Bản dịch
MIL 5.3.1 — CÂU HỎI VỀ GIÁO PHÁP TỐI THƯỢNG
1. Seṭṭhadhammapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai.’ Và thêm nữa, ‘người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân’ là sai trái. Nếu người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân, như thế thì lời nói rằng: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai,’ và ‘người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân.’ Hơn nữa, ở trường hợp này là có lý do. Lý do ấy là gì?
Tâu đại vương, đây là hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn, do những điều ấy vị Sa-môn là xứng đáng với sự đảnh lễ, đứng dậy, kính nể, cúng dường.
Hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn là những pháp nào? Sự đặt để ở địa vị tối thượng, sự kềm chế tột đỉnh, sự thực hành, sự an trú (tứ vô lượng tâm), sự thu thúc (giác quan), sự phòng hộ (trong giới bổn), sự kham nhẫn, hiền hòa, thực hành sự đơn độc, thích thú sự đơn độc, ẩn cư thiền tịnh, tàm quý, tinh tấn, không xao lãng, thọ trì việc học tập, việc đọc tụng (Chánh Tạng), học hỏi (Chú Giải), thỏa thích Giới-Định-Tuệ, không mong cầu, có sự tròn đủ các điều học, việc mặc y ca-sa, và hình thức cạo tóc. Tâu đại vương, đây là hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn.
Vị tỳ khưu thọ trì và hành theo các đức tính này. Do tính chất không thiếu sót, do tính chất đã được tròn đủ, do trạng thái đã đạt đến đầy đủ, vị ấy tiến vào địa vị của bậc Vô Học, địa vị của bậc A-la-hán, tiến vào vị thế tối thượng khác nữa. (Nghĩ rằng): ‘Là vị đã đi đến gần phẩm vị A-la-hán,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy chính là bậc có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã tiến đến bản thể Sa-môn, cơ hội ấy chưa có đối với ta,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đã tiến đến hội chúng tối cao, ta chưa tiến đến vị thế ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đạt được tư cách để nghe đọc tụng giới bổn Pātimokkha, ta chưa đạt được tư cách để nghe điều ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy cho những người khác xuất gia, cho tu lên bậc trên, làm tăng trưởng Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, ta chưa đạt được tư cách để làm việc này,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Là vị có sự thực hành đầy đủ về các điều học nhiều vô số, ta không thực hành về các điều ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đã tiến đến biểu tượng của Sa-môn, đã tồn tại trong sự mong muốn của đức Phật, ta bị tách rời ra xa đối với biểu tượng ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy có lông nách mọc dài, không thoa son, không trang sức, được bôi xức bằng hương thơm của giới, còn ta thì thích thú việc trang sức, tô điểm,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
Tâu đại vương, và thêm nữa (nghĩ rằng): ‘Hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm ấy, tất cả các pháp này được hiện hữu ở vị tỳ khưu, chính vị ấy duy trì các pháp ấy, thậm chí còn cho những người khác học tập về việc ấy, sự truyền thừa ấy và việc huấn luyện (người khác) là không có đối với ta,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
BJT 3Tâu đại vương, giống như vị hoàng tử thu thập kiến thức và học tập lề lối của dòng dõi Sát-đế-lỵ nơi vị quân sư. Vị ấy, về sau này, đã được đăng quang, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị thầy (nghĩ rằng): ‘Người này là vị tạo điều kiện cho ta việc học tập.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu là vị tạo điều kiện cho việc học tập, người duy trì truyền thống,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân. Tâu đại vương, hơn nữa theo cách thức này, đại vương hãy nhận biết trạng thái vĩ đại và bao la không sánh bằng này của địa vị tỳ khưu. Tâu đại vương, nếu người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu chứng ngộ phẩm vị A-la-hán, đối với người ấy chỉ có hai lối đi, không có lối khác: Hoặc là vô dư Niết Bàn nội trong ngày hôm ấy, hoặc là tiến đến trạng thái tỳ khưu. Tâu đại vương, bởi vì sự xuất gia ấy là không bị dao động, vĩ đại, vươn lên cao tột đỉnh, tức là địa vị tỳ khưu.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi liên quan đến trí tuệ đã khéo được tháo gỡ bởi ngài là người có năng lực và vô cùng sáng suốt. Không có người nào khác có khả năng để tháo gỡ câu hỏi này như vậy, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài.”
Câu hỏi về Giáo Pháp tối thượng là thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Vīsati kho panime, mahārāja, samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni, yehi samaṇo abhivādanapaccuṭṭhānasamānanapūjanāraho hoti. Katame vīsati samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni? Seṭṭho † dhammārāmo, aggo niyamo, cāro vihāro saṃyamo saṃvaro khanti soraccaṃ ekattacariyā ekattābhirati paṭisallānaṃ hiriottappaṃ vīriyaṃ appamādo sikkhāsamādānaṃ † uddeso paripucchā sīlādiabhirati nirālayatā sikkhāpadapāripūritā, kāsāvadhāraṇaṃ, bhaṇḍubhāvo. Ime kho, mahārāja, vīsati samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni. Ete guṇe bhikkhu samādāya vattati, so tesaṃ dhammānaṃ anūnattā paripuṇṇattā sampannattā samannāgatattā asekkhabhūmiṃ arahantabhūmiṃ okkamati, seṭṭhaṃ bhūmantaraṃ okkamati, arahattāsannagatoti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“There are, great king, these twenty qualities that make a recluse, and two marks, by which a recluse is worthy of homage, rising to greet, honor, and veneration. What are these twenty qualities that make a recluse and the two marks? Supreme delight in the Dhamma, the highest restraint, proper conduct, right abiding, self-control, restraint, patience, gentleness, a solitary life, delight in solitude, seclusion, moral shame and fear of wrongdoing, energy, diligence, undertaking the training, learning, questioning, delight in virtue and so forth, detachment, and fulfillment of the training rules; and wearing the saffron robe and having a shaven head. These, great king, are the twenty qualities that make a recluse and the two marks. A bhikkhu who undertakes and practices these qualities, because of their completeness, fullness, perfection, and possession, enters the stage of one beyond training, the stage of an Arahant; he enters the supreme, further stage. Thinking, ‘He is approaching Arahantship,’ a lay follower who is a stream-enterer is right to pay homage and rise for a bhikkhu who is an ordinary person.”
“Tâu Đại vương, có hai mươi pháp làm nên Sa-môn và hai tướng trạng này của vị Sa-môn, do các pháp và tướng trạng ấy mà vị Sa-môn là người xứng đáng được đảnh lễ, đứng dậy chào đón, tôn trọng, và cúng dường. Hai mươi pháp làm nên Sa-môn và hai tướng trạng là những gì? (Đó là:) sự vui thích trong Pháp là cao thượng nhất, sự chế ngự là cao cả nhất, oai nghi, trú xứ, sự thu thúc, sự phòng hộ, sự kham nhẫn, sự nhu hòa, hạnh sống một mình, sự vui thích sống một mình, sự ẩn dật, sự hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, sự tinh tấn, sự không dể duôi, sự thọ trì học giới, sự học thuộc lòng, sự hỏi han, sự vui thích trong giới v.v..., sự không luyến ái, sự thực hành đầy đủ các học giới; và sự đắp y ca-sa, tướng đầu cạo trọc. Tâu Đại vương, đây chính là hai mươi pháp làm nên Sa-môn và hai tướng trạng. Vị tỳ-khưu thọ trì và thực hành các phẩm hạnh này, do các pháp ấy không thiếu sót, được viên mãn, được thành tựu, được trang bị đầy đủ, vị ấy đi đến bậc vô học, bậc A-la-hán, đi đến cảnh giới cao thượng khác. Với ý nghĩ rằng: ‘Vị ấy đã đến gần quả A-la-hán,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘‘Khīṇāsavehi so sāmaññaṃ upagato, natthi me so samayo’ti † arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Thinking, ‘He has attained the state of recluseship common to those whose taints are destroyed, but that state is not mine,’ a lay follower who is a stream-enterer is right to pay homage and rise for a bhikkhu who is an ordinary person.”
“Với ý nghĩ rằng: ‘Vị ấy đã đạt đến sự tương đồng với các bậc lậu tận, ta không có được sự tương đồng ấy,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘‘Aggaparisaṃ so upagato, nāhaṃ taṃ ṭhānaṃ upagato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Thinking, ‘He has entered the supreme assembly, but I have not attained that state,’ a lay follower who is a stream-enterer is right to pay homage and rise for a bhikkhu who is an ordinary person.”
“Với ý nghĩ rằng: ‘Vị ấy đã đi đến hội chúng cao thượng, ta chưa đi đến địa vị ấy,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘‘Labhati so pātimokkhuddesaṃ sotuṃ, nāhaṃ taṃ labhāmi sotu’nti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Thinking, ‘He gets to hear the recitation of the Pātimokkha, but I do not get to hear it,’ a lay follower who is a stream-enterer is right to pay homage and rise for a bhikkhu who is an ordinary person.”
“Với ý nghĩ rằng: ‘Vị ấy được nghe tụng đọc Pātimokkha, ta không được nghe điều ấy,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘‘So aññe pabbājeti upasampādeti jinasāsanaṃ vaḍḍheti, ahametaṃ na labhāmi kātu’nti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Thinking, ‘He gives the going forth and confers the higher ordination, he promotes the Conqueror’s Dispensation; I am unable to do this,’ a lay follower who is a stream-enterer is worthy to pay homage to and rise up for a monk who is a worldling.”
“Với ý nghĩ rằng: ‘Vị ấy có thể cho người khác xuất gia, cho thọ cụ túc giới, làm cho giáo pháp của bậc Chiến Thắng được tăng trưởng, ta không được làm việc này,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘‘Appamāṇesu so sikkhāpadesu samattakārī, nāhaṃ tesu vattāmī’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Thinking, ‘He is one who completely fulfills the immeasurable training rules, whereas I do not practice them,’ a lay follower who is a stream-enterer is right to pay homage and rise for a bhikkhu who is an ordinary person.”
“Với ý nghĩ rằng: ‘Vị ấy là người thực hành trọn vẹn vô số học giới, ta không thực hành được trong các học giới ấy,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘‘Upagato so samaṇaliṅgaṃ, buddhādhippāye ṭhito, tenāhaṃ liṅgena dūramapagato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Thinking, ‘He has undertaken the mark of a recluse and stands in the intention of the Buddha, whereas I am far removed from that mark,’ a lay follower who is a stream-enterer is right to pay homage and rise for a bhikkhu who is an ordinary person.”
“Với ý nghĩ rằng: ‘Vị ấy đã đạt đến tướng trạng của Sa-môn, đứng trong ý muốn của Đức Phật, còn ta thì xa lìa tướng trạng ấy,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘‘Parūḷhakacchalomo so anañjitaamaṇḍito anulittasīlagandho, ahaṃ pana maṇḍanavibhūsanābhirato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Thinking, ‘He has overgrown armpit hair, is unanointed and unadorned, and is perfumed with the fragrance of virtue; I, however, delight in ornaments and decorations,’ a lay follower who is a stream-enterer is right to pay homage and rise for a bhikkhu who is an ordinary person.”
“Với ý nghĩ rằng: ‘Vị ấy có lông nách mọc dài, không kẻ mắt, không trang điểm, được xức ướp hương giới, còn ta thì lại ưa thích trang điểm và tô điểm,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘Api ca, mahārāja, ‘ye te vīsati samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni, sabbepete dhammā bhikkhussa saṃvijjanti, so yeva te dhamme dhāreti, aññepi tattha sikkhāpeti, so me āgamo sikkhāpanañca natthī’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Moreover, great king, a lay follower who is a stream-enterer is worthy to pay homage to and rise up for a bhikkhu who is an ordinary person, reflecting thus: ‘Those twenty qualities that make one a recluse and the two marks—all these qualities are found in this bhikkhu. He himself maintains those qualities and trains others in them; I have no such good conduct or training.’”
“Lại nữa, tâu Đại vương, với ý nghĩ rằng: ‘Hai mươi pháp làm nên Sa-môn và hai tướng trạng kia, tất cả các pháp ấy đều có nơi vị tỳ-khưu. Chính vị ấy duy trì các pháp ấy, và cũng dạy cho người khác thực hành theo. Ta không có được sự thực hành và sự dạy dỗ ấy,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘Yathā, mahārāja, rājakumāro purohitassa santike vijjaṃ adhīyati, khattiyadhammaṃ sikkhati, so aparena samayena abhisitto ācariyaṃ abhivādeti paccuṭṭheti ‘sikkhāpako me aya’nti, evameva kho, mahārāja, ‘bhikkhu sikkhāpako vaṃsadharo’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṃ puthujjanaṃ abhivādetuṃ paccuṭṭhātuṃ.
“Just as, great king, a prince learns knowledge from the royal chaplain and trains in the duties of a noble, and later, when consecrated, pays homage to and rises up for his teacher, thinking, ‘This is my instructor,’ even so, great king, a lay follower who is a stream-enterer is worthy to pay homage to and rise up for a bhikkhu who is an ordinary person, reflecting: ‘The bhikkhu is an instructor, a bearer of the lineage.’”
“Tâu Đại vương, ví như vị hoàng tử học nghề nơi vị quốc sư, học tập pháp của dòng Sát-đế-lỵ. Về sau, khi đã được làm lễ quán đảnh, vị ấy đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị thầy với ý nghĩ: ‘Vị này là người đã dạy dỗ ta.’ Cũng vậy, tâu Đại vương, với ý nghĩ rằng: ‘Vị tỳ-khưu là người dạy dỗ, là người kế thừa dòng dõi,’ vị cận sự nam Tu-đà-hoàn xứng đáng đảnh lễ, đứng dậy chào đón vị tỳ-khưu phàm phu.”
‘‘Api ca, mahārāja, imināpetaṃ pariyāyena jānāhi bhikkhubhūmiyā mahantataṃ asamavipulabhāvaṃ. Yadi, mahārāja, upāsako sotāpanno arahattaṃ sacchikaroti, dveva tassa gatiyo bhavanti anaññā tasmiṃ yeva divase parinibbāyeyya vā, bhikkhubhāvaṃ vā upagaccheyya. Acalā hi sā, mahārāja, pabbajjā, mahatī accuggatā, yadidaṃ bhikkhubhūmī’’ti. ‘‘Ñāṇagato, bhante nāgasena, pañho sunibbeṭhito balavatā atibuddhinā tayā, na yimaṃ pañhaṃ samattho añño evaṃ viniveṭhetuṃ aññatra tavādisena buddhimatā’’ti.
“Moreover, great king, understand by this method the greatness and incomparable vastness of the bhikkhu’s state. If, great king, a lay follower who is a stream-enterer realizes Arahantship, there are only two destinations for him—no others: either he attains final Nibbāna that very day, or he undertakes the bhikkhu’s state. For that going forth, great king, is unshakeable, great, and exceedingly high—that is, the bhikkhu’s state.” “Venerable Nāgasena, the question has been resolved with knowledge, well unravelled by you with powerful and surpassing intelligence. No one else is capable of unravelling this question thus, except one as intelligent as you.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, qua phương pháp này, xin ngài hãy biết sự vĩ đại, sự vô song và rộng lớn của địa vị tỳ-khưu. Tâu Đại vương, nếu vị cận sự nam Tu-đà-hoàn chứng ngộ quả A-la-hán, vị ấy chỉ có hai con đường, không có con đường nào khác: hoặc là sẽ nhập Niết-bàn ngay trong ngày hôm đó, hoặc là sẽ đi đến địa vị tỳ-khưu. Tâu Đại vương, vì sự xuất gia ấy, tức là địa vị tỳ-khưu này, là bất động, vĩ đại, và vô cùng cao thượng.” “Bạch ngài Nāgasena, vấn đề đã được thấu triệt. Vấn đề đã được ngài, bậc có sức mạnh và trí tuệ siêu việt, giải đáp rất hay. Ngoài một người có trí tuệ như ngài ra, không có ai khác có thể giải quyết vấn đề này như vậy.”
Seṭṭhadhammapañho paṭhamo.
The First Question Concerning the Supreme Dhamma.
Vấn đề về Pháp Cao Thượng, chương thứ nhất.