Bản dịch
MIL 5.3.5 — CÂU HỎI VỀ BẢN THỂ SUY TƯ CỦA CÂY CỐI
5. Rukkhaacetanābhāvapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Như Lai nói đến:
‘Này Bà-la-môn, nguyên nhân của điều gì mà ngươi, là người có sự tinh tấn đã được ra sức, thường xuyên không xao lãng, lại hỏi han cây cối về sự ngủ nghỉ thoải mái trong khi biết rằng cây này là loài không có tâm tư, không nghe, không biết?’
Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng:
‘Cây phandana đã tức thời đáp lại rằng:—Tôi cũng có lời trình. Này Bhāradvāja, hãy lắng nghe tôi.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu cây cối là không có tâm tư, như thế thì lời nói rằng: ‘Cây phandana đã chuyện trò với Bhāradvāja’ là sai trái. Nếu cây phandana đã chuyện trò với Bhāradvāja, như thế thì lời nói rằng: ‘Cây cối là không có tâm tư’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Như Lai nói đến: ‘Cây cối là không có tâm tư.’ Và cây phandana đã chuyện trò với Bhāradvāja. Tuy nhiên, lời nói ấy đã được nói theo cách diễn đạt của thế gian. Tâu đại vương, đối với cây cối không có tâm tư không có việc gọi là chuyện trò. Tâu đại vương, tuy nhiên ở cây ấy có thiên nhân ngự. Cái từ gọi ‘cây’ ấy là ám chỉ vị thiên nhân. Và nói ‘cây cối trò chuyện,’ đấy là quy định của thế gian. Tâu đại vương, giống như chiếc xe kéo được chất đầy lúa thì người ta gọi là ‘xe lúa,’ tuy rằng chiếc xe kéo ấy làm bằng gỗ. Do tính chất đã được chất đống của lúa ở chiếc xe kéo ấy mà người ta gọi là ‘xe lúa.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế cây cối không trò chuyện. Cây cối không có tâm tư. Tuy nhiên, ở cây ấy có thiên nhân ngự. Cái từ gọi ‘cây’ ấy là ám chỉ vị thiên nhân. Và ‘cây cối trò chuyện,’ đấy là quy định của thế gian.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như trong khi khuấy sữa đông thì gọi là: ‘Tôi khuấy bơ.’ Vật mà người ấy khuấy không phải là bơ. Người ấy đang khuấy chính là sữa đông nhưng lại nói là: ‘Tôi khuấy bơ.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế cây cối không trò chuyện. Cây cối không có tâm tư. Tuy nhiên, ở cây ấy có thiên nhân ngự. Cái từ gọi ‘cây’ ấy là ám chỉ vị thiên nhân. Và ‘cây cối trò chuyện,’ đấy là quy định của thế gian. Tâu đại vương, giống như người đang tạo ra vật chưa hình thành thì nói là: ‘Tôi tạo ra vật đã hình thành.’ Nói về vật chưa thành tựu là: ‘Vật đã thành tựu;’ như vậy điều ấy là cách diễn đạt của thế gian. Tâu đại vương, tương tợ y như thế cây cối không trò chuyện. Cây cối không có tâm tư. Tuy nhiên, ở cây ấy có thiên nhân ngự. Cái từ gọi ‘cây’ ấy là ám chỉ vị thiên nhân. Và ‘cây cối trò chuyện,’ đấy là quy định của thế gian. Tâu đại vương, đức Như Lai thuyết giảng Giáo Pháp cho chúng sanh cũng theo y như cách diễn đạt của thế gian mà người ta thường nói.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về bản thể suy tư của cây cối là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Pharusavācābhāvapañho
4. The Question on the Absence of Harsh Speech.
4. Câu hỏi về việc không có lời nói thô ác
5. Rukkhaacetanābhāvapañho
5. The Question on the Non-Consciousness of Trees.
5. Vấn đề về việc cây cối không có tâm
5. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ tathāgatena –
5. Venerable Nāgasena, this was said by the Tathāgata:
5. “Bạch ngài Nāgasena, điều này đã được đức Như Lai nói đến –
‘‘‘Acetanaṃ brāhmaṇa assuṇantaṃ, jāno ajānantamimaṃ palāsaṃ;
Āraddhavīriyo dhuvaṃ appamatto, sukhaseyyaṃ pucchasi kissa hetū’ti †.
‘Brahmin, knowing this palāsa tree to be non-conscious, unhearing, and unknowing, why do you, with aroused energy, steadfast and heedful, ask it for what reason it has a comfortable sleep?’
“‘Này Bà-la-môn, biết rằng cây bún này không có tâm, không nghe, không biết, vì lý do gì mà ngươi, người đã tinh tấn, thường xuyên không xao lãng, lại hỏi về việc ngủ ngon?’”
Puna ca bhaṇitaṃ –
And again, it was said:
Và lại, đã được nói rằng –
‘‘‘Iti phandanarukkhopi, tāvade ajjhabhāsatha;
Mayhampi vacanaṃ atthi, bhāradvāja suṇohi me’ti †.
‘Then the phandana tree spoke at that very moment: “I too have something to say, Bhāradvāja, listen to me!”’
“‘Khi ấy, cây phandana cũng đã nói lên rằng: Này Bhāradvāja, ta cũng có lời muốn nói, hãy nghe ta đây.’”
‘‘Yadi, bhante nāgasena, rukkho acetano, tena hi phandanena rukkhena bhāradvājena saha sallapitanti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi phandanena rukkhena bhāradvājena saddhiṃ sallapitaṃ, tena hi rukkho acetanoti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppato, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“Venerable Nāgasena, if a tree is insentient, then the statement that the Phandana tree conversed with Bhāradvāja is false. If the Phandana tree conversed with Bhāradvāja, then the statement that a tree is insentient is also false. This two-horned problem has come to you; it must be resolved by you.”
“Bạch ngài Nāgasena, nếu cây cối không có tâm, vậy thì lời nói rằng cây phandana đã nói chuyện cùng với Bhāradvāja là sai. Nếu cây phandana đã nói chuyện cùng với Bhāradvāja, vậy thì lời nói rằng cây cối không có tâm cũng là sai. Vấn đề lưỡng nan này đã được đặt ra cho ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘rukkho acetano’ti, phandanena ca rukkhena bhāradvājena saddhiṃ sallapitaṃ, tañca pana vacanaṃ lokasamaññāya bhaṇitaṃ. Natthi, mahārāja, acetanassa rukkhassa sallāpo nāma, api ca, mahārāja, tasmiṃ rukkhe adhivatthāya devatāyetaṃ adhivacanaṃ rukkhoti, rukkho sallapatīti cesā lokapaṇṇatti, yathā, mahārāja, sakaṭaṃ dhaññassa paripūritaṃ dhaññasakaṭanti jano voharati, na ca taṃ dhaññamayaṃ sakaṭaṃ, rukkhamayaṃ sakaṭaṃ, tasmiṃ sakaṭe dhaññassa pana ākiritattā dhaññasakaṭanti jano voharati, evameva kho, mahārāja, na rukkho sallapati, rukkho acetano, yā pana tasmiṃ rukkhe adhivatthā devatā, tassā yeva taṃ adhivacanaṃ rukkhoti, rukkho sallapatīti cesā lokapaṇṇatti.
“Great king, it was stated by the Blessed One, ‘A tree is insentient,’ and the Phandana tree did converse with Bhāradvāja. However, that statement was made according to worldly convention. Great king, there is no such thing as conversation by an insentient tree. Moreover, great king, ‘tree’ is a designation for the deity dwelling in that tree, and ‘the tree speaks’ is a worldly convention. It is just as, great king, people call a cart filled with grain a ‘grain-cart,’ but that cart is not made of grain; it is a cart made of wood. It is because grain has been heaped into that cart that people call it a ‘grain-cart.’ In the very same way, great king, a tree does not speak; a tree is insentient. The designation ‘tree’ refers to the deity who dwells in that tree, and ‘the tree speaks’ is a worldly convention.”
“Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn nói: ‘Cây cối không có tâm,’ và cây phandana đã nói chuyện cùng với Bhāradvāja, nhưng lời nói ấy được nói theo quy ước của thế gian. Tâu Đại vương, không có cái gọi là sự nói chuyện của cây cối không có tâm. Hơn nữa, tâu Đại vương, ‘cây’ là tên gọi của vị thiên nhân ngự trong cây ấy, và ‘cây nói chuyện’ là một quy ước của thế gian. Tâu Đại vương, ví như người ta gọi một cỗ xe chất đầy lúa là ‘xe lúa,’ nhưng cỗ xe ấy không phải làm bằng lúa, nó là cỗ xe làm bằng gỗ. Do vì lúa được chất lên cỗ xe ấy nên người ta gọi là ‘xe lúa.’ Tâu Đại vương, cũng vậy, cây không nói chuyện, cây không có tâm. Vị thiên nhân nào ngự trong cây ấy, thì ‘cây’ chính là tên gọi của vị ấy, và ‘cây nói chuyện’ là một quy ước của thế gian.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, dadhiṃ manthayamāno takkaṃ manthemīti voharati, na taṃ takkaṃ, yaṃ so mantheti, dadhiṃ yeva so manthento takkaṃ manthemīti voharati, evameva kho, mahārāja, na rukkho sallapati, rukkho acetano. Yā pana tasmiṃ rukkhe adhivatthā devatā, tassāyeva taṃ adhivacanaṃ rukkhoti, rukkho sallapatīti cesā lokapaṇṇatti.
“Or again, great king, it is like one who, while churning curds, says, ‘I am churning buttermilk.’ It is not buttermilk that he churns; while churning only curds, he says, ‘I am churning buttermilk.’ In the very same way, great king, a tree does not speak; a tree is insentient. The designation ‘tree’ refers to the deity who dwells in that tree, and ‘the tree speaks’ is a worldly convention.”
“Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như người đang khuấy sữa chua lại nói rằng: ‘Tôi đang khuấy sữa bơ,’ nhưng thứ mà người ấy khuấy không phải là sữa bơ. Trong khi khuấy sữa chua, người ấy lại nói rằng: ‘Tôi đang khuấy sữa bơ.’ Tâu Đại vương, cũng vậy, cây không nói chuyện, cây không có tâm. Vị thiên nhân nào ngự trong cây ấy, thì ‘cây’ chính là tên gọi của vị ấy, và ‘cây nói chuyện’ là một quy ước của thế gian.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, asantaṃ sādhetukāmo santaṃ sādhemīti voharati, asiddhaṃ siddhanti voharati, evamesā lokasamaññā, evameva kho, mahārāja, na rukkho sallapati, rukkho acetano. Yā pana tasmiṃ rukkhe adhivatthā devatā, tassāyeva taṃ adhivacanaṃ rukkhoti, rukkho sallapatīti cesā lokapaṇṇatti, yāya, mahārāja, lokasamaññāya jano voharati, tathāgatopi tāyeva lokasamaññāya sattānaṃ dhammaṃ desetī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Or again, great king, it is like one who, wishing to establish what is non-existent, speaks of establishing what is existent, or speaks of what is unaccomplished as accomplished—such is worldly convention. In the very same way, great king, a tree does not speak; a tree is insentient. The designation ‘tree’ refers to the deity who dwells in that tree, and ‘the tree speaks’ is a worldly convention. Great king, by whatever worldly convention people speak, the Tathāgata also teaches the Dhamma to beings by means of that very same worldly convention.” “Excellent, venerable Nāgasena. I accept it just as you have stated.”
“Hoặc nữa, tâu Đại vương, ví như người muốn hoàn thành một việc chưa có lại nói rằng: ‘Tôi đang hoàn thành việc đó,’ người ấy nói cái chưa thành là đã thành. Đây là quy ước của thế gian. Tâu Đại vương, cũng vậy, cây không nói chuyện, cây không có tâm. Vị thiên nhân nào ngự trong cây ấy, thì ‘cây’ chính là tên gọi của vị ấy, và ‘cây nói chuyện’ là một quy ước của thế gian. Tâu Đại vương, người đời nói chuyện theo quy ước thế gian nào, thì đức Như Lai cũng dùng chính quy ước thế gian ấy để thuyết Pháp cho chúng sanh.” “Lành thay, bạch ngài Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng là như vậy.”
Rukkhaacetanābhāvapañho pañcamo.
The fifth question, on the insentient nature of trees, is concluded.
Vấn đề về việc cây cối không có tâm, chương thứ năm.
6. Piṇḍapātamahapphalapañho
6. The Question on the Great Fruit of Alms-food
6. Vấn đề về vật thực cúng dường có quả báu lớn