Bản dịch
MIL 5.3.12 — CÂU HỎI VỀ VIỆC ĐÃ GIẢI TÁN CÁC VỊ TỲ KHƯU
12. Bhikkhupaṇāmitapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Ta không có nổi giận, không có khắt khe.’ Và thêm nữa, đức Như Lai đã giải tán hai vị trưởng lão Sāriputta và Moggallāna cùng với đồ chúng (của hai vị). Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Như Lai đã giải tán đồ chúng khi bị nổi giận, hay là đã giải tán khi được vui vẻ? Xin ngài nhận biết cho việc ấy là thuộc về trường hợp này. Thưa ngài Nāgasena, nếu đã giải tán đồ chúng khi bị nổi giận, như thế thì đối với đức Thế Tôn sự nổi giận còn chưa được dứt trừ. Nếu đã giải tán đồ chúng khi được vui vẻ, như thế thì (đồ chúng) đã bị giải tán khi không có cớ sự, trong khi không hay biết. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Ta không có nổi giận, không có khắt khe,’ và hai vị trưởng lão Sāriputta và Moggallāna cùng với đồ chúng đã bị giải tán. Tuy nhiên, điều ấy không do sự nổi giận. Tâu đại vương, ở đây có người nam nào đó vấp chân vào rễ cây, gốc cây, cục đá, miểng sành, hoặc chỗ đất không bằng phẳng rồi té ngã. Tâu đại vương, phải chăng đại địa cầu này bị nổi giận rồi làm cho kẻ ấy té ngã?”
“Thưa ngài Nāgasena, không đúng. Đối với đại địa cầu không có sự nổi giận hay vui thích. Đại địa cầu được thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Kẻ ấy chính tự mình lơ đễnh nên mới bị vấp chân rồi té ngã.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các đức Như Lai không có sự nổi giận hay vui thích. Các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Lúc bấy giờ, các vị ấy chính vì việc đã làm của mình nên mới bị giải tán vì sự sai trái của bản thân. Tâu đại vương, hơn nữa ở đây biển cả không sống chung với xác chết. Nghĩa là khi ở trong biển cả có xác chết, nó tức thời đưa xác chết ấy ra khỏi, hoặc hất lên đất liền. Tâu đại vương, phải chăng biển cả bị nổi giận rồi đưa xác chết ấy ra khỏi?”
BJT 3“Thưa ngài, không đúng. Đối với biển cả không có sự nổi giận hay vui thích. Biển cả được thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với các đức Như Lai không có sự nổi giận hay vui thích. Các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã thoát khỏi sự ưng ý và ghét bỏ. Lúc bấy giờ, các vị ấy chính vì việc đã làm của mình, vì sự sai trái của bản thân nên mới bị giải tán.
Tâu đại vương, giống như người bị lỗi lầm với trái đất rồi té ngã, tương tợ y như thế người bị lỗi lầm với lời dạy cao quý của đấng Chiến Thắng thì bị giải tán. Giống như xác chết ở trong biển cả thì bị đưa ra khỏi, tương tợ y như thế người bị lỗi lầm với lời dạy cao quý của đấng Chiến Thắng thì bị giải tán.
Tâu đại vương, hơn nữa việc đức Như Lai đã giải tán các vị ấy với sự mong muốn điều tốt đẹp, mong muốn điều lợi ích, mong muốn sự an lạc, mong muốn sự thanh tịnh cho các vị ấy; Ngài đã giải tán (nghĩ rằng): ‘Như vậy những người này sẽ được hoàn toàn giải thoát khỏi sanh-già-bệnh-chết.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc đã giải tán các vị tỳ khưu là thứ mười hai.
Phẩm Đã Bị Giải Tán là thứ ba.
(Trong phẩm này có mười hai câu hỏi)
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘akkodhano vigatakhilohamasmī’ti, paṇāmitā ca therā sāriputtamoggallānā saparisā, tañca pana na kopena, idha, mahārāja, kocideva puriso mahāpathaviyā mūle vā khāṇuke vā pāsāṇe vā kaṭhale vā visame vā bhūmibhāge khalitvā patati, api nu kho, mahārāja, mahāpathavī kupitā taṃ pātetī’’ti? ‘‘Na hi, bhante, natthi mahāpathaviyā kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā mahāpathavī, sayameva so alaso khalitvā patitoti. Evameva kho, mahārāja, natthi tathāgatānaṃ kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā tathāgatā arahanto sammāsambuddhā, atha kho sayaṃ kateneva te attano aparādhena paṇāmitā.
“It has indeed been said by the Blessed One, great king, ‘I am without anger, free from stubbornness.’ And the elders Sāriputta and Moggallāna were dismissed with their assembly, but not out of anger. In this world, great king, some man might stumble on the great earth over a root, a stump, a stone, a potsherd, or on an uneven patch of ground, and fall. Tell me, great king, does the great earth become angry and make him fall?” “No, Venerable Sir. The great earth has neither anger nor pleasure; the great earth is free from attraction and repulsion. That foolish man stumbles and falls by himself.” “Just so, great king, the Tathāgatas have neither anger nor pleasure. The Tathāgatas, Arahants, Perfectly Self-Enlightened Ones, are free from attraction and repulsion. Rather, it was because of their own offense, committed by themselves, that they were dismissed.”
“Tâu Đại vương, điều này đã được Đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Ta không có sân hận, đã thoát khỏi chướng ngại.’ Và các vị trưởng lão Sāriputta và Moggallāna cùng với hội chúng đã bị trục xuất, nhưng việc ấy không phải do sân hận. Tâu Đại vương, ở đời này, có người nào đó bị vấp ngã trên mặt đất lớn do rễ cây, gốc cây, đá, mảnh sành, hoặc do mặt đất không bằng phẳng. Tâu Đại vương, có phải chăng đại địa nổi giận mà làm cho người ấy ngã xuống không?” “Bạch ngài, không phải vậy. Đại địa không có sân hận hay hoan hỷ. Đại địa đã thoát khỏi sự thiên vị và ác cảm. Người ấy tự mình lười biếng, vấp rồi ngã.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, các đấng Như Lai không có sân hận hay hoan hỷ. Các đấng Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã thoát khỏi sự thiên vị và ác cảm. Nhưng chính vì lỗi lầm do tự họ gây ra mà họ đã bị trục xuất.”
‘‘Idha pana, mahārāja, mahāsamuddo na matena kuṇapena saṃvasati, yaṃ hoti mahāsamudde mataṃ kuṇapaṃ, taṃ khippameva nicchubhati thalaṃ ussāreti. Api nu kho, mahārāja, mahāsamuddo kupito taṃ kuṇapaṃ nicchubhatī’’ti? ‘‘Na hi, bhante, natthi mahāsamuddassa kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamutto mahāsamuddo’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, natthi tathāgatānaṃ kopo vā pasādo vā, anunayappaṭighavippamuttā tathāgatā arahanto sammāsambuddhā, atha kho sayaṃ kateneva te attano aparādhena paṇāmitā.
“Furthermore, great king, the great ocean does not coexist with a dead carcass. Whatever dead carcass is in the great ocean, it quickly casts it out and pushes it to shore. Tell me, great king, does the great ocean become angry and cast out that carcass?” “No, Venerable Sir. The great ocean has neither anger nor pleasure; the great ocean is free from attraction and repulsion.” “Just so, great king, the Tathāgatas have neither anger nor pleasure; the Tathāgatas, Arahants, Perfectly Self-Enlightened Ones, are free from attraction and repulsion. Rather, it was because of their own offense, committed by themselves, that they were dismissed.”
“Lại nữa, tâu Đại vương, ở đời này, đại dương không chung sống với xác chết. Bất cứ xác chết nào có trong đại dương, nó liền nhanh chóng tống ra, đẩy lên bờ. Tâu Đại vương, có phải chăng đại dương nổi giận mà tống cái xác chết ấy ra không?” “Bạch ngài, không phải vậy. Đại dương không có sân hận hay hoan hỷ. Đại dương đã thoát khỏi sự thiên vị và ác cảm.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, các đấng Như Lai không có sân hận hay hoan hỷ. Các đấng Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã thoát khỏi sự thiên vị và ác cảm. Nhưng chính vì lỗi lầm do tự họ gây ra mà họ đã bị trục xuất.”
‘‘Yathā, mahārāja, pathaviyā khalito patīyati, evaṃ jinasāsanavare khalito paṇāmīyati. Yathā, mahārāja, samudde mataṃ kuṇapaṃ nicchubhīyati, evaṃ jinasāsanavare khalito paṇāmīyati. Yaṃ pana te, mahārāja, tathāgato paṇāmesi, tesaṃ atthakāmo hitakāmo sukhakāmo visuddhikāmo ‘evaṃ ime jātijarābyādhimaraṇehi parimuccissantī’ti paṇāmesī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Just as, great king, one who stumbles on the earth falls, so too in the excellent Dispensation of the Conqueror, one who errs is dismissed. Just as, great king, a dead carcass is cast out from the ocean, so too in the excellent Dispensation of the Conqueror, one who errs is dismissed. But when the Tathāgata dismissed them, great king, he did so desiring their benefit, welfare, happiness, and purification, thinking, ‘In this way, these monks will be freed from birth, aging, sickness, and death.’” “Excellent, Venerable Nāgasena, I accept it as you have stated.”
“Tâu Đại vương, cũng như người vấp ngã trên đất, cũng vậy, người vấp ngã trong giáo pháp cao thượng của Đấng Chiến Thắng bị trục xuất. Tâu Đại vương, cũng như xác chết bị tống ra khỏi biển, cũng vậy, người vấp ngã trong giáo pháp cao thượng của Đấng Chiến Thắng bị trục xuất. Tâu Đại vương, sở dĩ Đức Như Lai trục xuất họ là vì Ngài mong muốn lợi ích, mong muốn hạnh phúc, mong muốn an lạc, mong muốn sự thanh tịnh cho họ, (nghĩ rằng): ‘Như vậy, những vị này sẽ được giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết,’ nên Ngài đã trục xuất họ.” “Lành thay, bạch ngài Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.”
Bhikkhupaṇāmitapañho dvādasamo.
The Twelfth Question on the Dismissal of Monks.
Câu hỏi thứ mười hai về việc trục xuất Tỳ khưu.
Paṇāmitavaggo tatiyo.
The Third Chapter on Dismissal.
Phẩm Trục Xuất, phẩm thứ ba.
Imasmiṃ vagge dvādasa pañhā.
In this chapter there are twelve questions.
Trong phẩm này có mười hai câu hỏi.