Bản dịch
MIL 5.2.8 — CÂU HỎI VỀ VIỆC HỘI CHÚNG KHÔNG BỊ CHIA RẼ
8. Abhejjaparisapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ.’ Và còn có nói rằng: ‘Năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ, như thế thì lời nói rằng: ‘Năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta’ là sai trái. Nếu năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ’ là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài, là thâm sâu, khó tháo gỡ, bị thắt lại còn hơn nút thắt. Ở đây, nhóm người này là bị ngăn cản, bị bưng bít, bị che đậy, bị bao trùm. Xin ngài hãy phô bày năng lực trí tuệ của ngài về các lời nói của những người khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ. Và năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta. Tuy nhiên, việc ấy là do năng lực của người chia rẽ. Khi người chia rẽ đang hiện hữu, tâu đại vương, không có việc không bị chia rẽ. Khi có người chia rẽ, mẹ cũng bị chia rẽ với con, con cũng bị chia rẽ với mẹ, cha cũng bị chia rẽ với con, con cũng bị chia rẽ với cha, anh em trai cũng bị chia rẽ với chị em gái, chị em gái cũng bị chia rẽ với anh em trai, bạn bè cũng bị chia rẽ với bạn bè, thậm chí con thuyền được kết hợp bởi nhiều thanh gỗ cũng bị chia rẽ bởi tốc độ và sự đập vỗ của sóng nước, cây cối có trái đầy đủ chất mật ngọt bị va chạm với sức mạnh và tốc độ của gió cũng bị chia rẽ, vàng có phẩm chất tự nhiên cũng bị chia rẽ bởi đồng.
BJT 3Tâu đại vương, vả lại việc này không phải là ý định của những người hiểu biết, không phải là khuynh hướng của chư Phật, điều này không phải là ước muốn của các bậc sáng suốt, là việc ‘Đức Như Lai có hội chúng bị chia rẽ.’ Hơn nữa, ở đây còn có lý do, mà với lý do ấy đức Như Lai được gọi là ‘có hội chúng không bị chia rẽ.’ Lý do ở đây là thế nào? Tâu đại vương, ‘hội chúng bị chia rẽ’ do sự không bố thí đã làm, hoặc do lời nói không trìu mến, hoặc do việc thực hành điều không lợi ích, hoặc do tính cách không bình đẳng của đức Như Lai trong lúc Ngài đang thực hành đức hạnh về bất cứ việc nào ở bất cứ nơi đâu là điều chưa từng được nghe trước đây. Bởi lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘có hội chúng không bị chia rẽ.’ Tâu đại vương, đại vương cũng nên biết điều này: Trong lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại, có bài Kinh được truyền thừa nào gọi là với lý do này, (nghĩa là) với việc đã làm của Bồ Tát, mà hội chúng của đức Như Lai bị chia rẽ?”
“Thưa ngài, không có. Điều ấy không được thấy, cũng không được nghe ở thế gian. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hội chúng không bị chia rẽ là thứ tám.
Phẩm không bị chia rẽ là phẩm thứ nhì.
(Ở phẩm này có tám câu hỏi)
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. ‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘tathāgato abhejjapariso’ti, puna ca bhaṇatha ‘devadattena ekappahāraṃ pañca bhikkhusatāni bhinnānī’ti. Yadi, bhante nāgasena, tathāgato abhejjapariso, tena hi devadattena ekappahāraṃ pañca bhikkhusatāni bhinnānīti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi devadattena ekappahāraṃ pañca bhikkhusatāni bhinnāni, tena hi ‘tathāgato abhejjapariso’ti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, gambhīro dunniveṭhiyo, gaṇṭhitopi gaṇṭhitaro, etthāyaṃ jano āvaṭo nivuto ovuto pihito pariyonaddho, ettha tava ñāṇabalaṃ dassehi paravādesū’’ti.
8. “Venerable Nāgasena, you say, ‘The Tathāgata’s assembly is unbreakable,’ yet you also say, ‘Devadatta, at one time, split five hundred bhikkhus.’ If, Venerable Nāgasena, the Tathāgata’s assembly is unbreakable, then the statement that Devadatta, at one time, split five hundred bhikkhus, is false. If Devadatta, at one time, split five hundred bhikkhus, then the statement, ‘The Tathāgata’s assembly is unbreakable,’ is also false. This two-edged question has come to you, profound and difficult to unravel, more knotted than a knot. Herein, this populace is obstructed, concealed, covered, blocked, and entangled. In this matter, display the power of your knowledge against opposing views.”
8. “Thưa Đại đức Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Như Lai có hội chúng không thể bị chia rẽ’. Nhưng rồi ngài lại nói: ‘Devadatta đã chia rẽ năm trăm vị tỳ-khưu trong cùng một lúc’. Thưa Đại đức Nāgasena, nếu Như Lai có hội chúng không thể bị chia rẽ, vậy thì lời nói ‘Devadatta đã chia rẽ năm trăm vị tỳ-khưu trong cùng một lúc’ là sai. Nếu Devadatta đã chia rẽ năm trăm vị tỳ-khưu trong cùng một lúc, vậy thì lời nói ‘Như Lai có hội chúng không thể bị chia rẽ’ cũng là sai. Câu hỏi lưỡng nan này lại đến với ngài, nó sâu sắc, khó giải quyết, còn rối rắm hơn cả một nút thắt. Về vấn đề này, người đời bị che lấp, bị bao phủ, bị che đậy, bị bít lại, bị trói buộc. Xin ngài hãy thể hiện năng lực trí tuệ của mình đối với các tà thuyết ở đây.”
‘‘Abhejjapariso, mahārāja, tathāgato, devadattena ca ekappahāraṃ pañca bhikkhusatāni bhinnāni, tañca pana bhedakassa balena, bhedake vijjamāne natthi, mahārāja, abhejjaṃ nāma. Bhedake sati mātāpi puttena bhijjati, puttopi mātarā bhijjati, pitāpi puttena bhijjati, puttopi pitarā bhijjati, bhātāpi bhaginiyā bhijjati, bhaginīpi bhātarā bhijjati, sahāyopi sahāyena bhijjati, nāvāpi nānādārusaṅghaṭitā ūmivegasampahārena bhijjati, rukkhopi madhukappasampannaphalo anilabalavegābhihato bhijjati, suvaṇṇampi jātimantaṃ † lohena bhijjati. Api ca, mahārāja, neso adhippāyo viññūnaṃ, nesā buddhānaṃ adhimutti, neso paṇḍitānaṃ chando ‘tathāgato bhejjapariso’ti. Api cettha kāraṇaṃ atthi, yena kāraṇena tathāgato vuccati ‘abhejjapariso’ti. Katamaṃ ettha kāraṇaṃ? Tathāgatassa, mahārāja, katena adānena vā appiyavacanena vā anatthacariyāya vā asamānattatāya vā yato kutoci cariyaṃ carantassapi parisā bhinnāti na sutapubbaṃ, tena kāraṇena tathāgato vuccati ‘abhejjapariso’ti. Tayāpetaṃ, mahārāja, ñātabbaṃ ‘atthi kiñci navaṅge buddhavacane suttāgataṃ, iminā nāma kāraṇena bodhisattassa katena tathāgatassa parisā bhinnā’ti? ‘‘Natthi bhante, no cetaṃ loke dissati nopi suyyati. Sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Great king, the Tathāgata is one whose assembly is unbreakable, and Devadatta did, at one time, split five hundred bhikkhus. But that was by the power of the one who splits. When a splitter exists, great king, there is nothing that can be called ‘unbreakable.’ When a splitter exists, a mother is split from her son, and a son from his mother; a father is split from his son, and a son from his father; a brother is split from his sister, and a sister from her brother; a friend is split from a friend. Even a boat, assembled from various timbers, splits when struck by the force of waves. A tree, laden with abundant sweet fruit, splits when struck by the force and strength of the wind. Even pure gold is corrupted by base metal. Yet, great king, it is not the opinion of the wise, nor the conviction of the Buddhas, nor the desire of the learned that ‘The Tathāgata’s assembly can be broken.’ But there is a reason for which the Tathāgata is called ‘one whose assembly is unbreakable.’ What is that reason? Great king, it has never been heard that the Tathāgata's assembly was split on account of any action of his—whether by not giving, by unkind speech, by harmful conduct, or by inequality—in any of his past lives. For this reason, the Tathāgata is called ‘one whose assembly is unbreakable.’ And you, great king, should know this: Is there anything in the ninefold word of the Buddha, come down in the suttas, that states, ‘For this or that reason, on account of an action of the Bodhisatta, the Tathāgata’s assembly was split’?” “There is not, venerable sir. Nor is such a thing seen or heard of in the world. Excellent, venerable Nāgasena! I accept it just as you have stated.”
“Tâu Đại vương, Như Lai có hội chúng không thể bị chia rẽ, và Devadatta đã chia rẽ năm trăm vị tỳ-khưu trong cùng một lúc. Tuy nhiên, sự chia rẽ ấy là do năng lực của kẻ gây chia rẽ. Tâu Đại vương, khi có kẻ gây chia rẽ, thì không có gì gọi là không thể bị chia rẽ cả. Khi có kẻ gây chia rẽ, mẹ cũng bị chia rẽ với con, con cũng bị chia rẽ với mẹ; cha cũng bị chia rẽ với con, con cũng bị chia rẽ với cha; anh cũng bị chia rẽ với em gái, em gái cũng bị chia rẽ với anh; bạn bè cũng bị chia rẽ với bạn bè. Ngay cả chiếc thuyền được ghép từ nhiều loại gỗ khác nhau cũng bị vỡ bởi sức mạnh của sóng. Cây có quả ngọt như mật cũng bị gãy đổ bởi sức mạnh của gió. Vàng ròng nguyên chất cũng bị hư hoại bởi kim loại khác. Hơn nữa, tâu Đại vương, đây không phải là chủ ý của bậc hiền trí, đây không phải là niềm tin của các vị Phật, đây không phải là ý muốn của bậc పండిత khi nói rằng: ‘Như Lai có hội chúng có thể bị chia rẽ’. Tuy nhiên, có một lý do mà Như Lai được gọi là ‘vị có hội chúng không thể bị chia rẽ’. Lý do ở đây là gì? Tâu Đại vương, chưa từng nghe nói rằng hội chúng của Như Lai bị chia rẽ do một hành động nào đó của Ngài, dù trong bất cứ kiếp sống nào, như không bố thí, nói lời không ái ngữ, hành xử bất lợi, hay đối xử không bình đẳng. Vì lý do đó, Như Lai được gọi là ‘vị có hội chúng không thể bị chia rẽ’. Vậy, tâu Đại vương, ngài có nên biết điều này chăng: ‘Có điều gì trong Cửu phần giáo điển, trong kinh điển được truyền lại, nói rằng hội chúng của Như Lai đã bị chia rẽ do một hành động nào đó của Bồ-tát gây ra với lý do này hay lý do khác không?’ ‘Thưa Đại đức, không có. Điều đó không được thấy trong đời, cũng không được nghe nói đến. Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, con xin chấp nhận điều này đúng như vậy.’”
Abhejjaparisapañho aṭṭhamo.
The Eighth Question on the Unbreakable Assembly.
Câu hỏi thứ tám về hội chúng không thể bị chia rẽ.
Abhejjavaggo dutiyo.
The Second Chapter on Unbreakability.
Phẩm thứ hai, Phẩm Không Thể Bị Chia Rẽ.
Imasmiṃ vagge aṭṭha pañhā.
In this chapter, there are eight questions.
Trong phẩm này có tám câu hỏi.