Bản dịch
MIL 5.2.7 — CÂU HỎI VỀ VIỆC QUẢN TRỊ HỘI CHÚNG TỲ KHƯU
7. Bhikkhusaṅghapariharaṇapañha
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: —Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta.’ Và thêm nữa, trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Thế Tôn là:—Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta,’ như thế thì trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài nói rằng: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm,’ lời nói ấy là sai trái.
Nếu trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm,’ như thế thì lời nói rằng:—Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta’ là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: —Này Ānanda, Như Lai không khởi ý như vầy: ‘Ta sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu’ hoặc là: ‘Hội chúng tỳ khưu là thuộc sự chỉ đạo của Ta.’ Và trong khi làm sáng tỏ đức hạnh về bản thể của đức Thế Tôn Metteyya, Ngài đã nói như vầy: ‘Vị ấy sẽ quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều ngàn năm, cũng giống như Ta hiện nay quản trị hội chúng tỳ khưu nhiều trăm năm.’ Tâu đại vương, ở câu hỏi này, một ý nghĩa có sự thiếu sót, một ý nghĩa không có sự thiếu sót. Tâu đại vương, đức Như Lai không phụ thuộc vào tập thể, trái lại tập thể phụ thuộc vào đức Như Lai. Tâu đại vương, điều này là quan niệm chung: ‘tôi,’ ‘của tôi,’ điều này không phải là ý nghĩa tuyệt đối. Tâu đại vương, đối với đức Như Lai việc được lìa xa là điều ưa thích, việc được lìa xa là điều yêu mến. Đối với đức Như Lai không có sự nắm giữ như là ‘của tôi.’ Tuy nhiên, do sự bám víu mà có sự nương nhờ. Tâu đại vương, giống như địa cầu đất là nơi nâng đỡ cho các chúng sanh có sự cư ngụ ở mặt đất. Và các chúng sanh này cư ngụ ở địa cầu. Nhưng đại địa cầu không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai là nơi nâng đỡ cho tất cả chúng sanh, và ban cho chỗ ẩn náu. Và các chúng sanh này có đức Như Lai là chốn nâng đỡ. Nhưng đức Như Lai không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như đám mây to lớn khổng lồ trong khi đổ mưa thì ban cho sự tăng trưởng của cỏ, cây, thú vật, loài người, rồi duy trì sự tiếp nối. Và tất cả các chúng sanh này có sự sinh tồn nhờ vào mưa, nhưng đám mây lớn không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai làm sanh ra và duy trì các pháp thiện đối với tất cả các chúng sanh, và tất cả các chúng sanh này có sự sinh tồn nhờ có đấng Đạo Sư, nhưng đức Như Lai không có điều mong mỏi ở những người ấy rằng: ‘Họ thuộc về tôi.’ Điều ấy có nguyên nhân là gì? Sự dứt bỏ đối với tà kiến về bản thân (tùy ngã kiến).”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Câu hỏi đã khéo được tháo gỡ bằng nhiều cách thức với nhiều lý lẽ, điều thâm sâu đã được làm rõ, nút thắt đã được mở ra, bụi rậm đã được làm không còn bụi rậm, bóng tối đã được làm thành ánh sáng, lời tuyên thuyết của ngoại đạo đã bị đổ vỡ, (Pháp) nhãn đã được sanh khởi cho những người con trai của đấng Chiến Thắng.”
Câu hỏi về việc quản trị hội chúng tỳ khưu là thứ bảy.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Bhāsitampetaṃ, mahārāja, bhagavatā ‘tathāgatassa kho, ānanda, na evaṃ hoti ‘‘ahaṃ bhikkhusaṅghaṃ pariharissāmī’’ti vā, ‘‘mamuddesiko bhikkhusaṅgho’’ti vā’ti. Puna ca metteyyassāpi bhagavato sabhāvaguṇaṃ paridīpayamānena bhagavatā bhaṇitaṃ ‘so anekasahassaṃ bhikkhusaṅghaṃ pariharissati, seyyathāpi ahaṃ etarahi anekasataṃ bhikkhusaṅghaṃ pariharāmī’ti. Etasmiñca, mahārāja, pañhe eko attho sāvaseso, eko attho niravaseso. Na, mahārāja, tathāgato parisāya anugāmiko, parisā pana tathāgatassa anugāmikā. Sammuti, mahārāja, esā ‘aha’nti ‘mamā’ti, na paramattho eso, vigataṃ, mahārāja, tathāgatassa pemaṃ, vigato sineho, ‘mayha’ntipi tathāgatassa gahaṇaṃ natthi, upādāya pana avassayo hoti.
“Great king, this was said by the Blessed One: ‘Ānanda, it does not occur to the Tathāgata thus: “I shall lead the Bhikkhu Saṅgha,” or “The Bhikkhu Saṅgha is directed towards me.”’ Furthermore, while illuminating the inherent qualities of the Blessed One Metteyya, the Blessed One said: ‘He will lead a Bhikkhu Saṅgha of many thousands, just as I now lead a Bhikkhu Saṅgha of many hundreds.’ In this question, great king, one meaning has a remainder, and one meaning is without remainder. The Tathāgata, great king, is not a follower of the assembly; rather, the assembly is a follower of the Tathāgata. ‘I’ and ‘mine,’ great king, are a convention; this is not the ultimate meaning. For the Tathāgata, great king, affection is gone, fondness is gone. For the Tathāgata there is no grasping in terms of ‘mine,’ but it serves as a basis dependent on convention.”
– Tâu Đại vương, đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Này Ānanda, Như Lai không có ý nghĩ rằng: “Ta sẽ quản chúng Tăng,” hay “chúng Tăng quy hướng về ta.”’ Lại nữa, khi trình bày về phẩm chất tự nhiên của đức Thế Tôn Metteyya, đức Thế Tôn đã dạy rằng: ‘Vị ấy sẽ quản chúng Tăng gồm nhiều ngàn vị, cũng như ta hiện nay đang quản chúng Tăng gồm nhiều trăm vị.’ Tâu Đại vương, trong vấn đề này, có một ý nghĩa là quy ước và một ý nghĩa là tuyệt đối. Tâu Đại vương, Như Lai không phải là người đi theo hội chúng, mà hội chúng mới là người đi theo Như Lai. Tâu Đại vương, ‘ta’ hay ‘của ta’ chỉ là danh xưng quy ước, đó không phải là chân nghĩa. Tâu Đại vương, Như Lai đã đoạn trừ ái luyến, đã đoạn trừ tình thương. Như Lai không có sự chấp thủ ‘của tôi,’ nhưng ngài là nơi nương tựa cho những ai còn chấp thủ.
‘‘Yathā, mahārāja, pathavī bhūmaṭṭhānaṃ sattānaṃ patiṭṭhā hoti upassayaṃ, pathaviṭṭhā cete sattā, na ca mahāpathaviyā ‘mayhete’ti apekkhā hoti, evameva kho, mahārāja, tathāgato sabbasattānaṃ patiṭṭhā hoti upassayaṃ, tathāgataṭṭhā † cete sattā, na ca tathāgatassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti. Yathā vā pana, mahārāja, mahatimahāmegho abhivassanto tiṇarukkhapasumanussānaṃ vuḍḍhiṃ deti santatiṃ anupāleti. Vuṭṭhūpajīvino cete sattā sabbe, na ca mahāmeghassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti. Evameva kho, mahārāja, tathāgato sabbasattānaṃ kusaladhamme janeti anupāleti, satthūpajīvino cete sattā sabbe, na ca tathāgatassa ‘mayhete’ti apekkhā hoti. Taṃ kissa hetu? Attānudiṭṭhiyā pahīnattā’’ti.
“Just as, great king, the earth is a foundation and a support for beings dwelling on the ground, and these beings are established on the earth, but the great earth has no concern that ‘these are mine,’ so too, great king, the Tathāgata is a foundation and a support for all beings, and these beings are established in the Tathāgata, yet the Tathāgata has no concern that ‘these are mine.’ Or just as, great king, a great cloud, raining down heavily, gives growth to grass, trees, animals, and humans, and maintains their continuity. All these beings live dependent on the rain, yet the great cloud has no concern that ‘these are mine.’ In the same way, great king, the Tathāgata generates and maintains wholesome qualities in all beings. All these beings live dependent on the Teacher, yet the Tathāgata has no concern that ‘these are mine.’ For what reason? Because of the abandonment of the view of self.”
“Tâu Đại vương, ví như đất là nơi nương tựa, là chỗ trú ngụ cho các chúng sanh sống trên mặt đất. Các chúng sanh này nương vào đất mà sống, nhưng đất mẹ không hề có sự luyến ái rằng: ‘Đây là của ta’. Cũng vậy, tâu Đại vương, Như Lai là nơi nương tựa, là chỗ trú ngụ cho tất cả chúng sanh. Các chúng sanh này nương vào Như Lai mà sống, nhưng Như Lai không hề có sự luyến ái rằng: ‘Đây là của ta’. Hoặc ví như, tâu Đại vương, một đám mây lớn trút mưa xuống, mang lại sự tăng trưởng cho cỏ, cây, thú vật và loài người, và duy trì dòng dõi của chúng. Tất cả các chúng sanh này đều sống nhờ vào mưa, nhưng đám mây lớn không hề có sự luyến ái rằng: ‘Đây là của ta’. Cũng vậy, tâu Đại vương, Như Lai làm phát sanh và nuôi dưỡng các thiện pháp cho tất cả chúng sanh. Tất cả các chúng sanh này đều sống nhờ vào Bậc Đạo Sư, nhưng Như Lai không hề có sự luyến ái rằng: ‘Đây là của ta’. Vì lý do gì? Vì đã đoạn trừ ngã kiến.”
‘‘Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho bahuvidhehi kāraṇehi, gambhīro uttānīkato, gaṇṭhi bhinno, gahanaṃ agahanaṃ kataṃ, andhakāro āloko kato, bhaggā paravādā, jinaputtānaṃ cakkhuṃ uppādita’’nti.
“Excellent, venerable Nāgasena! The question has been well unraveled with various reasons; the profound has been made clear, the knot has been broken, the impenetrable has been made penetrable, darkness has been made light, the doctrines of others have been shattered, and the eye of the Conqueror’s sons has been brought into being.”
“Lành thay, thưa Đại đức Nāgasena, câu hỏi đã được giải quyết thấu đáo bằng nhiều lý do. Điều sâu sắc đã được làm cho hiển lộ, nút thắt đã được tháo gỡ, điều phức tạp đã được làm cho đơn giản, ánh sáng đã được tạo ra trong bóng tối, các tà thuyết đã bị phá vỡ, tuệ nhãn đã được khai mở cho các Phật tử.”
Bhikkhusaṅghapariharaṇapañho sattamo.
The Seventh Question on Leading the Bhikkhu Saṅgha.
Câu hỏi thứ bảy về sự quan tâm đến Tăng chúng.