Bản dịch
MIL 5.3.2 — CÂU HỎI VỀ SỰ BAN PHÁT ĐIỀU LỢI ÍCH
2. Sabbasattahitapharaṇapañha
ĐẾN TẤT CẢ CHÚNG SANH
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh.’ Và thêm nữa, ngài còn nói rằng: ‘Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửađang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị.’ Thưa ngài, trong khi đức Như Lai đang thuyết giảng bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa, Ngài đã xua đi điều lợi ích và đem lại điều bất lợi cho các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị’ là sai trái. Nếu trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh. Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị. Tuy nhiên, điều ấy không phải do việc đã làm của đức Như Lai, mà do việc đã làm của bản thân chính các vị ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai không thuyết giảng bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa, phải chăng máu nóng có thể trào ra từ miệng của các vị ấy?”
“Tâu đại vương, không thể. Tâu đại vương, đối với các vị đã thực hành sai trái ấy thì sau khi lắng nghe bài Pháp của đức Thế Tôn có sự nóng nảy đã sanh khởi. Do sự nóng nảy ấy của các vị ấy mà máu nóng đã trào ra từ miệng.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì do việc đã làm của chính đức Như Lai mà máu nóng đã trào ra từ miệng của các vị ấy. Trong trường hợp ấy chính đức Như Lai là tác nhân đưa đến sự tổn hại cho những vị ấy. Thưa ngài Nāgasena, giống như câu chuyện con rắn đi vào hang mối, rồi có người đàn ông nọ cần dùng đất nên phá vỡ gò mối rồi đem đất đi. Do việc đem đất đi của người ấy làm lấp lại các lỗ hổng của gò mối. Và con rắn, ở ngay tại chỗ ấy, trong khi không đạt được hơi thở vào nên bị chết. Thưa ngài, không lẽ con rắn đi đến sự chết vì việc đã làm của người ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong trường hợp ấy chính đức Như Lai là tác nhân đưa đến sự tổn hại cho những vị ấy.”
BJT 3“Tâu đại vương, đức Như Lai trong khi thuyết giảng Giáo Pháp không thể hiện sự ưa thích hay ghét bỏ. Được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ, trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống. Tâu đại vương, giống như người đàn ông trong lúc làm lay động cây xoài, cây mận, hoặc cây cam thảo, thì ở nơi ấy những trái nào có phẩm chất, có sự gắn bó chắc chắn, thì còn tồn tại ở chính nơi ấy không bị tổn hại; trái lại, ở nơi ấy những trái nào có cuống hay cọng bị thối rữa thì rơi xuống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi thuyết giảng Giáo Pháp không thể hiện sự ưa thích hay ghét bỏ. Được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ, trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống. Tâu đại vương, hoặc là giống như người nông dân có ý định gieo hạt bắp nên cày thửa ruộng. Khi người ấy đang cày thì hàng trăm ngàn cỏ dại bị chết. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai đã được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp để giác ngộ các chúng sanh có tâm ý đã được chín muồi. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ; trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống, ví như các cỏ dại ấy bị chết. Tâu đại vương, hoặc là giống như những người ép cây mía bằng máy ép vì nguyên nhân nước cốt. Khi những người ấy đang ép cây mía, những con sâu bọ nào đi vào miệng máy ép thì bị ép nát. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ép máy ép Giáo Pháp để giác ngộ các chúng sanh có tâm ý đã được chín muồi. Tại nơi ấy những người nào thực hành sai trái thì bị chết giống như các con sâu bọ.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, không lẽ các tỳ khưu ấy bị rơi xuống vì sự thuyết giảng Giáo Pháp ấy?”
“Tâu đại vương, phải chăng người thợ đẽo gỗ trong khi bảo vệ khúc cây thì làm cho ngay thẳng và hoàn toàn trơn tru?”
“Thưa ngài, không đúng. Người thợ đẽo gỗ sau khi bỏ đi chỗ hư hỏng rồi mới làm cho khúc cây ngay thẳng và hoàn toàn trơn tru.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi (chỉ lo) bảo vệ hội chúng thì không thể giác ngộ các chúng sanh có khả năng giác ngộ; sau khi loại ra các chúng sanh thực hành sai trái như vậy rồi mới giác ngộ các chúng sanh có khả năng giác ngộ này. Tâu đại vương, hơn nữa những người thực hành sai trái ấy rơi xuống do việc đã làm của bản thân. Tâu đại vương, giống như cây chuối, cây tre, con la khi thành quả được tạo ra bởi bản thân thì bị chết, tâu đại vương, tương tợ y như thế những người thực hành sai trái ấy bị chết, và rơi xuống do việc đã làm của bản thân. Tâu đại vương, giống như những kẻ trộm gánh chịu sự móc mắt, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu do việc đã làm của bản thân, tâu đại vương, tương tợ y như thế những người thực hành sai trái ấy bị chết và rơi khỏi Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng do việc đã làm của bản thân.
Tâu đại vương, đối với các tỳ khưu số lượng sáu mươi vị có máu nóng đã trào ra từ miệng, điều ấy không phải do việc đã làm của đức Thế Tôn, không phải do việc đã làm của những người khác, khi ấy là do việc đã làm của chính bản thân các vị ấy. Tâu đại vương, giống như người ban bố thuốc bất tử cho tất cả dân chúng, những người ấy sau khi ăn vào thuốc bất tử trở thành vô bệnh, sống lâu, có thể thoát khỏi tất cả các tai họa. Rồi có người nam khác sau khi ăn vào thuốc ấy theo cách hành xử ẩu tả có thể gánh lấy cái chết. Tâu đại vương, phải chăng người cho thuốc bất tử do nguyên cớ ấy có thể đạt đến tội lỗi nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng.”
BJT 5“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ban bố món quà Giáo Pháp là sự Bất Tử đến cho chư Thiên và nhân loại ở mười ngàn thế giới. Những chúng sanh nào có khả năng thì được giác ngộ nhờ vào Giáo Pháp Bất Tử, trái lại những chúng sanh nào không có khả năng thì chúng bị chết, bị rơi xuống bởi vì Giáo Pháp Bất Tử. Tâu đại vương, vật thực duy trì mạng sống cho tất cả chúng sanh. Một số người ăn vật thực bị chết vì cơn thổ tả. Tâu đại vương, phải chăng người bố thí vật thực ấy do nguyên cớ ấy có thể đạt đến tội lỗi nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ban bố món quà Giáo Pháp là sự Bất Tử đến cho chư Thiên và nhân loại ở mười ngàn thế giới. Những chúng sanh nào có khả năng thì được giác ngộ nhờ vào Giáo Pháp Bất Tử, trái lại những chúng sanh nào không có khả năng thì bị chết, bị rơi xuống bởi vì Giáo Pháp Bất Tử.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự ban phát điều lợi ích
đến tất cả chúng sanh là thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. ‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘tathāgato sabbasattānaṃ ahitamapanetvā hitamupadahatī’ti. Puna ca bhaṇatha aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne ‘saṭṭhimattānaṃ bhikkhūnaṃ uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggata’nti. Aggikkhandhūpamaṃ, bhante, dhammapariyāyaṃ desentena tathāgatena saṭṭhimattānaṃ bhikkhūnaṃ hitamapanetvā ahitamupadahitaṃ. Yadi, bhante nāgasena, tathāgato sabbasattānaṃ ahitamapanetvā hitamupadahati, tena hi aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṃ bhikkhūnaṃ uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggatanti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṃ bhikkhūnaṃ uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggataṃ, tena hi tathāgato sabbasattānaṃ ahitamapanetvā hitamupadahatīti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
2. “Venerable Nāgasena, you say that ‘the Tathāgata removes what is harmful from all beings and establishes what is beneficial.’ Yet you also say that when the discourse on the Dhamma comparable to a mass of fire was being recited, ‘about sixty monks’ hot blood gushed forth from their mouths.’ Venerable sir, by teaching the discourse on the Dhamma comparable to a mass of fire, the Tathāgata removed benefit and inflicted harm upon those sixty monks. If, Venerable Nāgasena, the Tathāgata removes what is harmful from all beings and establishes what is beneficial, then the statement that about sixty monks’ hot blood gushed forth from their mouths when the discourse on the Dhamma comparable to a mass of fire was being recited must be false. If about sixty monks’ hot blood gushed forth from their mouths when the discourse on the Dhamma comparable to a mass of fire was being recited, then the statement that the Tathāgata removes what is harmful from all beings and establishes what is beneficial must also be false. This too is a double-edged question that has come to you, and you must resolve it.”
2. “Bạch ngài Nāgasena, các ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai loại bỏ điều bất lợi và mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh.’ Lại nữa, các ngài nói rằng khi bài kinh ví dụ về khối lửa được thuyết giảng, ‘sáu mươi vị tỳ-khưu đã hộc máu nóng ra từ miệng.’ Bạch ngài, khi thuyết giảng bài kinh ví dụ về khối lửa, Đức Như Lai đã loại bỏ lợi ích và mang lại điều bất lợi cho sáu mươi vị tỳ-khưu. Bạch ngài Nāgasena, nếu Đức Như Lai loại bỏ điều bất lợi và mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, thì lời nói rằng khi bài kinh ví dụ về khối lửa được thuyết giảng, sáu mươi vị tỳ-khưu đã hộc máu nóng ra từ miệng, lời nói ấy là sai. Nếu khi bài kinh ví dụ về khối lửa được thuyết giảng, sáu mươi vị tỳ-khưu đã hộc máu nóng ra từ miệng, thì lời nói rằng Đức Như Lai loại bỏ điều bất lợi và mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh, lời nói ấy cũng là sai. Vấn đề lưỡng nan này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Tathāgato, mahārāja, sabbasattānaṃ ahitamapanetvā hitamupadahati, aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṃ bhikkhūnaṃ uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggataṃ, tañca pana na tathāgatassa katena, tesaṃ yeva attano katenā’’ti.
“Great king, the Tathāgata removes what is harmful from all beings and establishes what is beneficial. While the discourse on the Dhamma comparable to a mass of fire was being recited, about sixty monks’ hot blood gushed forth from their mouths. But that was not done by the Tathāgata, but by their own doing.”
“Tâu Đại vương, Đức Như Lai loại bỏ điều bất lợi và mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh. Khi bài kinh ví dụ về khối lửa được thuyết giảng, sáu mươi vị tỳ-khưu đã hộc máu nóng ra từ miệng, nhưng điều đó không phải do hành động của Như Lai, mà do chính hành động của họ.”
‘‘Yadi, bhante nāgasena, tathāgato aggikkhandhūpamaṃ dhammapariyāyaṃ na bhāseyya, api nu tesaṃ uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggaccheyyāti, na hi, mahārāja, micchāpaṭipannānaṃ tesaṃ bhagavato dhammapariyāyaṃ sutvā pariḷāho kāye uppajji, tena tesaṃ pariḷāhena uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggata’’nti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, tathāgatasseva katena tesaṃ uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggataṃ, tathāgato yeva tattha adhikāro tesaṃ nāsanāya, yathā nāma, bhante nāgasena, ahi vammikaṃ paviseyya, athaññataro paṃsukāmo puriso vammikaṃ bhinditvā paṃsuṃ hareyya, tassa paṃsuharaṇena vammikassa susiraṃ pidaheyya, atha tattheva so assāsaṃ alabhamāno mareyya, nanu so, bhante, ahi tassa purisassa katena maraṇappatto’’ti. ‘‘Āma mahārājā’’ti. ‘‘Evameva kho, bhante nāgasena, tathāgato yeva tattha adhikāro tesaṃ nāsanāyā’’ti.
“Venerable Nāgasena, if the Tathāgata had not delivered the discourse on the Dhamma comparable to a mass of fire, would hot blood have gushed forth from their mouths?” “No, great king. For those who were practicing wrongly, upon hearing the Blessed One's discourse on the Dhamma, a burning arose in their bodies. Due to that burning, hot blood gushed forth from their mouths.” “Then, Venerable Nāgasena, it was indeed by the Tathāgata's doing that hot blood gushed forth from their mouths. The Tathāgata alone was responsible for their destruction. Just as, venerable sir, if a snake were to enter an anthill, and a man desiring sand were to break open the anthill and take the sand, and by his taking of the sand, the anthill's opening would be blocked, and the snake, unable to get breath there, would die—would not that snake, venerable sir, have met death because of that man's action?” “Yes, great king.” “In the same way, Venerable Nāgasena, the Tathāgata alone was responsible for their destruction.”
“Kính bạch ngài Nāgasena, nếu Đức Như Lai đã không thuyết giảng bài pháp thoại ví như khối lửa lớn, thì máu nóng có hộc ra từ miệng của các vị ấy chăng? – Tâu Đại vương, không đâu. Đối với các vị thực hành sai lạc ấy, sau khi nghe bài pháp thoại của Đức Thế Tôn, sự nóng nảy đã phát sanh trong thân, do sự nóng nảy ấy mà máu nóng đã hộc ra từ miệng của các vị ấy.” – “Nếu vậy, kính bạch ngài Nāgasena, chính do việc làm của Đức Như Lai mà máu nóng đã hộc ra từ miệng của các vị ấy, chính Đức Như Lai là người có trách nhiệm về sự hủy hoại của các vị ấy. Ví như, kính bạch ngài Nāgasena, một con rắn chui vào gò mối, rồi một người đàn ông muốn lấy đất bụi, phá gò mối và lấy đất bụi đi. Do việc lấy đất bụi của người ấy, lỗ của gò mối bị bịt lại, rồi ở ngay đó, con rắn ấy chết vì không thở được. Kính bạch ngài, há chẳng phải con rắn ấy đã đi đến cái chết do việc làm của người đàn ông kia sao?” – “Vâng, tâu Đại vương.” – “Cũng vậy, kính bạch ngài Nāgasena, chính Đức Như Lai là người có trách nhiệm về sự hủy hoại của các vị ấy.”
‘‘Tathāgato, mahārāja, dhammaṃ desayamāno anunayappaṭighaṃ na karoti, anunayappaṭighavippamutto dhammaṃ deseti, evaṃ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti. Ye pana micchāpaṭipannā, te patanti. Yathā, mahārāja, purisassa ambaṃ vā jambuṃ vā madhukaṃ vā cālayamānassa yāni tattha phalāni sārāni daḷhabandhanāni, tāni tattheva accutāni tiṭṭhanti, yāni tattha phalāni pūtivaṇṭamūlāni dubbalabandhanāni, tāni patanti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato dhammaṃ desayamāno anunayappaṭighaṃ na karoti, anunayappaṭighavippamutto dhammaṃ deseti, evaṃ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti. Ye pana micchāpaṭipannā, te patanti.
“The Tathāgata, great king, while teaching the Dhamma, does not generate attachment and aversion. He teaches the Dhamma freed from attachment and aversion. When the Dhamma is taught in this way, those who are rightly practicing awaken, while those who are wrongly practicing fall away. Just as, great king, when a man shakes a mango tree, a rose-apple tree, or a madhuka tree, the fruits that are firm, substantial, and strongly attached remain there unshaken, while those fruits with rotten stems and weak attachments fall down. In the same way, great king, the Tathāgata teaches the Dhamma without generating attachment and aversion, freed from attachment and aversion. When the Dhamma is taught in this way, those who are rightly practicing awaken, while those who are wrongly practicing fall away.”
“Tâu Đại vương, khi thuyết Pháp, Đức Như Lai không có thương ghét, Ngài thuyết Pháp thoát khỏi thương ghét. Khi Pháp được thuyết như vậy, những ai ở đó thực hành đúng đắn thì họ giác ngộ. Còn những ai thực hành sai lạc thì họ bị sa đọa. Ví như, tâu Đại vương, khi một người rung cây xoài, hoặc cây trâm, hoặc cây madhuka, những quả nào ở đó chắc lõi, cuống bền, thì những quả ấy vẫn ở yên tại đó, không rụng. Những quả nào ở đó cuống bị thối, gốc cuống yếu, thì những quả ấy rụng xuống. Cũng vậy, tâu Đại vương, khi thuyết Pháp, Đức Như Lai không có thương ghét, Ngài thuyết Pháp thoát khỏi thương ghét. Khi Pháp được thuyết như vậy, những ai ở đó thực hành đúng đắn thì họ giác ngộ. Còn những ai thực hành sai lạc thì họ bị sa đọa.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, kassako dhaññaṃ ropetukāmo khettaṃ kasati, tassa kasantassa anekasatasahassāni tiṇāni maranti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato paripakkamānase satte bodhento † anunayappaṭighavippamutto dhammaṃ deseti, evaṃ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti. Ye pana micchāpaṭipannā, te tiṇāni viya maranti.
“Or just as, great king, a farmer wishing to plant grain plows a field, and while plowing, many hundreds of thousands of blades of grass die. In the same way, great king, the Tathāgata, while awakening beings whose minds are ripe, teaches the Dhamma free from attachment and aversion. When the Dhamma is taught in this way, those who practice rightly awaken; while those who practice wrongly die like the blades of grass.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, người nông phu muốn trồng lúa nên cày ruộng. Trong khi người ấy cày, trăm ngàn cỏ cây chết đi. Cũng vậy, tâu Đại vương, Đức Như Lai, khi làm cho các chúng sanh có tâm thuần thục được giác ngộ, Ngài thuyết Pháp thoát khỏi thương ghét. Khi Pháp được thuyết như vậy, những ai ở đó thực hành đúng đắn thì họ giác ngộ. Còn những ai thực hành sai lạc thì họ chết như cỏ cây.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, manussā rasahetu yantena ucchuṃ pīḷayanti, tesaṃ ucchuṃ pīḷayamānānaṃ ye tattha yantamukhagatā kimayo, te pīḷiyanti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato paripakkamānase satte bodhento dhammayantamabhipīḷayati †, ye tattha micchāpaṭipannā, te kimī viya marantī’’ti.
“Or just as, great king, people crush sugarcane with a machine for the sake of its juice, and when the sugarcane is being crushed, any insects caught in the machine's opening are crushed. Even so, great king, the Tathāgata, while awakening beings whose minds are ripe, presses with the machine of the Dhamma, and those who are practicing wrongly there die like insects.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, người ta vì muốn lấy nước nên ép mía bằng máy. Trong khi họ ép mía, những con sâu nào ở đó đi vào miệng máy thì chúng bị ép. Cũng vậy, tâu Đại vương, Đức Như Lai, khi làm cho các chúng sanh có tâm thuần thục được giác ngộ, Ngài vận hành cỗ máy Pháp. Những ai ở đó thực hành sai lạc thì họ chết như những con sâu.”
‘‘Nanu, bhante nāgasena, te bhikkhū tāya dhammadesanāya patitā’’ti? ‘‘Api nu kho, mahārāja, tacchako rukkhaṃ tacchanto † ujukaṃ parisuddhaṃ karotī’’ti? ‘‘Na hi, bhante, vajjanīyaṃ apanetvā tacchako rukkhaṃ ujukaṃ parisuddhaṃ karotī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgato parisaṃ rakkhanto na sakkoti bodhaneyye † satte bodhetuṃ, micchāpaṭipanne pana satte apanetvā bodhaneyye satte bodheti, attakatena pana te, mahārāja, micchāpaṭipannā patanti.
“Venerable Nāgasena, did not those monks fall because of that Dhamma teaching?” “Great king, when a carpenter is trimming a tree, does he make it straight and pure?” “No, venerable sir, the carpenter removes what is to be rejected and then makes the tree straight and pure.” “Just so, great king, the Tathāgata, if he were to protect the assembly, could not awaken beings who are capable of awakening. But by removing beings who have wrongly practiced, he awakens those capable of awakening. However, great king, those who have wrongly practiced fall by their own actions.”
“Kính bạch ngài Nāgasena, há chẳng phải các vị tỳ khưu ấy đã sa đọa do bài thuyết Pháp kia sao?” – “Tâu Đại vương, có phải người thợ mộc khi đẽo cây, làm cho nó thẳng và sạch sẽ (mà không bỏ đi phần nào) không?” – “Không phải vậy, kính bạch ngài. Sau khi loại bỏ phần cần loại bỏ, người thợ mộc làm cho cây thẳng và sạch sẽ.” – “Cũng vậy, tâu Đại vương, Đức Như Lai, nếu (chỉ) bảo vệ hội chúng, thì không thể làm cho các chúng sanh đáng được giác ngộ được giác ngộ. Nhưng sau khi loại bỏ các chúng sanh thực hành sai lạc, Ngài làm cho các chúng sanh đáng được giác ngộ được giác ngộ. Nhưng, tâu Đại vương, những người thực hành sai lạc ấy sa đọa là do việc làm của chính họ.”
‘‘Yathā, mahārāja, kadalī veḷu assatarī attajena † haññati, evameva kho, mahārāja, ye te micchāpaṭipannā, te attakatena haññanti patanti.
“Just as, great king, a banana tree, a bamboo, or a mule is destroyed by its own offspring, so too, great king, those who practice wrongly are destroyed by their own deeds and fall.”
“Ví như, tâu Đại vương, cây chuối, cây tre, và con la cái bị hủy hoại bởi chính con cái (hay quả) của mình sinh ra. Cũng vậy, tâu Đại vương, những ai thực hành sai lạc, họ bị hủy hoại, bị sa đọa do việc làm của chính họ.”
‘‘Yathā, mahārāja, corā attakatena cakkhuppāṭanaṃ sūlāropanaṃ sīsacchedanaṃ pāpuṇanti, evameva kho, mahārāja, ye te micchāpaṭipannā, te attakatena haññanti patanti †. Yesaṃ, mahārāja, saṭṭhimattānaṃ bhikkhūnaṃ uṇhaṃ lohitaṃ mukhato uggataṃ, tesaṃ taṃ neva bhagavato katena, na paresaṃ katena, atha kho attano yeva katena.
Just as, great king, thieves meet with the gouging out of their eyes, impalement, and beheading on account of their own actions, even so, great king, those who practice wrongly are destroyed and fall away on account of their own actions. As for those sixty monks, great king, from whose mouths hot blood gushed forth—that was not caused by the Blessed One, nor was it caused by others, but rather it was caused by their own actions.
“Ví như, tâu Đại vương, những tên trộm do việc làm của chính họ mà đi đến chỗ bị móc mắt, bị đóng cọc, bị chặt đầu. Cũng vậy, tâu Đại vương, những ai thực hành sai lạc, họ bị hủy hoại, bị sa đọa do việc làm của chính họ. Tâu Đại vương, đối với sáu mươi vị tỳ khưu mà máu nóng đã hộc ra từ miệng, việc ấy của họ không phải do Đức Thế Tôn làm, không phải do người khác làm, mà thật ra là do chính họ làm.”
‘‘Yathā, mahārāja, puriso sabbajanassa amataṃ dadeyya, te taṃ amataṃ asitvā arogā dīghāyukā sabbītito † parimucceyyuṃ, athaññataro puriso durupacārena taṃ asitvā maraṇaṃ pāpuṇeyya, api nu kho so, mahārāja, amatadāyako puriso tatonidānaṃ kiñci apuññaṃ āpajjeyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgato dasasahassiyā lokadhātuyā devamanussānaṃ amataṃ dhammadānaṃ deti, ye te sattā bhabbā, te dhammāmatena bujjhanti. Ye pana te sattā abhabbā, te dhammāmatena haññanti patanti. Bhojanaṃ, mahārāja, sabbasattānaṃ jīvitaṃ rakkhati, tamekacce bhuñjitvā visūcikāya maranti, api nu kho so, mahārāja, bhojanadāyako puriso tatonidānaṃ kiñci apuññaṃ āpajjeyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, tathāgato dasasahassiyā lokadhātuyā devamanussānaṃ amataṃ dhammadānaṃ deti, ye te sattā bhabbā, te dhammāmatena bujjhanti. Ye pana te sattā abhabbā, te dhammāmatena haññanti patantī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
Great king, suppose a man were to give the deathless elixir to all people, and they, having consumed it, would become free from disease, long-lived, and liberated from all calamities. But then, one man, through improper consumption, were to die after consuming it. Would that man who gave the deathless elixir incur any demerit on account of that?” “Certainly not, venerable sir.” “Just so, great king, the Tathāgata gives the gift of the Dhamma, the deathless elixir, to the gods and humans of the ten-thousandfold world system. Those beings who are capable awaken through the deathless elixir of the Dhamma. But those beings who are incapable are destroyed and fall away on account of the deathless elixir of the Dhamma. Food, great king, sustains the life of all beings, yet some, after eating it, die from cholera. Would the man who gave that food incur any demerit on account of that?” “Certainly not, venerable sir.” “Just so, great king, the Tathāgata gives the gift of the Dhamma, the deathless elixir, to the gods and humans of the ten-thousandfold world system. Those beings who are capable awaken through the deathless elixir of the Dhamma. But those beings who are incapable are destroyed and fall away on account of the deathless elixir of the Dhamma.” “Excellent, venerable Nāgasena, so it is; I accept it as such.”
“Ví như, tâu Đại vương, một người cho tất cả mọi người món bất tử. Họ sau khi ăn món bất tử ấy sẽ không bệnh, sống lâu, thoát khỏi mọi tai ương. Rồi một người khác do cách dùng sai mà sau khi ăn món ấy lại đi đến cái chết. Tâu Đại vương, có phải người cho món bất tử ấy, do nguyên nhân đó, gặp phải điều bất thiện nào không?” – “Không, kính bạch ngài.” – “Cũng vậy, tâu Đại vương, Đức Như Lai trong mười ngàn thế giới ban món Pháp thí bất tử cho chư thiên và nhân loại. Những chúng sanh nào có khả năng, họ giác ngộ nhờ Pháp bất tử. Còn những chúng sanh nào không có khả năng, họ bị hủy hoại, sa đọa do Pháp bất tử. Tâu Đại vương, thức ăn bảo vệ mạng sống của tất cả chúng sanh, nhưng một số người sau khi ăn nó lại chết vì bệnh tả. Tâu Đại vương, có phải người cho thức ăn ấy, do nguyên nhân đó, gặp phải điều bất thiện nào không?” – “Không, kính bạch ngài.” – “Cũng vậy, tâu Đại vương, Đức Như Lai trong mười ngàn thế giới ban món Pháp thí bất tử cho chư thiên và nhân loại. Những chúng sanh nào có khả năng, họ giác ngộ nhờ Pháp bất tử. Còn những chúng sanh nào không có khả năng, họ bị hủy hoại, sa đọa do Pháp bất tử.” – “Lành thay, kính bạch ngài Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.”
Sabbasattahitapharaṇapañho dutiyo.
The Second Question on Pervading All Beings with Benefit.
Câu hỏi thứ hai về sự lan tỏa lợi ích đến tất cả chúng sanh.