Bản dịch
MIL 5.3.11 — CÂU HỎI VỀ SỰ KHÔNG HÃM HẠI VÀ SỰ TRẤN ÁP
11. Ahiṁsāniggahapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận.’ Và thêm nữa, Ngài đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ.’ Thưa ngài Nāgasena, trấn áp nghĩa là chặt tay, chặt chân, trừng phạt, giam cầm, hành hạ, giết chết, làm tổn thương sự tiếp nối (mạng sống). Lời nói này đối với đức Thế Tôn là không được đúng đắn. Và đức Thế Tôn không thể nào nói lời nói này.
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ’ là sai trái. Nếu đức Như Lai đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận.’ Và Ngài đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ.’
Tâu đại vương, điều nói là: ‘Trong khi không hãm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ trở thành người được yêu mến, được thân cận,’ đối với tất cả các đức Như Lai thì điều này được chấp thuận, điều này là sự chỉ dạy, điều này là sự giảng giải Giáo Pháp. Tâu đại vương, bởi vì Giáo Pháp có sự không hãm hại là tướng trạng. Điều này là lời nói về bản thể.
Tâu đại vương, còn về việc đức Như Lai đã nói rằng: ‘Hãy trấn áp kẻ xứng đáng với sự trấn áp, hãy nâng đỡ kẻ xứng đáng với sự nâng đỡ,’ điều ấy là ngôn từ. Tâu đại vương, tâm bị kích động là cần được trấn áp, tâm trì trệ là cần được nâng đỡ. Tâm bất thiện là cần được trấn áp, tâm thiện là cần được nâng đỡ. Tác ý không đúng đường lối là cần được trấn áp, tác ý đúng đường lối là cần được nâng đỡ. Sự thực hành sai trái là cần được trấn áp, sự thực hành đúng đắn là cần được nâng đỡ. Người không thánh thiện là cần được trấn áp, người thánh thiện là cần được nâng đỡ. Kẻ trộm cướp là cần được trấn áp, kẻ không là trộm cướp là cần được nâng đỡ.”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Giờ đây ngài mới đề cập đến vấn đề của trẫm, trẫm quan tâm đến ý nghĩa của điều trẫm hỏi. Thưa ngài Nāgasena, như vậy trong khi trấn áp kẻ trộm cướp thì nên trấn áp như thế nào?”
“Tâu đại vương, trong khi trấn áp kẻ trộm cướp thì nên trấn áp như vầy: Kẻ đáng quở trách thì nên quở trách, kẻ đáng trừng phạt thì nên trừng phạt, kẻ đáng lưu đày thì nên lưu đày, kẻ đáng giam cầm thì nên giam cầm, kẻ đáng tử hình thì nên tử hình.”
“Thưa ngài Nāgasena, như vậy việc tử hình những kẻ trộm cướp có được các đức Như Lai chấp thuận không?”
“Tâu đại vương, không.”
“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì tại sao việc kẻ trộm cướp cần được chỉ dạy lại được các đức Như Lai chấp thuận?”
“Tâu đại vương, kẻ nào bị tử hình, không phải do sự chấp thuận của các đức Như Lai mà kẻ ấy bị tử hình. Kẻ ấy bị tử hình bởi việc đã làm của chính bản thân. Thêm nữa, kẻ ấy được chỉ dạy theo sự chỉ dạy về Giáo Pháp. Tâu đại vương, phải chăng bậc trí có thể bắt giữ người không gây án không phạm tội đang đi trên đường rồi giết chết không?”
“Thưa ngài, không thể.”
“Tâu đại vương, vì lý do gì?”
“Thưa ngài, vì là người không gây án.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế kẻ trộm cướp sẽ bị giết chết không phải do sự chấp thuận của các đức Như Lai. Kẻ ấy sẽ bị giết chết bởi việc đã làm của chính bản thân. Như thế, phải chăng trong trường hợp này người chỉ dạy phạm vào lỗi lầm nào đó?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, như thế thì sự chỉ dạy của các đức Như Lai là sự chỉ dạy đúng đắn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự không hãm hại và sự trấn áp là thứ mười một.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
11. ‘‘Bhante nāgasena, bhāsitampetaṃ bhagavatā ‘ahiṃsayaṃ paraṃ loke, piyo hohisi māmako’ti. Puna ca bhaṇitaṃ ‘niggaṇhe niggahārahaṃ, paggaṇhe paggahāraha’nti. Niggaho nāma, bhante nāgasena, hatthacchedo pādacchedo vadho bandhanaṃ kāraṇā māraṇaṃ santativikopanaṃ, na etaṃ vacanaṃ bhagavato yuttaṃ, na ca bhagavā arahati etaṃ vacanaṃ vattuṃ. Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṃ ‘ahiṃsayaṃ paraṃ loke, piyo hohisi māmako’’ti, tena hi ‘‘niggaṇhe niggahārahaṃ, paggaṇhe paggahāraha’’nti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi tathāgatena bhaṇitaṃ ‘‘niggaṇhe niggahārahaṃ, paggaṇhe paggahāraha’’nti, tena hi ‘‘ahiṃsayaṃ paraṃ loke, piyo hohisi māmako’’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
11. “Venerable Nāgasena, this was spoken by the Blessed One: ‘By not harming another in the world, you will be dear and beloved to me.’ And yet again it was said: ‘One should restrain one who is worthy of restraint, and one should support one who is worthy of support.’ Now, Venerable Nāgasena, restraint means the cutting off of hands, the cutting off of feet, execution, binding, imprisonment, killing, and the destruction of life-continuity. This statement is not fitting for the Blessed One, nor is the Blessed One worthy of uttering such a statement. If, Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One, ‘By not harming another in the world, you will be dear and beloved to me,’ then the statement, ‘One should restrain one who is worthy of restraint, and one should support one who is worthy of support,’ must be false. And if it was said by the Tathāgata, ‘One should restrain one who is worthy of restraint, and one should support one who is worthy of support,’ then that statement, ‘By not harming another in the world, you will be dear and beloved to me,’ must also be false. This two-pronged question has now come to you, and it is for you to resolve it.”
11. “Thưa Đại đức Nāgasena, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Không làm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ là người được yêu mến, quý trọng.’ Và lại có lời dạy rằng: ‘Nên trừng trị người đáng bị trừng trị, nên nâng đỡ người đáng được nâng đỡ.’ Thưa Đại đức Nāgasena, sự trừng trị có nghĩa là chặt tay, chặt chân, đánh đập, trói buộc, giam cầm, giết chết, hủy hoại mạng sống. Lời dạy này không thích hợp với đức Thế Tôn, và đức Thế Tôn không đáng để nói ra lời dạy này. Thưa Đại đức Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Không làm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ là người được yêu mến, quý trọng,’ thì khi ấy, lời dạy rằng: ‘Nên trừng trị người đáng bị trừng trị, nên nâng đỡ người đáng được nâng đỡ,’ là sai lầm. Nếu đức Như Lai đã dạy rằng: ‘Nên trừng trị người đáng bị trừng trị, nên nâng đỡ người đáng được nâng đỡ,’ thì khi ấy, lời dạy rằng: ‘Không làm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ là người được yêu mến, quý trọng,’ cũng là sai lầm. Vấn đề lưỡng nan này đã được trình đến ngài, ngài phải giải quyết nó.”
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘ahiṃsayaṃ paraṃ loke, piyo hohisi māmako’ti, bhaṇitañca ‘niggaṇhe niggahārahaṃ, paggaṇhe paggahāraha’nti. ‘Ahiṃsayaṃ paraṃ loke, piyo hohisi māmako’ti sabbesaṃ, mahārāja, tathāgatānaṃ anumataṃ etaṃ, esā anusiṭṭhi, esā dhammadesanā, dhammo hi, mahārāja, ahiṃsālakkhaṇo, sabhāvavacanaṃ etaṃ. Yaṃ pana, mahārāja, tathāgato āha ‘niggaṇhe niggahārahaṃ, paggaṇhe paggahāraha’nti, bhāsā esā, uddhataṃ, mahārāja, cittaṃ niggahetabbaṃ, līnaṃ cittaṃ paggahetabbaṃ. Akusalaṃ cittaṃ niggahetabbaṃ, kusalaṃ cittaṃ paggahetabbaṃ. Ayoniso manasikāro niggahetabbo, yoniso manasikāro paggahetabbo. Micchāpaṭipanno niggahetabbo, sammāpaṭipanno paggahetabbo. Anariyo niggahetabbo ariyo paggahetabbo. Coro niggahetabbo, acoro paggahetabbo’’ti.
“Your Majesty, this was spoken by the Blessed One: ‘By not harming another in the world, you will be dear and beloved to me.’ And it was also said: ‘One should restrain one who is worthy of restraint, and one should support one who is worthy of support.’ The statement, ‘By not harming another in the world, you will be dear and beloved to me,’ Your Majesty, is approved by all the Tathāgatas; this is their instruction, this is their teaching of the Dhamma. For the Dhamma, Your Majesty, has non-harming as its characteristic; this is a statement of its intrinsic nature. As for what the Tathāgata said, Your Majesty, ‘One should restrain one who is worthy of restraint, and one should support one who is worthy of support,’ this is a manner of speaking. An agitated mind, Your Majesty, should be restrained; a sluggish mind should be supported. An unwholesome mind should be restrained; a wholesome mind should be supported. Unwise attention should be restrained; wise attention should be supported. One who has entered the wrong path should be restrained; one who has entered the right path should be supported. The ignoble person should be restrained; the noble person should be supported. A thief should be restrained; one who is not a thief should be supported.”
“Tâu Đại vương, điều này đã được đức Thế Tôn thuyết giảng: ‘Không làm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ là người được yêu mến, quý trọng,’ và cũng đã được dạy rằng: ‘Nên trừng trị người đáng bị trừng trị, nên nâng đỡ người đáng được nâng đỡ.’ Tâu Đại vương, lời dạy ‘Không làm hại người khác ở trên đời, ngươi sẽ là người được yêu mến, quý trọng’ này được tất cả các đấng Như Lai chấp thuận, đây là lời giáo huấn, đây là lời thuyết pháp. Tâu Đại vương, vì Giáo pháp có đặc tính là bất hại, đây là lời nói về tự tánh. Còn về việc, tâu Đại vương, đức Như Lai đã dạy rằng: ‘Nên trừng trị người đáng bị trừng trị, nên nâng đỡ người đáng được nâng đỡ,’ đây là một cách nói thông thường. Tâu Đại vương, tâm phóng dật cần được chế ngự, tâm thụ động cần được sách tấn. Tâm bất thiện cần được chế ngự, tâm thiện cần được sách tấn. Tác ý không như lý cần được chế ngự, tác ý như lý cần được sách tấn. Người thực hành tà hạnh cần bị chế ngự, người thực hành chánh hạnh cần được nâng đỡ. Người không phải bậc Thánh cần bị chế ngự, bậc Thánh cần được nâng đỡ. Kẻ trộm cần bị chế ngự, người không phải kẻ trộm cần được nâng đỡ.”
‘‘Hotu, bhante nāgasena, idāni tvaṃ paccāgatosi mama visayaṃ, yamahaṃ pucchāmi, so me attho upagato. Coro pana, bhante nāgasena, niggaṇhantena kathaṃ niggahetabbo’’ti? ‘‘Coro, mahārāja, niggaṇhantena evaṃ niggahetabbo, paribhāsanīyo paribhāsitabbo, daṇḍanīyo daṇḍetabbo, pabbājanīyo pabbājetabbo, bandhanīyo bandhitabbo, ghātanīyo ghātetabbo’’ti. ‘‘Yaṃ pana, bhante nāgasena, corānaṃ ghātanaṃ, taṃ tathāgatānaṃ anumata’’nti? ‘‘Na hi, mahārājā’’ti. ‘‘Kissa pana coro anusāsanīyo anumato tathāgatāna’’nti? ‘‘Yo so, mahārāja, ghātīyati, na so tathāgatānaṃ anumatiyā ghātīyati, sayaṃkatena so ghātīyati, api ca dhammānusiṭṭhiyā anusāsīyati, sakkā pana, mahārāja, tayā purisaṃ akārakaṃ anaparādhaṃ vīthiyaṃ carantaṃ gahetvā ghātayitu’’nti? ‘‘Na sakkā, bhante’’ti. ‘‘Kena kāraṇena, mahārājā’’ti? ‘‘Akārakattā, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, na coro tathāgatānaṃ anumatiyā haññati, sayaṃkatena so haññati, kiṃ panettha anusāsako kiñci dosaṃ āpajjatī’’ti? ‘‘Na hi bhante’’ti. ‘‘Tena hi, mahārāja, tathāgatānaṃ anusiṭṭhi sammānusiṭṭhi hotī’’ti. ‘‘Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Very well, Venerable Nāgasena, now you have come back into my domain, and the point I wished to ask has been reached. But, Venerable Nāgasena, how should a thief be restrained?” “A thief, great king, should be restrained as follows: one deserving of reprimand should be reprimanded, one deserving of punishment should be punished, one deserving of banishment should be banished, one deserving of being bound should be bound, and one deserving of execution should be executed.” “But, Venerable Nāgasena, is the execution of thieves approved by the Tathāgatas?” “No, great king.” “Then why is the disciplining of a thief permitted by the Tathāgatas?” “Great king, whoever is executed is not executed with the approval of the Tathāgatas; he is executed for his own deed. Moreover, he is disciplined in accordance with the teaching. Tell me, great king, could you seize and execute a man walking along the street who has done no wrong and is innocent?” “That is not possible, Venerable Sir.” “For what reason, great king?” “Because he has done no wrong, Venerable Sir.” “Just so, great king, a thief is not killed with the approval of the Tathāgatas; he is killed for his own deed. Does the one who instructs incur any fault in this?” “No, Venerable Sir.” “Therefore, great king, the instruction of the Tathāgatas is a right instruction.” “Excellent, Venerable Nāgasena. I accept it as you have stated.”
“Thôi được rồi, thưa Đại đức Nāgasena, bây giờ ngài đã quay trở lại lĩnh vực của hạ thần. Ý nghĩa mà hạ thần muốn hỏi đã đạt được. Nhưng, thưa Đại đức Nāgasena, người muốn trừng trị kẻ trộm thì nên trừng trị như thế nào?” “Tâu Đại vương, người muốn trừng trị kẻ trộm nên trừng trị như vầy: người đáng bị khiển trách thì nên khiển trách, người đáng bị phạt thì nên phạt, người đáng bị trục xuất thì nên trục xuất, người đáng bị trói buộc thì nên trói buộc, người đáng bị xử tử thì nên xử tử.” “Nhưng thưa Đại đức Nāgasena, việc xử tử những kẻ trộm có được các đấng Như Lai chấp thuận không?” “Thưa không, tâu Đại vương.” “Vậy tại sao các đấng Như Lai lại chấp thuận việc kẻ trộm phải bị giáo huấn?” “Tâu Đại vương, kẻ bị xử tử đó không phải bị xử tử do sự chấp thuận của các đấng Như Lai, mà y bị xử tử do hành vi của chính mình. Hơn nữa, y bị giáo huấn theo sự giáo huấn của pháp luật. Tâu Đại vương, ngài có thể bắt và xử tử một người đang đi trên đường mà không làm gì sai trái, không có tội lỗi không?” “Thưa Đại đức, không thể được.” “Vì lý do gì, tâu Đại vương?” “Thưa Đại đức, vì người ấy không làm gì sai trái.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, kẻ trộm không bị giết do sự chấp thuận của các đấng Như Lai; y bị giết do hành vi của chính mình. Trong trường hợp này, người giáo huấn có mắc phải lỗi lầm nào không?” “Thưa Đại đức, không ạ.” “Vậy thì, tâu Đại vương, sự giáo huấn của các đấng Như Lai là sự giáo huấn đúng đắn.” “Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, hạ thần xin chấp nhận điều này đúng như vậy.”
Ahiṃsāniggahapañho ekādasamo.
The Eleventh Question on Non-Harming and Restraint.
Câu hỏi thứ mười một về Bất hại và Trừng trị.