, thì cơn bệnh đã khởi lên càng gia tăng thêm nữa.
Tâu đại vương, hoặc là giống như bao tử đang no đầy một cách bình thường, khi có vật nào khác chưa nấu chín được nuốt vào thì có thể bị căng cứng hơn nữa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi cơ thể của đức Thế Tôn vốn đã suy yếu, tuổi thọ đã hết, thì cơn bệnh đã khởi lên càng gia tăng thêm nữa. Tâu đại vương, không có gì sai trái ở món thí thực ấy. Và không thể gán điều sai trái cho món ấy.”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, bởi lý do gì mà hai phần thí thực ấy là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác?”
“Tâu đại vương, do năng lực của sự thuần thục và chứng đạt các pháp mà hai phần thí thực ấy là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác.”
“Thưa ngài Nāgasena, do năng lực của sự thuần thục và chứng đạt đối với các pháp nào mà hai phần thí thực ấy là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác?”
“Tâu đại vương, do năng lực của sự thể nhập theo chiều thuận và chiều nghịch đối với chín sự chứng đạt và an trú theo tuần tự mà hai phần thí thực ấy là như nhau, có quả báu như nhau, có quả thành tựu như nhau, có quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn rất nhiều so với các món thí thực khác.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Như Lai đã thể nhập theo chiều thuận và chiều nghịch một cách nổi bật đối với chín sự chứng đạt và an trú theo tuần tự chỉ trong hai ngày thôi sao?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Việc nào dầu là sự bố thí tột đỉnh không thể sánh bằng ở ruộng phước đức Phật cũng không sánh được với hai phần thí thực này. Thưa ngài Nāgasena, thật là kỳ diệu! Thưa ngài Nāgasena, thật là phi thường! Chín sự chứng đạt và an trú theo tuần tự vĩ đại đến chừng nào, thì do năng lực của sự chứng đạt và an trú theo tuần tự mà sự bố thí ở chính nơi ấy là có được quả báu lớn hơn và phước báu lớn hơn. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về quả báu lớn của món thí thực là thứ sáu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ dhammasaṅgītikārakehi therehi –
6. “Venerable Nāgasena, this was stated by the elders who were compilers of the Dhamma:
6. “Bạch ngài Nāgasena, điều này đã được các vị Trưởng lão kết tập Pháp nói đến –
‘‘‘Cundassa bhattaṃ bhuñjitvā, kammārassāti me sutaṃ;
Ābādhaṃ samphusī dhīro, pabāḷhaṃ māraṇantika’nti †.
“‘Having eaten the meal of Cunda the smith—so I have heard—the steadfast one was afflicted with a severe illness, a violent one ending in death.’”
“‘Sau khi thọ thực món ăn của Cunda, người thợ rèn, tôi nghe rằng bậc Trí tuệ đã phải chịu một cơn bệnh nặng, hiểm nghèo đến mức tử vong.’”
‘‘Puna ca bhagavatā bhaṇitaṃ ‘dveme, ānanda, piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā ca. Katame dve? Yañca piṇḍapātaṃ paribhuñjitvā tathāgato anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambujjhi, yañca piṇḍapātaṃ paribhuñjitvā tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati. Ime dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā cā’ti. Yadi, bhante nāgasena, bhagavato cundassa bhattaṃ bhuttāvissa † kharo ābādho uppanno, pabāḷhā ca vedanā pavattā māraṇantikā, tena hi ‘dveme, ānanda, piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā cā’ti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi dveme piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā ca, tena hi bhagavato cundassa bhattaṃ bhuttāvissa † kharo ābādho uppanno, pabāḷhā ca vedanā pavattā māraṇantikāti tampi vacanaṃ micchā. Kiṃnu kho, bhante nāgasena, so piṇḍapāto visagatatāya mahapphalo, roguppādakatāya mahapphalo, āyuvināsakatāya mahapphalo, bhagavato jīvitaharaṇatāya mahapphalo? Tattha me kāraṇaṃ brūhi paravādānaṃ niggahāya, etthāyaṃ jano sammūḷho lobhavasena atibahuṃ khāyitena lohitapakkhandikā uppannāti. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“And again, it was stated by the Blessed One: ‘Ānanda, these two offerings of alms-food are of equal fruit and equal result, and are of much greater fruit and much greater benefit than any other offerings of alms-food. Which two? The offering of alms-food after eating which the Tathāgata awakens to the unsurpassed perfect enlightenment, and the offering of alms-food after eating which he passes into the Nibbāna-element with no residue remaining. These two offerings of alms-food are of equal fruit and equal result, and are of much greater fruit and much greater benefit than any other offerings of alms-food.’ Now, venerable Nāgasena, if a severe illness arose for the Blessed One after he had eaten the meal from Cunda, and a violent, death-ending feeling occurred, then the statement, ‘Ānanda, these two offerings of alms-food are of equal fruit and equal result... and of much greater benefit’ is false. And if these two offerings of alms-food are of equal fruit and equal result... and of much greater benefit, then the statement that a severe illness arose for the Blessed One after he had eaten the meal from Cunda, and a violent, death-ending feeling occurred, is also false. Why then, venerable Nāgasena, was that alms-food of great fruit? Was it of great fruit because it was poisonous? Was it of great fruit because it produced disease? Was it of great fruit because it destroyed the life-span? Was it of great fruit because it took the Blessed One’s life? Explain the reason to me for the refutation of other doctrines. On this point, people are confused, thinking that a bloody flux arose from eating too much out of greed. This two-horned problem has also come to you; it must be resolved by you.”
“Lại nữa, đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Ānanda, hai món vật thực này có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác. Hai món là gì? Là món vật thực mà sau khi thọ dụng, đức Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, và món vật thực mà sau khi thọ dụng, đức Như Lai đã nhập Vô Dư Y Niết-bàn Giới. Hai món vật thực này có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác.’ Tâu Đại đức Nāgasena, nếu sau khi thọ dụng món ăn của Cunda, đức Thế Tôn đã phát sanh cơn bệnh trầm trọng, và cảm thọ khốc liệt đưa đến tử vong đã khởi lên, như thế thì lời nói rằng: ‘Này Ānanda, hai món vật thực này có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác’ là sai lầm. Nếu hai món vật thực này có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác, như thế thì lời nói rằng: ‘Sau khi thọ dụng món ăn của Cunda, đức Thế Tôn đã phát sanh cơn bệnh trầm trọng, và cảm thọ khốc liệt đưa đến tử vong đã khởi lên’ cũng là sai lầm. Tâu Đại đức Nāgasena, có phải chăng món vật thực ấy có quả lớn là do có chất độc, có quả lớn là do gây ra bệnh tật, có quả lớn là do hủy hoại mạng sống, có quả lớn là do lấy đi sinh mạng của đức Thế Tôn? Về điều ấy, xin ngài hãy nói cho tôi biết lý do để trấn áp các tà thuyết. Về việc này, chúng sanh đây bị mê mờ rằng: ‘Do lòng tham, do ăn quá nhiều nên bệnh kiết lỵ đã phát sanh.’ Vấn đề lưỡng nan này cũng đã được trình đến ngài, nó cần được ngài giải quyết.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, dhammasaṅgītikārakehi therehi –
“Great king, this was stated by the elders who were compilers of the Dhamma:
“Tâu Đại vương, điều này đã được các vị Trưởng lão, những vị đã kết tập Pháp, nói đến –
‘‘‘Cundassa bhattaṃ bhuñjitvā, kammārassāti me sutaṃ;
Ābādhaṃ samphusī dhīro, pabāḷhaṃ māraṇantika’nti.
“‘Having eaten the meal of Cunda the smith—so I have heard—the steadfast one was afflicted with a severe illness, a violent one ending in death.’”
“‘Sau khi thọ dụng món ăn của Cunda, người thợ rèn, tôi đã được nghe rằng; bậc Trí Giả đã phải chịu đựng cơn bệnh, khốc liệt đưa đến tử vong.’”
‘‘Bhagavatā ca bhaṇitaṃ ‘dveme, ānanda, piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā ca. Katame dve? Yañca piṇḍapātaṃ paribhuñjitvā tathāgato anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambujjhi, yañca piṇḍapātaṃ paribhuñjitvā tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati †, ime dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā cā’ti.
“And it was stated by the Blessed One: ‘Ānanda, these two offerings of alms-food are of equal fruit and equal result, and are of much greater fruit and much greater benefit than any other offerings of alms-food. Which two? The offering of alms-food after eating which the Tathāgata awakens to the unsurpassed perfect enlightenment, and the offering of alms-food after eating which he passes into the Nibbāna-element with no residue remaining. These two offerings of alms-food are of equal fruit and equal result, and are of much greater fruit and much greater benefit than any other offerings of alms-food.’”
“Và đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này Ānanda, hai món vật thực này có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác. Hai món là gì? Là món vật thực mà sau khi thọ dụng, đức Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, và món vật thực mà sau khi thọ dụng, đức Như Lai đã nhập Vô Dư Y Niết-bàn Giới. Hai món vật thực này có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác.’”
‘‘So pana piṇḍapāto bahuguṇo anekānisaṃso. Devatā, mahārāja, haṭṭhā pasannamānasā ‘ayaṃ bhagavato pacchimo piṇḍapāto’ti dibbaṃ ojaṃ sūkaramaddave ākiriṃsu. Tañca pana sammāpākaṃ lahupākaṃ † manuññaṃ bahurasaṃ jaṭṭharaggitejassa hitaṃ. Na, mahārāja, tatonidānaṃ bhagavato koci anuppanno rogo uppanno, api ca, mahārāja, bhagavato pakatidubbale sarīre khīṇe āyusaṅkhāre uppanno rogo bhiyyo abhivaḍḍhi.
“But that offering of alms-food was of many virtues and numerous benefits. Great king, deities, joyful and with serene minds, thinking, ‘This is the Blessed One’s final meal,’ infused the sūkaramaddava with divine nutritive essence. And that food was well-cooked, light to digest, delicious, full of flavor, and beneficial to the digestive fire. Great king, no previously non-existent illness arose in the Blessed One from that cause. Rather, great king, in the Blessed One’s naturally frail body, with his life-formations exhausted, an illness that had already arisen grew much worse.”
“Tuy nhiên, món vật thực ấy có nhiều phẩm chất, có vô số lợi ích. Tâu Đại vương, các vị chư thiên với tâm hoan hỷ và tín thành đã nghĩ rằng: ‘Đây là món vật thực cuối cùng của đức Thế Tôn,’ rồi đã rắc dưỡng chất của chư thiên vào món sūkaramaddava. Và món ăn ấy đã được nấu chín kỹ, dễ tiêu hóa, hợp khẩu vị, có nhiều hương vị, và có lợi cho vị hỏa của bao tử. Tâu Đại vương, do nhân duyên ấy, không có bệnh nào chưa sanh khởi lại sanh khởi nơi đức Thế Tôn. Hơn nữa, tâu Đại vương, trong thân thể vốn yếu ớt của đức Thế Tôn, khi mạng hành đã tận, căn bệnh đã phát sanh lại càng gia tăng hơn nữa.”
‘‘Yathā, mahārāja, pakatiyā jalamāno aggi aññasmiṃ upādāne dinne bhiyyo pajjalati, evameva kho, mahārāja, bhagavato pakatidubbale sarīre khīṇe āyusaṅkhāre uppanno rogo bhiyyo abhivaḍḍhi.
“Just as, great king, a fire that is naturally burning blazes up even more when other fuel is added, in the very same way, great king, in the Blessed One’s naturally frail body, with his life-formations exhausted, an illness that had already arisen grew much worse.”
“Tâu Đại vương, ví như ngọn lửa đang cháy tự nhiên, khi được cho thêm nhiên liệu khác, lại bùng cháy dữ dội hơn. Cũng vậy, tâu Đại vương, trong thân thể vốn yếu ớt của đức Thế Tôn, khi mạng hành đã tận, căn bệnh đã phát sanh lại càng gia tăng hơn nữa.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, soto pakatiyā sandamāno abhivuṭṭhe mahāmeghe bhiyyo mahogho udakavāhako hoti, evameva kho, mahārāja, bhagavato pakatidubbale sarīre khīṇe āyusaṅkhāre uppanno rogo bhiyyo abhivaḍḍhi.
“Or again, great king, just as a naturally flowing stream becomes a great torrent carrying much water when a great cloud has rained down, in the very same way, great king, in the Blessed One’s naturally frail body, with his life-formations exhausted, an illness that had already arisen grew much worse.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, dòng nước đang chảy tự nhiên, khi có trận mưa lớn trút xuống, lại trở thành dòng lũ lớn mang theo nhiều nước hơn. Cũng vậy, tâu Đại vương, trong thân thể vốn yếu ớt của đức Thế Tôn, khi mạng hành đã tận, căn bệnh đã phát sanh lại càng gia tăng hơn nữa.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, pakatiyā abhisannadhātu kucchi aññasmiṃ ajjhoharite bhiyyo āyameyya †, evameva kho, mahārāja, bhagavato pakatidubbale sarīre khīṇe āyusaṅkhāre uppanno rogo bhiyyo abhivaḍḍhi, natthi, mahārāja, tasmiṃ piṇḍapāte doso, na ca tassa sakkā dosaṃ āropetu’’nti.
“Or again, great king, just as a stomach that is naturally disordered would become even more afflicted when other food is consumed, in the very same way, great king, in the Blessed One’s naturally frail body, with his life-formations exhausted, an illness that had already arisen grew much worse. Great king, there is no fault in that offering of alms-food, nor can fault be ascribed to it.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, cái bụng có các thể chất đã bị hư hoại tự nhiên, khi nuốt thêm thức ăn khác vào, lại càng trở nên trầm trọng hơn. Cũng vậy, tâu Đại vương, trong thân thể vốn yếu ớt của đức Thế Tôn, khi mạng hành đã tận, căn bệnh đã phát sanh lại càng gia tăng hơn nữa. Tâu Đại vương, không có lỗi lầm trong món vật thực ấy, và không thể quy tội cho nó được.”
‘‘Bhante nāgasena, kena kāraṇena te dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā cā’’ti? ‘‘Dhammānumajjanasamāpattivasena, mahārāja, te dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā cā’’ti.
“Venerable Nāgasena, for what reason are those two almsfoods equal in fruit and equal in result, and exceedingly more fruitful and of greater benefit than other almsfoods?” “O great king, it is by virtue of the attainment gained through reviewing the Dhamma that those two almsfoods are equal in fruit and equal in result, and exceedingly more fruitful and of greater benefit than other almsfoods.”
“Tâu Đại đức Nāgasena, do nguyên nhân nào mà hai món vật thực ấy có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác?” “Tâu Đại vương, do năng lực của sự nhập định quán xét các pháp mà hai món vật thực ấy có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác.”
‘‘Bhante nāgasena, katamesaṃ dhammānaṃ anumajjanasamāpattivasena te dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā cā’’ti? ‘‘Navannaṃ, mahārāja, anupubbavihārasamāpattīnaṃ anulomappaṭilomasamāpajjanavasena te dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṃsatarā cā’’ti.
“Venerable Nāgasena, by virtue of the attainment gained through reviewing which dhammas are those two almsfoods equal in fruit and equal in result, and exceedingly more fruitful and of greater benefit than other almsfoods?” “O great king, it is by virtue of entering the nine successive meditative attainments in forward and reverse order that those two almsfoods are equal in fruit and equal in result, and exceedingly more fruitful and of greater benefit than other almsfoods.”
“Tâu Đại đức Nāgasena, do năng lực của sự nhập định quán xét những pháp nào mà hai món vật thực ấy có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác?” “Tâu Đại vương, do năng lực của sự nhập thuận và nghịch vào chín bậc thiền định tuần tự mà hai món vật thực ấy có quả báo tương đồng, có dị thục tương đồng, và có quả lớn hơn, có lợi ích lớn hơn hẳn so với các món vật thực khác.”
‘‘Bhante nāgasena, dvīsu yeva divasesu adhimattaṃ tathāgato navānupubbavihārasamāpattiyo anulomappaṭilomaṃ samāpajjī’’ti? ‘‘Āma, mahārājā’’ti. ‘‘Acchariyaṃ, bhante nāgasena, abbhutaṃ bhante nāgasena. Yaṃ imasmiṃ buddhakkhette asadisaṃ paramadānaṃ, tampi imehi dvīhi piṇḍapātehi agaṇitaṃ. Acchariyaṃ, bhante nāgasena, abbhutaṃ, bhante nāgasena. Yāva mahantā navānupubbavihārasamāpattiyo, yatra hi nāma navānupubbavihārasamāpattivasena dānaṃ mahapphalataraṃ hoti mahānisaṃsatarañca. Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Venerable Nāgasena, was it only on those two days that the Tathāgata exceedingly entered the nine successive meditative attainments in forward and reverse order?” “Yes, O great king.” “It is amazing, Venerable Nāgasena, it is astonishing! That in this Buddha-field the incomparable, supreme gift is not reckoned in comparison with these two almsfoods. It is amazing, Venerable Nāgasena, it is astonishing! How great are the nine successive meditative attainments, for it is by virtue of them that a gift becomes more fruitful and of greater benefit. It is good, Venerable Nāgasena, I accept this matter just as you have stated.”
– Bạch Đại đức Nāgasena, có phải chỉ trong hai ngày mà đức Như Lai đã nhập Cửu Thứ Đệ Thiền Định theo chiều xuôi và chiều ngược một cách vượt trội phải không? – Tâu Đại vương, đúng vậy. – Thật kỳ diệu, bạch Đại đức Nāgasena, thật phi thường, bạch Đại đức Nāgasena! Sự bố thí vô song, tối thượng trong giáo pháp của đức Phật này, lại không được tính đến bằng hai vật thực khất thực này. Thật kỳ diệu, bạch Đại đức Nāgasena, thật phi thường, bạch Đại đức Nāgasena! Cửu Thứ Đệ Thiền Định thật là vĩ đại, vì nhờ vào năng lực của Cửu Thứ Đệ Thiền Định mà sự bố thí trở nên có quả lớn hơn và có phước báu lớn hơn. Lành thay, bạch Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như lời ngài dạy.
Piṇḍapātamahapphalapañho chaṭṭho.
The Sixth Question Concerning the Great Fruit of Almsfood is concluded.
Vấn đề về quả lớn của vật thực khất thực, chương thứ sáu.