Bản dịch
MIL 5.2.5 — CÂU HỎI VỀ SỰ CHƯỚNG NGẠI
5. Buddhalābhantarāyapañha
TRONG VIỆC THỌ NHẬN CỦA ĐỨC THẾ TÔN
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh.’ Và thêm nữa, ‘Đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā, đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế’ là sai trái. Nếu đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā, đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, vô cùng quan trọng, khó tháo gỡ, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh. Ngài sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế. Tuy nhiên việc làm ấy có lý do là bởi Ma Vương ác độc.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì thiện pháp của đức Thế Tôn, được tạo lập theo cách thức tính toán bằng kiếp sống đã trải qua, đã được hoàn tất như thế nào? Sự triển khai về tốc độ và năng lực của thiện pháp ấy đã bị Ma Vương ác độc, kẻ mới xuất hiện vào lúc này, đóng lại như thế nào? Thưa ngài Nāgasena, như thế thì trong việc này sự chỉ trích tiếp cận dựa trên hai cơ sở: Bất thiện pháp có sức mạnh hơn cả thiện pháp, năng lực của Ma Vương có sức mạnh hơn cả năng lực của đức Phật. Vì lý do gì mà cây cối lại có ngọn mang nặng hơn cả rễ? Và điều ác lại có sức mạnh hơn cả đức hạnh đã được tích tụ?”
BJT 3“Tâu đại vương, đương nhiên chỉ với chừng ấy thì không thể nói là bất thiện pháp có sức mạnh hơn cả thiện pháp, năng lực của Ma Vương có sức mạnh hơn cả năng lực của đức Phật. Vậy thì lý do ở trường hợp này là được mong mỏi. Tâu đại vương, giống như có người đàn ông đem mật ong, hoặc bánh mật ong, hoặc tặng phẩm dâng lên đức Chuyển Luân Vương, người gác cổng của đức vua nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, nay không phải là thời điểm để diện kiến đức vua. Này ông, như thế thì ông hãy cầm lấy tặng phẩm của ông và mau mau đi trở lui. Chớ để đức vua giáng hình phạt đến ông.’ Do đó, người đàn ông ấy bị run rẩy, bị chấn động do nỗi sợ hãi về hình phạt, liền cầm lấy tặng phẩm ấy và mau mau đi trở lui. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với từng ấy sự việc không đúng thời điểm của tặng phẩm mà gọi là đức Chuyển Luân ấy có năng lực kém hơn người gác cổng, hay là đức Chuyển Luân còn có thể nhận bất cứ tặng phẩm nào khác nữa?”
BJT 4“Thưa ngài, không đúng. Do bản chất ganh ghét mà người gác cổng ấy ngăn chặn tặng phẩm. Tuy nhiên tặng phẩm của đức vua, thậm chí có phẩm chất cả trăm ngàn lần, đi đến bằng cánh cửa khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do bản chất ganh ghét mà Ma Vương ác độc đã nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Trái lại, hàng trăm ngàn Thiên nhân mang theo thuốc bất tử, là dưỡng chất của cõi trời, đến gần lễ bái đức Thế Tôn rồi đứng chắp tay (thưa rằng): ‘Chúng tôi sẽ đặt dưỡng chất vào cơ thể của đức Thế Tôn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Đối với đức Thế Tôn, bậc Tối Thượng Nhân ở thế gian, bốn món vật dụng là dễ dàng nhận được, chừng ấy thức ăn được thọ nhận theo như ước muốn. Được thỉnh cầu bởi chư Thiên và nhân loại mà đức Thế Tôn thọ dụng bốn món vật dụng. Tuy nhiên, ý định của Ma Vương có sự thành tựu liền tức thời, là việc Ma Vương đã tạo ra sự chướng ngại về vật thực đến đức Thế Tôn. Thưa ngài, trong việc này nỗi hoài nghi của trẫm không được cắt đứt. Trẫm bị sanh khởi nỗi phân vân, bị rơi vào sự nghi ngờ. Về việc ấy, tâm ý của trẫm không chấp nhận việc Ma Vương, là thây ma, hèn hạ, nhỏ nhoi, độc ác, không cao thượng, tội lỗi, đã tạo ra sự chướng ngại trong việc thọ nhận của đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nhân vật cao quý tối cao ở thế gian có cả chư Thiên, cội nguồn của những phước báu cao quý về thiện pháp, không ai sánh bằng, không kẻ tương đương, không người tương xứng.”
BJT 5“Tâu đại vương, quả là có bốn sự chướng ngại: Chướng ngại do chưa được nhìn thấy, chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng. Ở đây chướng ngại do chưa được nhìn thấy nghĩa là khi vật được làm xong còn chưa chỉ định (người nhận) do việc chưa nhìn thấy thì có người nào đó tạo ra sự chướng ngại rằng: ‘Có điều gì với việc cho đến người khác?’ Đây gọi là chướng ngại do chưa được nhìn thấy. Chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận) là thế nào? Ở đây, vật thực là được chuẩn bị dành cho, được chỉ định cho một cá nhân, rồi có người nào đó tạo ra sự chướng ngại cho người ấy. Đây gọi là chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận). Chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong là thế nào? Ở đây, bất cứ vật gì đã được chuẩn bị xong còn chưa được thọ nhận. Tại nơi ấy, có người nào đó tạo ra sự chướng ngại. Đây gọi là chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong. Chướng ngại về sự thọ dụng là thế nào? Ở đây là bất kỳ sự thọ dụng nào, tại nơi ấy có người nào đó tạo ra sự chướng ngại. Đây gọi là chướng ngại về sự thọ dụng. Tâu đại vương, đây là bốn sự chướng ngại.
Hơn nữa, việc Ma Vương ác độc đã nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā là vật thọ dụng còn chưa thuộc về đức Thế Tôn, chưa được đem đến gần, chưa được chỉ định (người nhận), và Ngài còn chưa đi đến, chưa ngự đến; chướng ngại đã được tạo ra đối với Ngài là do việc chưa được nhìn thấy. Hơn nữa, việc ấy không phải chỉ riêng một mình đức Thế Tôn. Vào thời điểm ấy, thậm chí tất cả những người đã rời khỏi, đã đi đến vào ngày hôm ấy cũng đã không nhận được vật thực. Tâu đại vương, tôi không nhìn thấy người nào ở thế gian, tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, có thể tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn ấy được. Nếu có kẻ nào đó do ganh ghét rồi tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng (đối với đức Thế Tôn) thì sẽ khiến cho đầu của kẻ ấy vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh.
BJT 6Tâu đại vương, đây là bốn đức tính không thể bị che lấp bởi bất cứ người nào của đức Như Lai. Bốn đức tính gì? Tâu đại vương, lợi lộc đã được chỉ định dành cho đức Thế Tôn, đã được chuẩn bị xong, thì không người nào có thể tạo ra chướng ngại cho Ngài. Tâu đại vương, ánh sáng hào quang của đức Thế Tôn là di chuyển dọc theo thân, không người nào có thể tạo ra chướng ngại. Tâu đại vương, bản thể Toàn Tri là vật báu trí tuệ của đức Thế Tôn, không người nào có thể tạo ra chướng ngại cho Ngài. Tâu đại vương, không người nào có thể tạo ra chướng ngại đến mạng sống của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, đây là bốn đức tính không thể bị che lấp bởi bất cứ người nào của đức Như Lai. Tâu đại vương, tất cả các đức tính này chỉ có một phẩm chất, không bị bệnh, không bị chuyển dịch, không có sự sánh kịp bởi những người khác, là những sự việc không bị đụng chạm. Tâu đại vương, nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, giống như ở các vùng biên địa không bằng phẳng của đức vua, nhờ vào việc không nhìn thấy, các kẻ cướp đã ẩn nấp rồi làm hư hỏng con đường. Tuy nhiên, nếu đức vua nhìn thấy các kẻ cướp ấy, phải chăng những kẻ cướp ấy có thể đạt được sự bình yên?”
“Thưa ngài, không đúng. Đức vua có thể ra lệnh phanh thây bằng búa thành trăm mảnh hay ngàn mảnh.”
BJT 7“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn bà có chồng nhờ vào việc không nhìn thấy, ẩn núp rồi gần gũi người đàn ông khác. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, nếu người đàn bà gần gũi người đàn ông khác trước mặt chồng, phải chăng người đàn bà ấy có thể đạt được sự bình yên?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người chồng có thể giết chết, hành hạ, giam cầm cô ấy, hoặc đem đi làm nô lệ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, nếu Ma Vương ác độc tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn thì có thể khiến cho đầu của Ma Vương bị vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh.”
“Thưa ngài Nāgasena, Ma Vương ác độc đã làm điều ấy tương tợ như kẻ cướp. Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Thưa ngài, nếu Ma Vương ác độc tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn thì có thể khiến cho đầu của Ma Vương bị vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh, hoặc thân thể của Ma Vương có thể tan tác như là nắm trấu.
Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự chướng ngại
trong việc thọ nhận của đức Thế Tôn là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Bhikkhu Sujato.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. ‘‘Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha ‘lābhī tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārāna’nti. Puna ca tathāgato pañcasālaṃ brāhmaṇagāmaṃ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhantoti. Yadi, bhante nāgasena, tathāgato lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṃ, tena hi pañcasālaṃ brāhmaṇagāmaṃ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhantoti yaṃ vacanaṃ, taṃ micchā. Yadi pañcasālaṃ brāhmaṇagāmaṃ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhanto, tena hi lābhī tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānanti tampi vacanaṃ micchā. Ayampi ubhato koṭiko pañho sumahanto dunnibbeṭho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo’’ti.
5. “Venerable Nāgasena, you say, ‘The Tathāgata is a recipient of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick.’ And yet, you also say, ‘The Tathāgata entered the brahmin village of Pañcasāla for alms and, having received nothing at all, departed with his bowl just as it was when washed.’ If, venerable Nāgasena, the Tathāgata is a recipient of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick, then the statement that he entered the brahmin village of Pañcasāla for alms and, having received nothing at all, departed with his bowl just as it was when washed, is false. If he entered the brahmin village of Pañcasāla for alms and, having received nothing at all, departed with his bowl just as it was when washed, then the statement that the Tathāgata is a recipient of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick is also false. This two-horned dilemma, which is very great and difficult to resolve, has come before you; it is for you to explain it.”
5. “Bạch Đại đức Nāgasena, các ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai là bậc được nhiều y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh’. Nhưng rồi lại nói: ‘Đức Như Lai vào làng Bà-la-môn Pañcasāla để khất thực, đã không nhận được bất cứ thứ gì và phải ra về với bình bát sạch không như lúc rửa’. Bạch Đại đức Nāgasena, nếu Đức Như Lai là bậc được nhiều y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh, vậy thì lời nói ‘Ngài vào làng Bà-la-môn Pañcasāla để khất thực, đã không nhận được bất cứ thứ gì và phải ra về với bình bát sạch không như lúc rửa’ là sai. Nếu Ngài vào làng Bà-la-môn Pañcasāla để khất thực, đã không nhận được bất cứ thứ gì và phải ra về với bình bát sạch không như lúc rửa, vậy thì lời nói ‘Đức Như Lai là bậc được nhiều y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh’ cũng là sai. Vấn đề lưỡng nan này thật to lớn, khó giải quyết, đã đến lượt ngài, xin ngài hãy giải đáp.”
‘‘Lābhī, mahārāja, tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṃ, pañcasālañca brāhmaṇagāmaṃ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhanto, tañca pana mārassa pāpimato kāraṇā’’ti. ‘‘Tena hi, bhante nāgasena, bhagavato gaṇanapathaṃ vītivattakappe † abhisaṅkhataṃ kusalaṃ kinti niṭṭhitaṃ, adhunuṭṭhitena mārena pāpimatā tassa kusalassa balavegaṃ † kinti pihitaṃ, tena hi, bhante nāgasena, tasmiṃ vatthusmiṃ dvīsu ṭhānesu upavādo āgacchati, kusalatopi akusalaṃ balavataraṃ hoti, buddhabalatopi mārabalaṃ balavataraṃ hotīti, tena hi rukkhassa mūlatopi aggaṃ bhārataraṃ hoti, guṇasamparikiṇṇatopi pāpiyaṃ balavataraṃ hotī’’ti. ‘‘Na, mahārāja, tāvatakena kusalatopi akusalaṃ balavataraṃ nāma hoti, na buddhabalatopi mārabalaṃ balavataraṃ nāma hoti. Api cettha kāraṇaṃ icchitabbaṃ.
“The Tathāgata is indeed a recipient of robes, almsfood, lodging, and medicinal requisites for the sick, great king. And he did enter the brahmin village of Pañcasāla for alms and, having received nothing at all, departed with his bowl just as it was when washed. But that was on account of Māra the Evil One.” “If that is so, venerable Nāgasena, was the Blessed One’s wholesome merit, accumulated over countless eons beyond reckoning, exhausted? How could the power and force of that wholesome merit be obstructed by Māra the Evil One, who has arisen only now? In that case, venerable Nāgasena, criticism arises on two grounds: that the unwholesome is more powerful than the wholesome, and that Māra’s power is greater than the Buddha’s. If that is so, then the top of a tree must be heavier than its root, and that which is evil must be more powerful than that which is suffused with virtue.” “No, great king, it cannot be said on that account that the unwholesome is more powerful than the wholesome, nor that Māra’s power is greater than the Buddha’s. Rather, a reason for this should be sought.”
“Tâu Đại vương, Đức Như Lai là bậc được nhiều y phục, vật thực, sàng tọa, và dược phẩm trị bệnh; và Ngài đã vào làng Bà-la-môn Pañcasāla để khất thực, không nhận được bất cứ thứ gì và phải ra về với bình bát sạch không như lúc rửa, nhưng việc đó là do ác ma.” “Vậy thì, bạch Đại đức Nāgasena, phải chăng thiện nghiệp mà Đức Thế Tôn đã vun bồi qua vô số kiếp không thể đếm xuể đã cạn kiệt rồi sao? Phải chăng ác ma vừa mới khởi lên đã có thể che lấp được sức mạnh của thiện nghiệp ấy? Bạch Đại đức Nāgasena, nếu vậy thì trong trường hợp này sẽ dẫn đến hai điều đáng chê trách: bất thiện mạnh hơn thiện, và ma lực mạnh hơn Phật lực. Như vậy thì chẳng khác nào ngọn cây lại nặng hơn gốc cây, và điều xấu ác lại mạnh hơn công đức viên mãn.” “Tâu Đại vương, không phải vì thế mà có thể nói rằng bất thiện mạnh hơn thiện, cũng không phải ma lực mạnh hơn Phật lực. Tuy nhiên, ở đây cần phải tìm hiểu nguyên nhân.”
‘‘Yathā, mahārāja, puriso rañño cakkavattissa madhuṃ vā madhupiṇḍikaṃ vā aññaṃ vā upāyanaṃ abhihareyya, tamenaṃ rañño dvārapālo evaṃ vadeyya ‘akālo, bho, ayaṃ rañño dassanāya, tena hi, bho, tava upāyanaṃ gahetvā sīghasīghaṃ paṭinivatta, pure tava rājā daṇḍaṃ dhāressatī’ti †. Tato so puriso daṇḍabhayā tasito ubbiggo taṃ upāyanaṃ ādāya sīghasīghaṃ paṭinivatteyya, api nu kho so, mahārāja, rājā cakkavattī tāvatakena upāyanavikalamattakena dvārapālato dubbalataro nāma hoti, aññaṃ vā pana kiñci upāyanaṃ na labheyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, issāpakato so, bhante, dvārapālo upāyanaṃ nivāresi, aññena pana dvārena satasahassaguṇampi rañño upāyanaṃ upetī’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, issāpakato māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi, aññāni pana anekāni devatāsatasahassāni amataṃ dibbaṃ ojaṃ gahetvā upagatāni ‘bhagavato kāye ojaṃ odahissāmā’ti bhagavantaṃ namassamānāni pañjalikāni ṭhitānī’’ti.
“Suppose, great king, a man were to bring honey, a honeycomb, or some other gift to a wheel-turning monarch. The king’s gatekeeper might say to him, ‘Sir, this is not the time to see the king. Therefore, take your gift and return at once, before the king imposes a penalty on you.’ Then that man, fearful of punishment, anxious and agitated, would take his gift and quickly return. Now, great king, would that wheel-turning monarch, on account of that mere lack of a gift, be weaker than the gatekeeper? Or would he not receive any other gift?” “Certainly not, venerable sir. That gatekeeper, acting out of jealousy, prevented the gift. But through another gate, gifts a hundred thousand times more valuable reach the king.” “In the very same way, great king, Māra the Evil One, acting out of jealousy, possessed the brahmins and householders in Pañcasāla. However, many other hundreds of thousands of deities, holding the immortal, divine essence, approached and stood with their hands joined in reverence, paying homage to the Blessed One, thinking, ‘We will infuse this essence into the Blessed One’s body.’”
“Tâu Đại vương, ví như có người dâng lên đức vua Chuyển Luân mật ong, bánh mật, hay một lễ vật nào khác, người gác cổng của đức vua có thể nói với người ấy rằng: ‘Này ông, đây không phải là lúc để yết kiến đức vua. Này ông, vì thế, hãy cầm lấy lễ vật của ông và mau mau quay về, trước khi đức vua sẽ áp đặt hình phạt cho ông.’ Bấy giờ, người ấy vì sợ hình phạt, hoảng hốt, kinh sợ, cầm lấy lễ vật ấy và mau mau quay về. Tâu Đại vương, có phải chăng vị vua Chuyển Luân ấy, chỉ vì thiếu hụt lễ vật chừng ấy, lại trở nên yếu thế hơn người gác cổng hay sao? Hay là ngài sẽ không nhận được bất cứ lễ vật nào khác?” “Tâu Đại đức, không phải vậy. Tâu Đại đức, người gác cổng ấy do lòng ganh tỵ đã ngăn cản lễ vật, nhưng qua cửa khác, lễ vật gấp trăm ngàn lần cũng đến được với đức vua.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, Ác ma do lòng ganh tỵ đã ám nhập vào các vị Bà-la-môn và gia chủ ở làng Pañcasāla. Tuy nhiên, trăm ngàn chư thiên khác đã mang vật thực bổ dưỡng bất tử của chư thiên đến, đang đứng đảnh lễ Đức Thế Tôn với hai tay chắp lại, với ý nghĩ: ‘Chúng ta sẽ đặt vật thực bổ dưỡng vào thân của Đức Thế Tôn.’”
‘‘Hotu, bhante nāgasena, sulabhā bhagavato cattāro paccayā loke uttamapurisassa, yācitova bhagavā devamanussohi cattāro paccaye paribhuñjati, api ca kho pana mārassa yo adhippāyo, so tāvatakena siddho, yaṃ so bhagavato bhojanassa antarāyamakāsi. Ettha me, bhante, kaṅkhā na chijjati, vimatijātohaṃ tattha saṃsayapakkhando. Na me tattha mānasaṃ pakkhandati, yaṃ tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa sadevake loke aggapuggalavarassa kusalavarapuññasambhavassa asamasamassa anupamassa appaṭisamassa chavakaṃ lāmakaṃ parittaṃ pāpaṃ anariyaṃ vipannaṃ māro lābhantarāyamakāsī’’ti.
“Let that be, venerable Nāgasena. The four requisites are easily obtained in this world for the Blessed One, the supreme person. The Blessed One enjoys the four requisites only when requested by gods and humans. And yet, Māra's intention was accomplished to the extent that he created an obstacle to the Blessed One’s meal. In this matter, venerable sir, my doubt is not dispelled; I have become uncertain and have fallen into doubt. My mind cannot be reconciled to this: that Māra created a wretched, base, paltry, evil, ignoble, and ruined obstacle to the gain of the Tathāgata—the Arahant, the Perfectly Enlightened One, the foremost and excellent individual in the world with its gods, the source of supreme wholesome merit, the one without equal, the incomparable, the peerless.”
“Thưa Đại đức Nāgasena, cứ cho là vậy. Bốn món vật dụng đối với Đức Thế Tôn, bậc Tối Thượng Nhân trong đời, là dễ dàng có được. Đức Thế Tôn chỉ thọ dụng bốn món vật dụng khi được chư thiên và nhân loại thỉnh cầu. Tuy nhiên, ý định của Ác ma đã thành tựu được chừng ấy, là nó đã gây trở ngại cho vật thực của Đức Thế Tôn. Tâu Đại đức, về điểm này, sự hoài nghi của trẫm vẫn chưa được đoạn trừ, trẫm đã sinh lòng phân vân, rơi vào nghi ngờ về điều đó. Tâm của trẫm không thể chấp nhận được rằng Ác ma đã có thể gây ra một sự trở ngại về lợi lộc thấp hèn, tồi tệ, nhỏ mọn, xấu xa, không xứng đáng, và sai trái đối với Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc Tối Thượng trong thế gian cùng với chư thiên, là nơi phát sinh của các thiện pháp và công đức tối thượng, bậc Vô Song, bậc Vô Tỷ, bậc Vô Đối.”
‘‘Cattāro kho, mahārāja, antarāyā adiṭṭhantarāyo uddissa katantarāyo upakkhaṭantarāyo paribhogantarāyoti. Tattha katamo adiṭṭhantarāyo? Anodissa adassanena anabhisaṅkhataṃ koci antarāyaṃ karoti ‘kiṃ parassa dinnenā’ti, ayaṃ adiṭṭhantarāyo nāma.
“Great king, there are four kinds of obstacles: the obstacle to an unseen gain, the obstacle to a designated gain, the obstacle to a prepared gain, and the obstacle to a gain being used. Among these, what is the obstacle to an unseen gain? It is when someone, without specific intention and by not seeing it, creates an obstacle to an unarranged gain, thinking, ‘What is the use of it being given to another?’ This is called the obstacle to an unseen gain.”
“Tâu Đại vương, có bốn loại trở ngại: trở ngại đối với vật chưa thấy, trở ngại đối với vật đã được chỉ định, trở ngại đối với vật đã được dọn sẵn, và trở ngại trong khi đang thọ dụng. Trong số đó, thế nào là trở ngại đối với vật chưa thấy? Khi một vật chưa được chỉ định, chưa thấy, chưa được chuẩn bị, có người gây trở ngại với ý nghĩ: ‘Cho người khác thì có ích gì?’. Đây gọi là trở ngại đối với vật chưa thấy.”
‘‘Katamo uddissa katantarāyo? Idhekaccaṃ puggalaṃ upadisitvā uddissa bhojanaṃ paṭiyattaṃ hoti, taṃ koci antarāyaṃ karoti, ayaṃ uddissa katantarāyo nāma.
“What is the obstacle to a designated gain? It is when food has been prepared for a specific, designated individual, and someone creates an obstacle to it. This is called the obstacle to a designated gain.”
“Thế nào là trở ngại đối với vật đã được chỉ định? Ở đây, vật thực được chuẩn bị sau khi đã nhắm đến và chỉ định cho một người nào đó, rồi có người gây trở ngại cho vật ấy. Đây gọi là trở ngại đối với vật đã được chỉ định.”
‘‘Katamo upakkhaṭantarāyo? Idha yaṃ kiñci upakkhaṭaṃ hoti appaṭiggahitaṃ, tattha koci antarāyaṃ karoti, ayaṃ upakkhaṭantarāyo nāma.
“What is the obstacle to a prepared gain? It is when something has been prepared but not yet received, and someone creates an obstacle to it. This is called the obstacle to a prepared gain.”
“Thế nào là trở ngại đối với vật đã được dọn sẵn? Ở đây, bất cứ vật gì đã được dọn sẵn nhưng chưa được nhận lấy, có người gây trở ngại cho vật ấy. Đây gọi là trở ngại đối với vật đã được dọn sẵn.”
‘‘Katamo paribhogantarāyo? Idha yaṃ kiñci paribhogaṃ, tattha koci antarāyaṃ karoti, ayaṃ paribhogantarāyo nāma. Ime kho, mahārāja, cattāro antarāyā.
“What is the obstacle to a gain being used? It is when something is in the process of being used, and someone creates an obstacle to it. This is called the obstacle to a gain being used. These, great king, are the four kinds of obstacles.”
“Thế nào là trở ngại trong khi đang thọ dụng? Ở đây, bất cứ vật gì đang được thọ dụng, có người gây trở ngại cho vật ấy. Đây gọi là trở ngại trong khi đang thọ dụng. Tâu Đại vương, đây là bốn loại trở ngại.”
‘‘Yaṃ pana māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi, taṃ neva bhagavato paribhogaṃ na upakkhaṭaṃ na uddissakataṃ, anāgataṃ asampattaṃ adassanena antarāyaṃ kataṃ, taṃ pana nekassa bhagavato yeva, atha kho ye te tena samayena nikkhantā abbhāgatā, sabbepi te taṃ divasaṃ bhojanaṃ na labhiṃsu, nāhaṃ taṃ, mahārāja, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo tassa bhagavato uddissa kataṃ upakkhaṭaṃ paribhogaṃ antarāyaṃ kareyya. Sace koci issāya uddissa kataṃ upakkhaṭaṃ paribhogaṃ antarāyaṃ kareyya, phaleyya tassa muddhā satadhā vā sahassadhā vā.
“Now, when Māra the Evil One possessed the brahmins and householders in Pañcasāla, the gain in question was not something being used by the Blessed One, nor something prepared for him, nor something designated for him. An obstacle was created by unseen means to a gain that had not yet arrived, that had not yet been received. And this did not affect the Blessed One alone; rather, all those who had gone forth and arrived at that time received no food that day. I do not see anyone, great king, in this world with its gods, its Māras, and its Brahmās, in this generation with its ascetics and brahmins, its deities and humans, who could create an obstacle to a gain that was designated for the Blessed One, prepared for him, or being used by him. If anyone, out of jealousy, were to create an obstacle to a gain that was designated, prepared, or being used, their head would split into a hundred or a thousand pieces.”
“Việc Ác ma đã ám nhập vào các vị Bà-la-môn và gia chủ ở làng Pañcasāla, đó không phải là sự trở ngại đối với vật đang được Đức Thế Tôn thọ dụng, không phải vật đã được dọn sẵn, cũng không phải vật đã được chỉ định. Sự trở ngại đã được tạo ra đối với vật chưa đến, chưa tới, chưa thấy. Hơn nữa, việc đó không chỉ xảy ra với một mình Đức Thế Tôn, mà tất cả những vị đã ra đi khất thực và những vị đã đến vào lúc ấy, tất cả các vị ấy vào ngày đó đều không nhận được vật thực. Tâu Đại vương, ta không thấy một ai trong thế gian cùng với chư thiên, ma vương, phạm thiên, trong chúng sanh cùng với sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, có thể gây trở ngại cho vật đã được chỉ định, đã được dọn sẵn, hoặc đang được thọ dụng của Đức Thế Tôn ấy. Nếu có ai do lòng ganh tỵ mà gây trở ngại cho vật đã được chỉ định, đã được dọn sẵn, hoặc đang được thọ dụng, đầu của người ấy sẽ vỡ ra thành trăm mảnh hay ngàn mảnh.”
‘‘Cattārome, mahārāja, tathāgatassa kenaci anāvaraṇīyā guṇā. Katame cattāro? Lābho, mahārāja, bhagavato uddissa kato upakkhaṭo na sakkā kenaci antarāyaṃ kātuṃ; sarīrānugatā, mahārāja, bhagavato byāmappabhā na sakkā kenaci antarāyaṃ kātuṃ; sabbaññutaṃ, mahārāja, bhagavato ñāṇaratanaṃ na sakkā kenaci antarāyaṃ kātuṃ; jīvitaṃ, mahārāja, bhagavato na sakkā kenaci antarāyaṃ kātuṃ. Ime kho, mahārāja, cattāro tathāgatassa kenaci anāvaraṇīyā guṇā, sabbepete, mahārāja, guṇā ekarasā arogā akuppā aparūpakkamā aphusāni kiriyāni. Adassanena, mahārāja, māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
“Great king, there are these four qualities of the Tathāgata that cannot be obstructed by anyone. What are the four? A gain, great king, that has been designated for and prepared for the Blessed One cannot be obstructed by anyone. The fathom-long radiance that follows the body of the Blessed One, great king, cannot be obstructed by anyone. The all-knowing jewel of wisdom of the Blessed One, great king, cannot be obstructed by anyone. The life of the Blessed One, great king, cannot be obstructed by anyone. These, great king, are the four qualities of the Tathāgata that cannot be obstructed by anyone. All these qualities, great king, are of a single essence, free from affliction, unshakeable, unassailable by others, and their workings are intangible. Hiding himself from sight, great king, Māra the Evil One possessed the brahmins and householders in Pañcasāla.”
“Tâu Đại vương, có bốn đức tính này của Như Lai không thể bị ai ngăn cản. Bốn điều đó là gì? Tâu Đại vương, lợi lộc đã được chỉ định, đã được dọn sẵn cho Đức Thế Tôn, không ai có thể gây trở ngại được; Tâu Đại vương, hào quang một tầm tỏa ra từ thân của Đức Thế Tôn, không ai có thể gây trở ngại được; Tâu Đại vương, trí tuệ toàn giác quý báu của Đức Thế Tôn, không ai có thể gây trở ngại được; Tâu Đại vương, mạng sống của Đức Thế Tôn, không ai có thể gây trở ngại được. Tâu Đại vương, đây là bốn đức tính của Như Lai không thể bị ai ngăn cản. Tâu Đại vương, tất cả những đức tính này đều có cùng một bản chất, không bệnh hoạn, không thể bị phá hoại, không thể bị người khác xâm phạm, là những hành động không thể bị chạm đến. Tâu Đại vương, Ác ma đã ẩn mình, không để bị thấy, mà ám nhập vào các vị Bà-la-môn và gia chủ ở làng Pañcasāla.”
‘‘Yathā, mahārāja, rañño paccante dese visame adassanena nilīyitvā corā panthaṃ dūsenti. Yadi pana rājā te core passeyya, api nu kho te corā sotthiṃ labheyyu’’nti? ‘‘Na hi, bhante, pharasunā phālāpeyya satadhā vā sahassadhā vā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
“Just as, great king, in a king’s border region, in a rugged place, thieves lie hidden unseen and spoil the road. If the king were to see those thieves, would they find safety?” “Certainly not, venerable sir. He would have them split into a hundred or a thousand pieces with an axe.” “Even so, great king, Māra the Evil One, hiding unseen, possessed the brahmins and householders in Pañcasāla.”
“Tâu Đại vương, ví như ở vùng biên địa hiểm trở của đức vua, bọn cướp ẩn mình, không để bị thấy, mà phá hoại đường đi. Nhưng nếu đức vua thấy được bọn cướp ấy, liệu bọn cướp ấy có được an toàn không?” “Tâu Đại đức, không thể được. Nhà vua sẽ cho chẻ đầu chúng ra thành trăm mảnh hay ngàn mảnh bằng búa.” “Cũng vậy, tâu Đại vương, Ác ma đã ẩn mình, không để bị thấy, mà ám nhập vào các vị Bà-la-môn và gia chủ ở làng Pañcasāla.”
‘‘Yathā vā pana, mahārāja, itthī sapatikā adassanena nilīyitvā parapurisaṃ sevati, evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi. Yadi, mahārāja, itthī sāmikassa sammukhā parapurisaṃ sevati, api nu kho sā itthī sotthiṃ labheyyā’’ti? ‘‘Na hi, bhante, haneyyāpi taṃ, bhante, sāmiko vadheyyāpi bandheyyāpi dāsittaṃ vā upaneyyā’’ti. ‘‘Evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi. Yadi, mahārāja, māro pāpimā bhagavato uddissa kataṃ upakkhaṭaṃ paribhogaṃ antarāyaṃ kareyya, phaleyya tassa muddhā satadhā vā sahassadhā vā’’ti. ‘‘Evametaṃ, bhante nāgasena, corikāya kataṃ mārena pāpimatā, nilīyitvā māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi. Sace so, bhante, māro pāpimā bhagavato uddissa kataṃ upakkhaṭaṃ paribhogaṃ antarāyaṃ kareyya, muddhā vāssa phaleyya satadhā vā sahassadhā vā, kāyo vāssa bhusamuṭṭhi viya vikireyya, sādhu, bhante nāgasena, evametaṃ tathā sampaṭicchāmī’’ti.
“Or just as, great king, a woman with a husband might hide and, unseen, consort with another man, so too, great king, Māra the Evil One hid and, unseen, entered into the brahmin householders of Pañcasāla. If, great king, a woman were to consort with another man in her husband’s presence, would that woman obtain safety?” “No, venerable sir. Her husband might strike her, kill her, bind her, or reduce her to slavery.” “Just so, great king, Māra the Evil One hid and, unseen, entered into the brahmin householders of Pañcasāla. If, great king, Māra the Evil One were to obstruct the requisites made for, prepared for, and to be used by the Blessed One, his head would split into a hundred or a thousand pieces.” “Indeed, venerable Nāgasena, it was done deceitfully by Māra the Evil One. Hiding, Māra the Evil One entered into the brahmin householders of Pañcasāla. If, venerable sir, that Māra the Evil One were to obstruct the requisites made for, prepared for, and to be used by the Blessed One, his head would split into a hundred or a thousand pieces, or his body would be scattered like a handful of chaff. Excellent, venerable Nāgasena, I accept it just so.”
– Tâu Đại vương, ví như có người phụ nữ đã có chồng, lén lút ẩn mình để giao du với người đàn ông khác. Tâu Đại vương, cũng vậy, ác ma đã lén lút ẩn mình để ám nhập vào các vị Bà-la-môn và gia chủ ở làng Pañcasāla. Tâu Đại vương, nếu người phụ nữ ấy giao du với người đàn ông khác ngay trước mặt chồng, liệu người phụ nữ ấy có được bình an không? – Thưa ngài, không thể được. Thưa ngài, người chồng có thể đánh đập, có thể giết, có thể trói, hoặc có thể bắt làm nô tỳ. – Tâu Đại vương, cũng vậy, ác ma đã lén lút ẩn mình để ám nhập vào các vị Bà-la-môn và gia chủ ở làng Pañcasāla. Tâu Đại vương, nếu ác ma gây trở ngại cho vật thí thực đã được dâng cúng, đã được chuẩn bị, đã được thọ dụng dành cho đức Thế Tôn, thì đầu của nó sẽ vỡ ra trăm mảnh, nghìn mảnh. – Thưa ngài Nāgasena, sự việc là như vậy. Việc ác ma làm là do lén lút. Ác ma đã lén lút ẩn mình để ám nhập vào các vị Bà-la-môn và gia chủ ở làng Pañcasāla. Thưa ngài, nếu ác ma ấy gây trở ngại cho vật thí thực đã được dâng cúng, đã được chuẩn bị, đã được thọ dụng dành cho đức Thế Tôn, thì đầu của nó sẽ vỡ ra trăm mảnh, nghìn mảnh, hoặc thân của nó sẽ tan rã như nắm trấu. Lành thay, thưa ngài Nāgasena, con xin chấp nhận sự việc này đúng như vậy.
Buddhalābhantarāyapañho pañcamo.
The Fifth Question on Obstacles to the Buddha’s Gains.
Câu hỏi thứ năm về sự trở ngại đối với vật thí thực của đức Phật.