Bản dịch
MIL 5.3.3 — CÂU HỎI VỀ VIỆC BIỂU LỘ
3. Vatthaguyhanidassanapañha
VẬT ĐƯỢC CHE GIẤU SAU LỚP VẢI
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Như Lai nói đến:
‘Lành thay sự phòng hộ thân! Lành thay sự phòng hộ lời nói! Lành thay sự phòng hộ ý! Lành thay sự phòng hộ tất cả.’
Và thêm nữa, đức Như Lai sau khi ngồi xuống ở giữa tứ chúng đã phô bày tướng mã âm tàng cho Bà-la-môn Sela nhìn thấy ở phía trước chư Thiên và nhân loại. Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được đức Thế Tôn nói là: ‘Lành thay sự phòng hộ thân!’ như thế thì lời nói rằng: ‘Ngài đã phô bày tướng mã âm tàng cho Bà-la-môn Sela nhìn thấy’ là sai trái. Nếu Ngài đã phô bày tướng mã âm tàng cho Bà-la-môn Sela nhìn thấy, như thế thì lời nói rằng: ‘Lành thay sự phòng hộ thân!’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Như Lai nói đến: ‘Lành thay sự phòng hộ thân!’ và tướng mã âm tàng đã được phô bày cho Bà-la-môn Sela nhìn thấy. Tâu đại vương, đối với người nào có sự hoài nghi sanh khởi về đức Như Lai, vì mục đích giúp cho người ấy giác ngộ mà đức Thế Tôn đã phô bày phần thân thể ấy bằng thần thông. Chỉ có người ấy nhìn thấy thần thông ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, vả lại ai sẽ tin rằng chỉ có một người ở hội chúng nhìn thấy vật được che giấu sau lớp vải ấy, và số còn lại đang ở ngay tại chỗ ấy lại không nhìn thấy? Trong trường hợp này, xin ngài hãy xác định cho trẫm lý do ấy, xin hãy giúp cho trẫm hiểu bằng lý lẽ.”
“Tâu đại vương, có phải đại vương đã được nhìn thấy trước đây một người đàn ông nào đó bị bệnh, được vây quanh bởi bà con và bạn bè?”
“Thưa ngài, đúng vậy.”
“Tâu đại vương, phải chăng nhóm người nhìn thấy cái cảm thọ ấy, là cái cảm thọ mà người đàn ông ấy cảm nhận?”
“Thưa ngài, không được. Chỉ có người đàn ông ấy cảm nhận bởi chính bản thân.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chỉ đối với người nào có sự hoài nghi sanh khởi về đức Như Lai, vì mục đích giúp cho chính người ấy giác ngộ mà đức Thế Tôn đã phô bày phần thân thể ấy bằng thần thông, chỉ có người ấy nhìn thấy thần thông ấy. Tâu đại vương, hoặc là giống như việc vong linh có thể nhập vào một người nam nào đó, tâu đại vương, phải chăng nhóm người ấy nhìn thấy vong linh ấy đang tiến đến gần?”
“Thưa ngài, không được. Chỉ có người bệnh ấy nhìn thấy sự tiến đến gần của vong linh ấy.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chỉ đối với người nào có sự hoài nghi sanh khởi về đức Như Lai, chỉ có người ấy nhìn thấy thần thông ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, việc khó làm đã được thực hiện bởi đức Thế Tôn trong lúc Ngài phô bày vật không thể nhìn thấy ấy cho một người thôi.”
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn không phô bày vật được che giấu, trái lại đã cho nhìn thấy cái hình bóng bằng thần thông.”
“Thưa ngài, dầu chỉ là cái hình bóng được nhìn thấy nhưng đúng là vật che giấu đã được nhìn thấy, sau khi nhìn thấy vật ấy thì đã đạt được mục đích.”
“Tâu đại vương, đức Như Lai làm việc khó làm để giác ngộ những chúng sanh có khả năng giác ngộ. Tâu đại vương, nếu đức Như Lai buông lơi công việc thì những chúng sanh có khả năng giác ngộ không thể giác ngộ. Tâu đại vương, và bởi vì đức Như Lai biết được phương thức để giác ngộ những chúng sanh có khả năng giác ngộ, vì thế bằng phương thức nào khiến cho những chúng sanh có khả năng giác ngộ được giác ngộ thì đức Như Lai giác ngộ những chúng sanh có khả năng giác ngộ theo phương thức ấy.
BJT 3Tâu đại vương, giống như người thầy thuốc phẫu thuật, bằng phương thuốc nào khiến người bịnh được lành bệnh thì đi đến người bệnh với phương thuốc ấy, làm cho nôn mửa người cần phải nôn mửa, làm xổ người cần phải xổ, bôi dầu người cần phải bôi dầu, tẩm hương người cần phải tẩm hương, tâu đại vương tương tợ y như thế đức Như Lai bằng phương thức nào khiến cho những chúng sanh có khả năng giác ngộ được giác ngộ thì giác ngộ những chúng sanh có khả năng giác ngộ theo phương thức ấy.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nữ có bào thai ngược phô bày vật che giấu không đáng được nhìn thấy cho người thầy thuốc, tâu đại vương, tương tợ y như thế để giác ngộ những người có khả năng giác ngộ đức Như Lai đã phô bày bằng thần thông cái hình bóng của vật che giấu không đáng được nhìn thấy. Tâu đại vương, vật gọi là không đáng được nhìn thấy thì không có cơ hội dành cho cá nhân. Tâu đại vương, nếu người nào đó sau khi nhìn thấy trái tim của đức Thế Tôn mà được giác ngộ thì đức Thế Tôn theo phương thức cũng cho người ấy nhìn thấy trái tim. Tâu đại vương, đức Như Lai là người biết được phương thức, và thiện xảo về việc thuyết giảng. Tâu đại vương, không lẽ sau khi biết được khuynh hướng của trưởng lão Nanda, đức Như Lai đã đưa vị ấy đến Thiên cung và cho nhìn thấy các cô con gái ở cõi trời (nghĩ rằng): ‘Người con trai gia đình danh giá này sẽ được giác ngộ nhờ vào việc này,’ và nhờ đó người con trai gia đình danh giá ấy đã được giác ngộ. Tâu đại vương, như thế trong khi khi dễ, trong khi chê trách, trong khi nhờm gớm hình tướng mỹ miều bằng nhiều phương thức, đức Như Lai đã cho vị ấy nhìn thấy những cô tiên nữ có các bàn chân bồ câu vì nguyên nhân giúp cho vị ấy giác ngộ. Đức Như Lai là người biết được phương thức, và thiện xảo về việc thuyết giảng như thế ấy.
BJT 4Tâu đại vương, còn có việc khác nữa, vào lúc trưởng lão Cullapanthaka bị người anh đuổi ra (khỏi tu viện), nên có tâm trí buồn bã, đức Như Lai đã đi đến và trao cho miếng vải mềm (nghĩ rằng): ‘Người con trai gia đình danh giá này sẽ được giác ngộ nhờ vào việc này.’ Bởi lý do ấy, vị ấy đã đạt được bản thể năng lực về Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Đức Như Lai là người biết được phương thức, và thiện xảo về việc thuyết giảng như thế ấy.
Tâu đại vương, còn có việc khác nữa, đức Như Lai đã không trả lời câu hỏi được vị Bà-la-môn Mogharāja hỏi đến lần thứ ba (nghĩ rằng): ‘Như vậy thì sự ngã mạn của người con trai gia đình danh giá này sẽ được lắng xuống, do sự lắng xuống của ngã mạn sẽ có sự chứng ngộ.’ Và nhờ thế, ngã mạn của người con trai gia đình danh giá ấy đã được lắng xuống, do sự lắng xuống của ngã mạn mà vị Bà-la-môn ấy đã đạt được bản thể năng lực về sáu Thắng Trí. Đức Như Lai là người biết được phương thức, và thiện xảo về việc thuyết giảng như thế ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ bằng nhiều cách thức với nhiều lý lẽ, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, bóng tối đã được làm thành ánh sáng, nút thắt đã được mở ra, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị đổ vỡ, (Pháp) nhãn đã được sanh khởi cho những người con trai của đấng Chiến Thắng, các ngoại đạo không còn chói sáng, ngài đã tiến đến vị thế cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng.”
Câu hỏi về việc biểu lộ
vật được che giấu sau lớp vải là thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ tathāgatena –
3. “Venerable Nāgasena, this was spoken by the Tathāgata:
3. “Thưa ngài Nāgasena, điều này đã được đức Như Lai thuyết rằng –
‘‘‘Kāyena saṃvaro sādhu †, sādhu vācāya saṃvaro;
Manasā saṃvaro sādhu, sādhu sabbattha saṃvaro’ti.
‘Restraint of body is good, good is restraint of speech; restraint of mind is good, good is restraint in every way.’
“‘Phòng hộ bằng thân là tốt lành, tốt lành thay phòng hộ bằng lời nói; phòng hộ bằng ý là tốt lành, tốt lành thay phòng hộ trong tất cả mọi nơi.’”
‘‘Puna ca tathāgato catunnaṃ parisānaṃ majjhe nisīditvā purato devamanussānaṃ selassa brāhmaṇassa kosohitaṃ vatthaguyhaṃ dassesi. Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘kāyena saṃvaro sādhū’ti, tena hi selassa brāhmaṇassa kosohitaṃ vatthaguyhaṃ dassesīti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi selassa brāhmaṇassa kosohitaṃ vatthaguyhaṃ dasseti, tena hi ‘kāyena saṃvaro sādhū’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
“Furthermore, the Tathāgata, seated in the midst of the four assemblies, displayed his private member concealed in its sheath to Sela the brahmin in front of gods and humans. If, venerable Nāgasena, it was stated by the Blessed One that ‘restraint of body is good,’ then the statement that he displayed his private member concealed in its sheath to Sela the brahmin is false. If he displayed his private member concealed in its sheath to Sela the brahmin, then the statement ‘restraint of body is good’ is also false. This two-horned dilemma has come to you, and it is for you to resolve it.”
“Lại nữa, đức Như Lai, sau khi ngự giữa bốn chúng, đã thị hiện cho Bà-la-môn Sela thấy nam căn được bao kín trong vỏ bọc, ở trước chư thiên và nhân loại. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Phòng hộ bằng thân là tốt lành,’ thì lời nói rằng ngài đã thị hiện cho Bà-la-môn Sela thấy nam căn được bao kín trong vỏ bọc là sai. Nếu ngài đã thị hiện cho Bà-la-môn Sela thấy nam căn được bao kín trong vỏ bọc, thì lời nói rằng: ‘Phòng hộ bằng thân là tốt lành’ cũng là sai. Vấn đề lưỡng nan này đã đến với ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘kāyena saṃvaro sādhū’ti, selassa ca brāhmaṇassa kosohitaṃ vatthaguyhaṃ dassitaṃ. Yassa kho, mahārāja, tathāgate kaṅkhā uppannā, tassa bodhanatthāya bhagavā iddhiyā tappaṭibhāgaṃ kāyaṃ dasseti, so yeva taṃ pāṭihāriyaṃ passatī’’ti.
“Great king, this was spoken by the Blessed One: ‘Restraint of body is good.’ And his private member concealed in its sheath was shown to Sela the brahmin. For whomever, great king, doubt has arisen concerning the Tathāgata, for the purpose of enlightening that person, the Blessed One displays a corresponding form by means of psychic power. Only that person sees that miracle.”
“Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết rằng: ‘Phòng hộ bằng thân là tốt lành,’ và nam căn được bao kín trong vỏ bọc cũng đã được thị hiện cho Bà-la-môn Sela. Tâu Đại vương, đối với người nào có hoài nghi khởi lên về đức Như Lai, vì mục đích giác ngộ cho người ấy, đức Thế Tôn đã dùng thần thông thị hiện một thân thể tương tự như vậy, và chỉ người ấy mới thấy được thần thông biến hóa ấy.”
‘‘Ko panetaṃ, bhante nāgasena, saddahissati, yaṃ parisagato eko yeva taṃ guyhaṃ passati, avasesā tattheva vasantā na passantīti. Iṅgha me tvaṃ tattha kāraṇaṃ upadisa, kāraṇena maṃ saññāpehī’’ti. ‘‘Diṭṭhapubbo pana tayā, mahārāja, koci byādhito puriso parikiṇṇo ñātimittehī’’ti. ‘‘Āma bhante’’ti. ‘‘Api nu kho sā, mahārāja, parisā passatetaṃ vedanaṃ, yāya so puriso vedanāya vedayatī’’ti. ‘‘Na hi bhante, attanā yeva so, bhante, puriso vedayatī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, yasseva tathāgate kaṅkhā uppannā, tasseva tathāgato bodhanatthāya iddhiyā tappaṭibhāgaṃ kāyaṃ dasseti, so yeva taṃ pāṭihāriyaṃ passati.
“But who, venerable Nāgasena, would believe this, that in an assembly only one person sees that private part, while the rest, being right there, do not see it? Come, explain the reason for this to me; make me understand by way of a reason.” “Have you ever seen, great king, a sick man surrounded by his relatives and friends?” “Yes, venerable sir.” “And does that assembly, great king, see the feeling with which that man is afflicted?” “Certainly not, venerable sir. That man feels it himself.” “Just so, great king, for whomever a doubt has arisen concerning the Tathāgata, for the purpose of enlightening that very person, the Tathāgata displays a corresponding form by means of psychic power. Only that person sees that miracle.
“Thưa ngài Nāgasena, ai sẽ tin được điều này, rằng một người trong hội chúng lại thấy được điều bí mật ấy, còn những người còn lại đang ở ngay đó lại không thấy? Xin ngài hãy chỉ cho hạ thần lý do về việc ấy, hãy làm cho hạ thần hiểu rõ bằng lý do.” “Tâu Đại vương, ngài đã từng thấy người nào bị bệnh, được thân bằng quyến thuộc vây quanh chưa?” “Thưa vâng, bạch ngài.” “Tâu Đại vương, vậy hội chúng ấy có thấy được cảm thọ mà người kia đang cảm nhận không?” “Bạch ngài, không ạ. Thưa ngài, chỉ có người ấy tự mình cảm nhận mà thôi.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, đối với người nào có hoài nghi khởi lên về đức Như Lai, đức Như Lai chỉ vì mục đích giác ngộ cho người ấy mà dùng thần thông thị hiện một thân thể tương tự như vậy, và chỉ người ấy mới thấy được thần thông biến hóa ấy.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, kañcideva purisaṃ bhūto āviseyya, api nu kho sā, mahārāja, parisā passati taṃ bhūtāgamana’’nti? ‘‘Na hi, bhante, so yeva āturo tassa bhūtassa āgamanaṃ passatī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, yasseva tathāgate kaṅkhā uppannā, tasseva tathāgato bodhanatthāya iddhiyā tappaṭibhāgaṃ kāyaṃ dasseti, so yeva taṃ pāṭihāriyaṃ passatī’’ti.
“Or just as, great king, if a spirit were to possess a certain man, would that assembly, great king, see the arrival of that spirit?” “Certainly not, venerable sir. Only the afflicted one himself sees the arrival of that spirit.” “Even so, great king, for whomever doubt has arisen concerning the Tathāgata, for the purpose of enlightening that very person, the Tathāgata displays a corresponding form by means of psychic power. Only that person sees that miracle.”
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, có người nào đó bị ma quỷ nhập vào, vậy hội chúng ấy, tâu Đại vương, có thấy được sự xuất hiện của ma quỷ đó không?” “Bạch ngài, không ạ. Chỉ người bệnh hoạn ấy mới thấy được sự xuất hiện của ma quỷ đó.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, đối với người nào có hoài nghi khởi lên về đức Như Lai, đức Như Lai chỉ vì mục đích giác ngộ cho người ấy mà dùng thần thông thị hiện một thân thể tương tự như vậy, và chỉ người ấy mới thấy được thần thông biến hóa ấy.”
‘‘Dukkaraṃ, bhante nāgasena, bhagavatā kataṃ, yaṃ ekassapi adassanīyaṃ, taṃ dassentenā’’ti. ‘‘Na, mahārāja, bhagavā guyhaṃ dassesi, iddhiyā pana chāyaṃ dassesī’’ti. ‘‘Chāyāyapi, bhante, diṭṭhāya diṭṭhaṃ yeva hoti guyhaṃ, yaṃ disvā niṭṭhaṃ gato’’ti. ‘‘Dukkarañcāpi, mahārāja, tathāgato karoti bodhaneyye satte bodhetuṃ. Yadi, mahārāja, tathāgato kiriyaṃ hāpeyya, bodhaneyyā sattā na bujjheyyuṃ. Yasmā ca kho, mahārāja, yogaññū tathāgato bodhaneyye satte bodhetuṃ, tasmā tathāgato yena yena yogena bodhaneyyā bujjhanti, tena tena yogena bodhaneyye bodheti.
“Venerable Nāgasena, the Blessed One has done a difficult thing, in showing that which is unshowable even to one person.” “No, great king, the Blessed One did not show his private member, but rather he showed an image by means of psychic power.” “But, venerable sir, even when an image is seen, the private member is as good as seen, for having seen it, one has reached a conclusion.” “The Tathāgata does what is difficult, great king, in order to awaken beings who are capable of being awakened. If, great king, the Tathāgata were to neglect this task, beings capable of being awakened would not awaken. And because, great king, the Tathāgata is skilled in the means to awaken beings capable of being awakened, therefore, by whatever means those capable of being awakened do awaken, by those very means he awakens them.
“Thưa ngài Nāgasena, đức Thế Tôn đã làm một việc khó làm, khi thị hiện điều không nên cho thấy dù chỉ với một người.” “Tâu Đại vương, không phải vậy, đức Thế Tôn không thị hiện bộ phận kín, mà ngài đã dùng thần thông thị hiện một hình ảnh.” “Bạch ngài, dù chỉ thấy hình ảnh, thì cũng như đã thấy bộ phận kín rồi, vì thấy nó mà người ta đi đến kết luận.” “Tâu Đại vương, đức Như Lai làm cả những việc khó làm để giác ngộ những chúng sanh có thể được giác ngộ. Tâu Đại vương, nếu đức Như Lai từ bỏ hành động cần thiết, thì những chúng sanh có thể được giác ngộ sẽ không thể giác ngộ. Và bởi vì, tâu Đại vương, đức Như Lai là bậc thấu rõ phương tiện để giác ngộ những chúng sanh có thể được giác ngộ, cho nên, bằng phương tiện nào mà những chúng sanh có thể được giác ngộ sẽ giác ngộ, thì ngài dùng chính phương tiện đó để giác ngộ họ.
‘‘Yathā, mahārāja, bhisakko sallakatto yena yena bhesajjena āturo arogo hoti, tena tena bhesajjena āturaṃ upasaṅkamati, vamanīyaṃ vameti, virecanīyaṃ vireceti, anulepanīyaṃ anulimpeti, anuvāsanīyaṃ anuvāseti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato yena yena yogena bodhaneyyā sattā bujjhanti, tena tena yogena bodheti.
“Just as, great king, a physician and surgeon treats a patient with whatever medicine will make them well—he makes one who needs to vomit, vomit; one who needs to be purged, he purges; one who needs an ointment, he anoints; and one who needs an enema, he administers an enema. Even so, great king, by whatever means beings capable of being awakened do awaken, by those very means the Tathāgata awakens them.
“Ví như, tâu Đại vương, một vị lương y phẫu thuật, bằng loại thuốc nào mà người bệnh có thể khỏi bệnh, ông ta dùng chính loại thuốc đó để chữa trị cho người bệnh: người cần nôn thì cho nôn, người cần xổ thì cho xổ, người cần thoa thuốc thì thoa thuốc, người cần thụt thuốc thì thụt thuốc. Cũng vậy, tâu Đại vương, đức Như Lai, bằng phương tiện nào mà những chúng sanh có thể được giác ngộ sẽ giác ngộ, thì ngài dùng chính phương tiện đó để giác ngộ họ.
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, itthī mūḷhagabbhā bhisakkassa adassanīyaṃ guyhaṃ dasseti, evameva kho, mahārāja, tathāgato bodhaneyye satte bodhetuṃ adassanīyaṃ guyhaṃ iddhiyā chāyaṃ dassesi. Natthi, mahārāja, adassanīyo nāma okāso puggalaṃ upādāya. Yadi, mahārāja, koci bhagavato hadayaṃ disvā bujjheyya, tassapi bhagavā yogena hadayaṃ dasseyya, yogaññū, mahārāja, tathāgato desanākusalo.
“Or just as, great king, a woman with an obstructed labor shows her unshowable private parts to a physician, even so, great king, the Tathāgata, in order to awaken beings capable of being awakened, showed an image of his unshowable private member by means of psychic power. There is, great king, no place that is unshowable when it concerns an individual’s welfare. If, great king, someone could awaken by seeing the heart of the Blessed One, the Blessed One would, by some means, show his heart to that person as well. The Tathāgata, great king, is skilled in means and an expert in teaching.
“Hoặc ví như, tâu Đại vương, một người phụ nữ bị thai ngược, phải cho vị lương y xem bộ phận kín không nên cho thấy; cũng vậy, tâu Đại vương, đức Như Lai, để giác ngộ những chúng sanh có thể được giác ngộ, đã dùng thần thông thị hiện hình ảnh của bộ phận kín không nên cho thấy. Tâu Đại vương, tùy thuộc vào cá nhân mà không có nơi nào gọi là không thể cho thấy. Tâu Đại vương, nếu có người nào có thể giác ngộ nhờ thấy được trái tim của đức Thế Tôn, thì đức Thế Tôn cũng sẽ dùng phương tiện để cho người ấy thấy trái tim của ngài. Tâu Đại vương, đức Như Lai là bậc thấu rõ phương tiện, thiện xảo trong thuyết pháp.
‘‘Nanu, mahārāja, tathāgato therassa nandassa adhimuttiṃ jānitvā taṃ devabhavanaṃ netvā devakaññāyo dassesi ‘imināyaṃ kulaputto bujjhissatī’ti, tena ca so kulaputto bujjhi. Iti kho, mahārāja, tathāgato anekapariyāyena subhanimittaṃ hīḷento garahanto jigucchanto tassa bodhanahetu kakuṭapādiniyo accharāyo dassesi. Evampi tathāgato yogaññū desanākusalo.
“Did not the Tathāgata, great king, knowing the inclination of the Elder Nanda, take him to a heavenly realm and show him celestial nymphs, thinking, ‘By this means this clansman will awaken’? And by that means, that clansman did awaken. Thus, great king, the Tathāgata, while in many ways disparaging, censuring, and expressing disgust for the sign of the beautiful, still showed him the dove-footed celestial nymphs for the sake of his awakening. In this way too, the Tathāgata is skilled in means and an expert in teaching.”
“Há không phải, tâu Đại vương, đức Như Lai, sau khi biết được khuynh hướng của trưởng lão Nanda, đã đưa vị ấy đến cõi trời và cho xem các thiên nữ, với ý nghĩ rằng: ‘Vị thiện nam tử này sẽ giác ngộ bằng cách này,’ và nhờ đó mà vị thiện nam tử ấy đã giác ngộ? Như vậy, tâu Đại vương, đức Như Lai, dù bằng nhiều cách đã chê bai, khiển trách, và ghê tởm tướng tốt đẹp, nhưng vì mục đích giác ngộ cho vị ấy, ngài đã cho xem các tiên nữ chân đỏ như chim bồ câu. Như thế, đức Như Lai cũng là bậc thấu rõ phương tiện, thiện xảo trong thuyết pháp.
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, tathāgato therassa cūḷapanthakassa bhātarā nikkaḍḍhitassa dukkhitassa dummanassa upagantvā sukhumaṃ coḷakhaṇḍaṃ adāsi ‘imināyaṃ kulaputto bujjhissatī’ti, so ca kulaputto tena kāraṇena jinasāsane vasībhāvaṃ pāpuṇi. Evampi, mahārāja, tathāgato yogaññū desanākusalo.
Furthermore, great king, the Tathāgata, approaching the Elder Cūḷapanthaka, who had been cast out by his brother and was sorrowful and dejected, gave him a fine piece of cloth, thinking, 'By this means this clansman will awaken.' And that clansman, for that reason, attained mastery in the Dispensation of the Conqueror. In this way too, great king, the Tathāgata is a knower of the right method and is skilled in teaching.
“Lại nữa, tâu Đại vương, đức Như Lai đã đến gần trưởng lão Cūḷapanthaka, người đang đau khổ và ưu phiền vì bị anh trai đuổi đi, và đã ban cho một mảnh vải mịn màng với ý nghĩ rằng: ‘Vị thiện nam tử này sẽ giác ngộ bằng cách này,’ và vị thiện nam tử ấy, nhờ lý do đó, đã đạt đến sự thuần thục trong giáo pháp của bậc Chiến Thắng. Như thế, tâu Đại vương, đức Như Lai cũng là bậc thấu rõ phương tiện, thiện xảo trong thuyết pháp.
‘‘Puna caparaṃ, mahārāja, tathāgato brāhmaṇassa mogharājassa yāva tatiyaṃ pañhaṃ puṭṭho na byākāsi ‘evamimassa kulaputtassa māno upasamissati, mānūpasamā abhisamayo bhavissatī’ti, tena ca tassa kulaputtassa māno upasami, mānūpasamā so brāhmaṇo chasu abhiññāsu vasībhāvaṃ pāpuṇi. Evampi, mahārāja, tathāgato yogaññū desanākusalo’’ti.
Furthermore, great king, when the brahmin Mogharāja asked the Tathāgata a question for the third time, he did not answer, thinking, 'In this way the conceit of this clansman will be calmed; through the calming of conceit, realization will occur.' And for that reason, that clansman’s conceit was calmed; through the calming of conceit, that brahmin attained mastery in the six higher knowledges. In this way too, great king, the Tathāgata is a knower of the right method and is skilled in teaching.
Lại nữa, tâu Đại vương, khi bà-la-môn Mogharāja hỏi đến lần thứ ba, Như Lai đã không trả lời, (vì nghĩ rằng): ‘Làm như vậy, ngã mạn của thiện nam tử này sẽ được lắng dịu, do ngã mạn được lắng dịu nên sẽ có sự chứng ngộ.’ Và do đó, ngã mạn của thiện nam tử ấy đã được lắng dịu, do ngã mạn được lắng dịu, vị bà-la-môn ấy đã đạt đến sự thuần thục trong sáu loại thắng trí. Tâu Đại vương, như vậy đó, Như Lai là bậc biết rõ phương tiện, là bậc thiện xảo trong việc thuyết giảng.
‘‘Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho bahuvidhehi kāraṇehi, gahanaṃ agahanaṃ kataṃ, andhakāro āloko kato, gaṇṭhi bhinno, bhaggā paravādā, jinaputtānaṃ cakkhuṃ tayā uppāditaṃ, nippaṭibhānā titthiyā, tvaṃ gaṇivarapavaramāsajjā’’ti.
Excellent, Venerable Nāgasena! The question has been well unraveled with many reasons. You have made the obscure clear, made light in the darkness, broken the knot, and shattered the doctrines of others. You have caused the eye of the sons of the Conqueror to arise. The sectarians are without rejoinder, having encountered you, the foremost and best of leaders.
Lành thay, thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã được giải quyết thấu đáo với nhiều lý lẽ đa dạng. Điều phức tạp đã được làm cho đơn giản, bóng tối đã được làm thành ánh sáng, nút thắt đã được tháo gỡ, các tà thuyết đã bị phá tan. Ngài đã làm phát sinh con mắt (trí tuệ) cho các đệ tử của Đấng Chiến Thắng. Các người theo ngoại đạo đã không còn lời để đối đáp khi đến gần ngài, bậc tối thượng giữa các vị đạo sư.
Vatthaguyhanidassanapañho tatiyo.
The Third Question: The Display of the Private Parts.
Câu hỏi thứ ba về việc chỉ ra bộ phận kín đáo đã kết thúc.